DÒNG SỬ VIỆT

BÀI SOẠN CỦA : PHAN CÔNG THẠNH

GốC TÍCH NGƯỜI VIỆT

HỌ HỒNG BÀNG

Lịch sử nước ta thời cổ đại,không có một trang nào viết lại một cách cụ thể cả,mà chỉ dựa vào những truyền thuyết và dã sử.Là thế hệ hậu bối,chúng ta cũng chỉ hiểu theo cách hiểu của tiền nhân như vậy mà thôi. Lịch sử dân tộc Việt bắt đầu kể từ: HỌ HỒNG BÀNG, được tính từ năm 2879-258 tr.Tây lịch.

Theo ông Trần Trọng Kim,tác giả Việt-Nam sử lược đã ghi lại dựa trên truyền thuyết như sau. Theo tục truyền thì vua Đế Minh,cháu ba đời của vua Thần Nông,đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ ) gặp một nàng tiên,lấy nhau sinh ra một người con trai đặt tên là Lộc Tục. về sau vua Đế Minh truyền ngôi lại cho người con trưởng là Đế Nghi làm vua ở phương Bắc.Và phong cho Lộc Tục làm vua ở Phương Nam,xưng là Kinh Dương Vương,quốc hiệu là Xích Quỉ.

Lãnh thổ của quốc gia dưới thời Kinh Dương Vương rộng lớn, phía Bắc tới Sông Dương Tử ( Động Đình Hồ, tức Hồ Nam) phía Nam giáp với nước Hồ Tôn (Chiêm Thành) phía Đông giáp biển Nam Hải (một phần của Thái Bình Dương) phía Tây giáp với Ba Thục (Tứ Xuyên thuộc đất Trung Hoa ngày nay).

Sau nầy chúng ta thấy người Việt chỉ có mặt trên phần đất của Miền Bắc Việt Nam bây giờ,tình trạng trên,có thể là do sự lấn chiếm của các nhóm người thuộc các bộ tộc người Hoa Hạ phương Bắc Trung Hoa.

Nước Xích Quỉ được cai trị ít nhất là 18 đời Hùng Vương và theo nghiên cứu về sử học của ông Hồ Bạch Thỏa được liệt kê như sau:

  1. Lục Dương Vương ( tức là Kinh Dương Vương)

  2. Hùng hiển Vương ( tức Lạc Long Quân)

  3. Hùng quốc Vương

  4. Hùng Diệp Vương ( hiệu là Nghi)

  5. Hùng hy Vương

  6. Hùng huy Vương ( Hiệu là Hoa có sự tích Bánh Chưng,bánh Dầy)

  7. Hùng chiêu Vương ( Hiệu là Vĩ)

  8. Hùng vĩ Vương ( Hiệu là Chiêu)

  9. Hùng Định Vương ( Hiệu là Ninh)

  10. Hùng uy Vương

  11. Hùng trinh Vương

  12. Hùng vũ Vương

  13. Hùng Việt Vương

  14. Hùng anh Vương ( Hiệu là Đinh vương)

  15. Hùng triều Vương

  16. Hùng tạo Vương

  17. Hùng nghi Vương

  18. Hùng tuyên Vương. ( Duệ vương).

Như vậy ta thấy Thủy tổ của dân tộc Việt Nam là Kinh Dương Vương.( hiện còn có mộ tại làng An Lữ,Thuận Thành,tỉnh Bắc Ninh). Kinh Dương Vương làm vua vào khoảng năm Nhâm Tuất ,tức trước công nguyên 2.000 năm. Kinh Dương Vương lấy con gái của Thần Long làm vua tại Hồ Động Đình,sinh được người con trai là Sùng Lãm,sau nối ngôi cha lấy hiệu là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân cưới con gái của vua Đế Lai là Âu Cơ,sinh ra một bọc trứng,mà bọc trứng ấy lại nở ra 100 người con trai,như vậy tất cả 100 người ấy đều là tổ tiên của người Bách Việt.

Một hôm nhà Vua nói với vợ là bà Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng,nàng là giống Tiên,thủy hỏa khắc nhau,chung hợp thật khó”.Họ bèn phải từ biệt nhau,chia 50 người con theo mẹ lên núi, 50 người con theo cha tiến về phương Nam là vùng biển,Rồi phong cho người con trưởng làm vua là Hùng Vương mà nối ngôi cha.Hùng Vương lên ngôi đặt quốc hiệu là Văn Lang,đóng đô ở Phong Châu ( Bạch Hạt,Phú Thọ) rồi chia nước ra làm 15 bộ. Các đời vua sau cũng đều gọi là Hùng Vương ( theo như danh sách được ghi lại bên trên). Đặt các tướng văn gọi là Lạc Hầu,tướng Võ gọi là Lạc Tướng, con trai gọi là Quan lang,con gái gọi là Mỵ Nương,các quan nhỏ gọi là Bồ Chánh.

Nhà nước Văn Lang thuộc các đời vua Hùng,là các nhà nước phôi thai đầu tiên của nước Việt,bộ máy cai trị còn rất đơn giản,Mặc dù mới hình thành nhưng đã cố kết được lòng người. Tạo nên cái tình cảm công đồng,thể hiện rõ tình “Đồng Bào” ruột thịt. Là bước đầu mà con người hiểu được mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người,thấy được sức mạnh của cộng đồng trong các công việc làm thủy lợi,trao đổi các sản phẩm cùng việc đấu tranh giữ gìn bản sắc dân tộc..giữ gìn bản làng và đất nước.

Trong thời kỳ thuộc các đời Hùng Vương có sự kiện lớn xảy ra được lưu truyền đến nay:

Thứ nhất là TỤC VẼ MÌNH.

Người Việt ta lúc bấy giờ đang cư ngụ trên đất liền hay những vùng rừng núi,thấy sông ngòi,biển cả và các nơi khe suối có nhiều tôm cá, rủ nhau đi bắt cá để làm lương thực mà ăn, nên thường bị thuồng luồng làm hại.Họ đến thưa với nhà vua về trường hợp nầy.Nhà Vua nói: Người Nam ở núi khác với các loài Thủy tộc. Các Thủy tộc ấy ưa cùng loài mà ghét giống khác loài,cho nên con người mới bị chúng làm hại.Rồi vua bảo mọi người lấy mực mà vẽ lên mình các loài thủy quái,để thủy quái tưởng lầm mà không hại nữa. Tục vẽ mình của người Bách Việt bắt đầu có từ đó.Hiện nay trên mũi các ghè chài,dân chài còn vẽ hai con mắt.

Thứ hai : PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG;

Vào đời Hùng Vương thứ sáu,ở Hương Phù Đổng,Bộ Vũ Ninh, có một gia đình nhà giàu,sinh được một người con trai,đến năm hơn ba tuổi,ăn uống béo lớn nhưng không biết cười nói . Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp giặc Ân xâm chiếm. Nhà vua sai người đi khắp nhân gian tìm người có tài ra đánh giặc,cứu nước.Ngay hôm ấy đứa trẻ tự nhiên bổng nói được, rồi bảo mẹ ra mời sứ giả vào,mà nói: Sứ giả hãy về thưa với nhà vua: Xin vua đúc cho một con ngựa sắt,và một con roi sắt,như vậy là nhà vua không phải lo gì cả. Sứ giả về thưa,nhà vua liền thực hiện các điều yêu cầu đó.

Khi đã nhận được các vật yêu cầu,đứa trẻ liền nhảy lên lưng ngựa, rồi tự nhiên cao to trở thành một một kiện tướng phi thường. Con người phương phi nầy vung gươm mà tiến về phía trước,quan quân theo sau mà đánh tan quân giặc Ân ở chân núi Vũ Ninh. Quân giặc tự quay giáo mà đâm chém lẫn nhau,chết nhiều vô kể.còn một số sống sót đều rạp lạy,tôn gọi con người ấy là Thiên Tướng mà đều đến xin hàng cả. Sau khi đánh tan giặc Ân,đứa trẻ liền phi ngựa mà bay về trời tại núi Tản Viên.Nhà vua sai lập đền thờ tại núi Tản Viên để tuế thời cúng tế mà gọi là PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG. Về sau vào đời nhà Lý,vua Lý Thái Tổ cho lập bàn thờ cạnh chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng để thờ phượng và phong là: Xung Thiên Thần Vương.

Sự kiện thứ ba: HIẾN CHIM BẠCH TRĨ.

Không rõ là vào đời Hùng Vương thứ mấy.Bên Tàu là vào đời Nhà Chu vua Thành Vương (1063-1026 TCN),nước ta sang thăm nhà Chu,lúc bấy giờ nhà nước ta xưng là Việt Thường Thị,đem hiến cho vua nhà Chu chim trĩ trắng,gọi là Bạch Trĩ. Chu Công nói “Chính lệnh không thi hành, thì người quân tử không bắt được kẻ khác thần phục mình,đức trạch không mở rộng thì người quân tử không hưởng lễ vật của người” Còn nhớ Hoàng Đế có câu thề rằng: “Đất Giao chỉ ở ngoài cõi, không được xâm phạm” Bèn ban thưởng phẩm vật cho sứ giả,cùng những lời dặn dò,bảo ban mà cho về. Người họ Việt Thường quên đường về,Chu công bè ban cho năm cỗ xe to,đều có kim chỉ nam.Người Việt Thường nhận lấy rồi theo bờ biển Phù Nam,Lâm Ấp,đi một năm thì về tới nước. Cho nên xe chỉ nam thường dùng để đi trước mà dẫn đường.

Câu chuyện vào một niên đại xa xôi ít được ghi chép lại rõ ràng,cho nên phần lớn là do người đời sau suy diễn chủ quan theo ý mình mà viết nên.Mặc dầu vậy, trong Lĩnh Nam Chích Quái,câu chuyện về Chim bạch trĩ và người Việt Thường vẫn được ghi chép lại.

Sự kiện thứ tư: SỰ TÍCH SƠN TINH,THỦY TINH.

Cuối đời Hùng Vương,vua Hùng có người con gái dung mạo đẹp tuyệt trần,tên là Mỵ Nương.Nhà Vua Thục nghe tiếng đồn liền sai người đến cầu hôn.Nhà vua muốn gả,nhưng Hùng hầu can rằng: “Là họ muốn chiếm nước ta, chỉ lấy việc hôn nhân làm cớ mà thôi”. Thục Vương vì chuyện ấy mà để bụng oán giận. Sau đó,nhà Vua,muốn tìm người xứng đáng đễ gả,mà bảo các bề tôi rằng: “Đứa con gái nầy là giống tiên ,người nào có đủ tài đức mới cho làm rể”. Lúc bấy giờ có hai chàng thanh niên từ bên ngoài,đến lạy dưới sân rồng để xin cầu hôn. Nhà vua lấy làm lạ,hỏi thì họ thưa rằng một người là Sơn Tinh, và một người nữa là Thủy Tinh đều ở trong cõi cả, nghe nhà vua có thánh nữ đánh bạo đến xin lãnh mệnh. Nhà vua nói: “Ta chỉ có một người con gái,lẽ nào lại được hai rể hiền?” Bèn hẹn đến ngày hôm sau,ai đem đủ sính lễ đến trước thì gả cho người ấy.

Hai người vâng lời,lạy tạ rồi ra về. Hôm sau Sơn Tinh đem các đồ châu báu,vàng bạc,chim muông, thú rừng đến dâng.Nhà Vua y hẹn gả con gái cho Sơn Tinh. Sơn Tinh đón vợ về trên núi cao Tản Viên. Thủy tinh cũng mang lễ vật quí báu lấy từ biển cả đến,nhưng lại đến sau, nên giận tiếc là không lấy được vợ,để hả cơn tức giận,Thủy tinh bèn cho kéo mây mà làm mưa,dâng nước tràn ngập,đem các loài thủy tộc đuổi theo.Nhà Vua cùng với Sơn Tinh cho lấy lưới sắt chắn ngang sông Từ Liêm để chặn nước. Thủy Tinh lại theo một dòng sông khác từ Ly Nhân vào chân núi Quảng Oai rồi theo dọc bờ mà lên cửa sông Hát,ra sông lớn mà rẽ vào sông Đà để đánh Tản Viên. Nơi nơi đều đào sâu thành vực, thành chằm, chứa nước để mưu việc đánh úp. Nhưng Sơn Tinh có phép thần biến hóa,gọi người man tre ra làm rào chắn nước,dùng nỏ bắn xuống,các loài có vảy, và có vỏ cứng bị trúng tên đều chạy trốn cả. Rốt cuộc Thủy tinh không thể xâm phạm được núi Tản Viên.

Từ đấy tại nước ta có tục truyền về câu chuyện “Sơn Tình và Thủy Tinh” đời đời thù oán nhau, nên mỗi năm thường có những trận mưa to gây ra lụt lội làm khổ cho người dân.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Thời Hùng Vương,đặt chư hầu để làm phên dậu.,chia nước ra làm 15 bộ.Ở 15 Bộ ấy đều có Trưởng và Tá.Nhà Vua theo thứ bậc mà cắt đặt các con thứ để cai trị. Nói là 50 con theo mẹ về núi,làm sao biết không phải là như thế? Vì mẹ làm quân trưởng,các con mỗi người làm chúa một phương.Cứ xem như Tù trưởng người Man ngày nay xưng ,là Nam phụ Đạo., Nữ phụ Đạo (….) thành chữ phụ Đạo (….) thì có lẽ đúng như thế. Còn về tích Sơn Tinh,Thủy Tinh thì khá là quái dị, tuy nhiên vì sách đã viết nên cũng phải ghi lại cho đúng để lưu truyền mà làm vui cho con cháu mà thôi.

Từ đời Kinh Dương Vương trở lên được gọi là Hồng Bàn Thị mà Kinh Dương Vương được phong năm Nhâm Tuất, là cùng thời với Đế Nghi,truyền đến cuối đời vua Hùng,tức là ngang với đời Noãn Vương nhà Chu thứ 57 [258 TCN] tức năm Quý Mão là hết.Như vậy có tất cả là 2.622 năm [2879-258 TCN].
( ghi lại dựa vào Việt Nam sử lược cùng nhiều tài liệu trên mạng xã hội).

_______________________________

C H Í N H S Ử V I Ệ T .

Bài số 1: T AI H Ọ A Đ Ế N T Ừ C H I Ế C Á O C H O À N G L Ô N G N G Ỗ N G

Vào thời thượng cố cách nay khoảng gần 2300 năm,vua nước Âu Lạc là Thục Phán,xưng hiệu là An Dương Vương,nhà vua Âu Lạc có nàng công chúa thật xinh đẹp tên là Mỵ Châu.Vua nước láng giềng muốn chiếm nước Âu Lạc,nhưng vua nước Âu Lạc có một loại nỏ thần do thần Kim Qui bang tặng,mỗi lần bắn ra nhiều ngàn mũi tên và rất chính xác,nhờ vậy nước Âu Lạc luôn luôn thắng quân giặc một cách dễ dàng.

Ỷ vào sức mạnh từ loại nỏ thần,nên nhà vua lại lơ là trong việc đề phòng quân giặc. Vua nước láng giềng là Triệu Đà,nhiều lần muốn đánh chiếm nước Âu Lạc,nhưng rất kiên sợ chiếc nỏ thần của vua An Dương Vương,vì vậy Triệu Đà phải dùng kế để lấy cho bằng được chiếc nỏ thần.Triệu Đà cho người sang cầu thân với vua An Dương Vương,hỏi công chúa Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thủy,và với lời giao ước cho Trọng Thủy được ở rể.Khi gặp được Trọng Thủy,cũng như lúc Trọng Thủy nhìn thấy được Mỵ Châu,đôi trai tài gái sắc nầy đã đem lòng yêu nhau tha thiết. Tuy nhiên âm mưu mà Triệu Đà giao cho Trọng Thủy là phải lập kế ăn cắp cho bằng được chiếc nỏ thần, để Triệu Đà mới có thể đánh thắng mà xâm chiếm nước Âu Lạc,tuy yêu vợ một cách thật tình,Trọng Thủy yêu Mỵ Châu bằng hết tấm lòng say đắm,tuy vậy cái trách nhiệm mà cha chàng giao phó thì Trọng Thủy không thể quên.

Lợi dụng sự thật lòng của Mỵ Châu,bên cạnh sự không đề phòng chàng rể của Thục An Dương Vương,Trọng Thủy lẻn vào kho ăn cắp cây nỏ thần của nhà vua, để thay vào đó một cây nỏ giả,nhưng được chế tạo giống hệt cây nỏ thật.

Khi đã lấy và dấu được cây nỏ thật ấy rồi,Trọng Thủy lại phải nói lời tạm chia tay với Mỵ Châu, và cả vua An Dương Vương để về nước thăm cha,cả nhà vua và cả Mỵ Châu đều không nghi ngờ gì cả lại rất vui vẻ mà tiễn chân chàng rể lên đường. Lúc ra đi Trọng Thủy còn nói với Mỵ Châu: Nếu rủi đất nước có chiến tranh nàng phải chạy trốn ,chàng sẽ phải tìm nàng bằng cách nào? Mỵ Châu thật tình mà dặn chồng,nếu rủi có chuyện ấy xảy ra,nàng có chiếc áo bào lông ngỗng, nàng sẽ bứt ra và bỏ dọc theo đường đi,để chàng theo dấu mà tìm.

Trọng Thủy đã biết trước điều mà chiến tranh phải xảy ra một khi chàng đã chiếm được nỏ thần. Và chỉ một thời gian sau đó không lâu, thì chiến tranh thật sự đã xảy ra.Vua An Dương Vương cứ yên chí vì có nỏ thần nên không lo gì, lúc đã bị quân của Triệu Đà vây hãm đến thế nguy ngập.Nhà vua mới đem nỏ thần ra xử dụng trong việc chống giặc,nhưng hỡi ôi,chiếc nỏ không còn hữu hiệu như trước,vì là chiếc nỏ dã,do vậy mà nước Âu Lạc đã bị triệu Đà xâm chiếm.

Vua An Dương Vương đã thoát ra được bên ngoài,lên lưng ngựa mà đào tẩu,tuy nhiên nhà vua không bao giờ quên cô con gái cưng của mình,nên để cho cô ngồi sát sau lưng mình mà dục ngựa chạy. Nhớ lời hẹn ước với chồng,Mỵ Châu cứ dùng tay rứt lông ngỗng nơi chiếc áo mà bỏ dọc theo đường. Khi đã chiếm được thành của Âu Lạc,Trọng Thủy nhớ lại theo lời dặn của vợ,chàng theo dấu lông ngỗng mà đuổi theo,mục đích là cố phải gặp cho bằng được Mỵ Châu, vì Trọng Thủy rất yêu Mỵ Châu,và yêu một cách thật lòng.

Tuy đã chạy hết một khoảng đường dài với một thời gian rất lâu,nhưng vó ngựa nhà vua càng chạy,khi ngoảnh lại nhìn vẫn thấy quân giặc cứ đuổi theo, vua cha phải cất tiếng than tại sao giặc lại cứ đuổi theo mãi như vậy thì làm sao mà tránh cho được.Khi dứt tiếng than trách ấy,nhà vua lại nghe văng vẳng bên tai tiếng thần Kim Qui nói,giặc đang ngồi sau lưng nhà ngươi đó.ngoảnh lại thì thấy Mỵ Châu đang rứt lông ngỗng bỏ theo dọc đường làm dấu.Nhà vua vừa lo lắng vừa tức giận,nên liền rút gươm mà chém đứt đầu đứa con gái. Xác Mỵ Châu rơi xuống bên vệ đường,máu loan thấm ướt cả một vùng gồm cả mọi hòn sõi nơi đó phải đỏ máu tươi.

Khi đã chém chết đứa con gái cưng của mình,nhà vua buồn vô kể, vó ngựa vẫn cứ lại phi,ngựa đã phi đến một bờ biển phía trước về phương nam, đến đây thì đã tắt đường đi,bên cạnh cái buồn vì đã mất nước,mất cả đứa con gái rượu của mình,vì vậy mà nhà vua không cầm lòng nỗi nên lại gieo mình xuống biển mà tự vận, là cũng để chứng tỏ một hành động thể hiện sự ân hận đối với một vị vua bị bại trận,và cũng để thể hiện được tinh thần gọi là đền nợ nước.

Trọng Thủy phi ngựa đến một đoạn khá xa,thì thấy xác Mỵ Châu bị chém chết nằm bên vệ đường,chàng xuống ngựa ôm xác vợ vào lòng mà than khóc,hành động trên chứng tỏ chàng rất là yêu thương Mỵ Châu,nhưng đã muộn màng vì họ đều đã bị cuốn vào vòng xoáy của thời cuộc, nên chàng phải xa nàng dẫn đến cái bị kịch Mỵ Châu phải chết một cách đau đớn, Trọng Thủy đã mất đi người vợ yêu quý nhất đời. Số mệnh trớ trêu đã tạo nên cái buồn vạn cỗ ập đến ngoài dự tính của cả hai người là như vậy,Trọng Thủy cũng không còn đủ sức chịu đựng được nữa,nên sẵn có cái giếng bên đường,quá buồn chàng đã gieo mình xuống giếng để tìm sự gặp gỡ lại Mỵ Châu ở thế giới bên kia.Như vậy chiếc nỏ thần mà Triệu Đà đã dùng đủ mưu mẹo đã chiếm được, tuy có chiếm được nước Âu Lạc đúng theo ý nguyện,nhưng Triệu Đà đã mất đi người con trai yêu quý của mình,bên cạnh là người con dâu đoan trang hiền thục nữa. Như vậy cái được do từ sự toan tính bất chính ấy,lại gây ra cái mất mát thật không tương xứng, theo cách nhìn của người đời.

Về sau người dân địa phương,người ta thấy những viên sỏi bị vấy máu,lấy những viên sỏi ấy đem rửa bằng nước giếng nơi mà Trọng Thủ trầm mình,những viên sỏi ấy lại sáng rực ra mà hóa thành những viên ngọc quí.Như vậy cái tình yên thủy chung của Trọng Thủy,Mỵ Châu đã chứng tỏ nó trong sáng như là những viên ngọc,tình yêu ấy không tì vết,không hoen ố chỉ bị cái vòng xoáy của thời cuộc đẩy họ vào cái thế phải hy sinh, mặc dầu người đời của thế tục đã vùi chôn thân xác họ một cách kín đáo vào lòng đất.

Về sau qua câu chuyện nầy,để nhớ lại kinh đô của nước Âu Lạc cổ đại, đó là nơi kinh đô đầu tiên của dòng Âu Lạc, là nơi mà tổ tiên của giòng giống Lạc Việt gởi gắm phần tâm linh, thế gian có bài thơ nhắc nhở đến mọi người,hãy nhớ về nơi kinh đô đầu tiên ấy của nước ta như sau:

Ai về qua huyện Đông Anh

Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương

Cổ Loa thành ốc khác thường

Trải bao năm tháng dấu thành còn đây.

________________________________________________

Bài thứ 2: C U Ộ C K H Ở I N G H Ĩ A C Ủ A H A I B À T R Ư N G

(nổ ra năm 40-43 chống ách đô hộ nhà Hán)

Cuối đời nhà Triệu (Triệu Đà),nước Nam Việt suy yếu,Triệu Dương Vương tên là Kiến Đức mới lên ngôi vua được 1 năm,thì bị vua Vũ Đế nhà Hán,sai Phục Ba tướng quân và Lộ Bác Đức cùng Dương Bộc đem 5 đạo quân sang đánh lấy nước Nam Việt của Triệu Đà, mà lúc bấy giờ là Kiến Đức làm vua,hiệu là Triệu Dương Vương.năm ấy là năm 111 trước công nguyên.Triệu Dương Vương là con cháu của Triệu Đà,nhưng mẹ ông là người Việt.Do vậy có quan thái phó là Lữ Gia (người Việt) ra chống giặc, nhưng thế giặc quá mạnh, chống không nổi bèn phải đem Dương Vương chạy,nhưng không thoát được nên bị quân nhà Hán đuổi theo bắt được, do vậy mà cả vua tôi đều bị hại cả.

Sau khi chiếm được nước Nam Việt,nhà Hán cho cải đổi thành Giao Chỉ bộ,và chia ra làm 9 quận,rồi đặt quan cai trị như các châu quận bên Tàu. Các châu quận mới gồm :

  1. Nam Hải ( Quảng Đông)

  2. Hợp Phố ( Quảng Đông)

  3. Uất Lâm ( Quảng Tây)

  4. Quế Lâm (Quảng Tây)

  5. Giao Chỉ (

  6. Cửu Chân ( Bắc Việt và các tỉnh phía bắc Trung Việt)

  7. Nhật Nam (

  8. Châu Nhai ( Đảo Hải Nam)

  9. Đạm Nhĩ ( Đảo Hải Nam)

Mỗi quận có quan Thái Thú coi việc cai trị và có quan Thứ Sử để giám sát các Quận. Vào đầu thế kỷ thứ nhất sau công nguyên,có hai người sang làm Thái thú trị dân nhưng rất có nhân tính: Một người làm Thái Thú Giao Chỉ tên là Tích Quang,một người làm Thái Thú Cửu Chân tên Nhâm Diên.Vào thời kỳ nầy,dân thuộc hai quận trên chỉ biết làm nghề chài lưới và săn bắn,không biết về nông tang,nên hai ông quan Tàu nầy đã dạy cho dân dùng cày bừa mà khai khẩn ruộng đất để canh tác,nhờ vậy mà dân chúng mới có đủ thóc gạo để ăn,bên cạnh đó dạy dân các nghi lễ về cưới hỏi trong các lễ nghi lấy vợ,gã chồng.

Hai ông quan nầy chỉ làm quan cai trị được 4 năm thì được thăng chức, nên phải về lại Tàu đi làm quan nơi khác.Người dân nhớ ơn các ông, nên khi sinh con ra thường lấy tên Nhâm để đặt tên cho con mình,sự ái mộ ấy về sau dân chúng đặt bàn thờ để thờ các ông và để tỏ lòng biết ơn.

Sau đó vua Quang Vũ nhà Đông Hán lại sai Tô Định sang thay thế làm Thái Thú quận Giao Chỉ,. Tô Định là một tên bạo ngược,chính trị thì tàn ác,năm 40 lập mưu giết Thi Sách chồng bà Trưng Trắc,ông là con trai của Lạc Tướng Chu Diên (Nam Hà) là một người yêu nước có chí khí quật cường. Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai chi em gái con vị Lạc Tướng Mê Linh (Vĩnh Phúc).Có quan hệ bên ngoại rất gần với dòng dõi Hùng Vương. Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai phụ nữ đảm đang,là những người yêu nước,có chí khí quật cường.Chồng bị quan nhà Hán là Tô Định giết chết,đã gây cho bà một sự oán hận tột cùng. Sự bạo ngược của Tô Định đã không làm cho bà nhụt chí,bà quyết tâm phải làm một cuộc khởi nghĩa để trả thù nhà, rửa hận cho nước.

Tháng 3 năm 40,Trưng Trắc cùng với người em gái là Trưng Nhị phát động cuộc khởi nghĩa tại nơi cửa sông Hát Giang (Hát Môn,Hà tây,nay thuộc thành Hà Nội). Nghĩa quân chóng làm chủ Mê Linh. Từ Mê Linh nghĩa quân tiến đánh Cổ Loa ( Đông Anh,Hà nội),rồi từ đó tiến về Luy Lâu (Thuận Thành,Bắc Ninh) là trung tâm của chính quyền đô hộ. Dưới sự lãnh đạo của hai bà,cuộc khởi nghĩa ở khắp bốn quận Cửu Chân,Nhật Nam,Giao Chỉ,Hợp Phố đã thống nhất thành một một phong trào nổi dậy rộng lớn trên cả nước Nam Việt. Bị dồn vào thế bất ngờ,chính quyền đô hộ bị tan rã, sụp đổ nhanh chóng.Quân Hán hoảng sợ phải bỏ hết của Cải,cả vũ khí,ấn tín chạy tháo về Tàu.Tô Định phải cắt tóc,cạo râu,giả thường dân xen lẫn vào đám tàn binh mà trốn chạy về Tàu.

Chỉ trong vòng không đầy một tháng cuộc khởi nghĩa đã hoàn toàn thắng lợi,giành lại nền độc lập cho dân tộc,sau hơn hai thế kỷ đã bị bọn xâm lược Tàu xâm chiếm và đô hộ. Trưng Trắc được tôn lên làm vua tức là Trưng Vương đóng đô ở Mê Linh ( Vĩnh Phúc). Nhưng chỉ được hai năm,quân Tàu lại xua quân sang tấn công,quân hai bà đã ít,mà thế lại cô,do vậy không cầm cự được nên phải bị thua. Hai bà khi chạy về đến sông Hát Giang,hai bà phải trầm mình mà tự vẫn, quyết không để lọt và tay giặc.

Xã hội thời bấy giờ đang chịu ảnh hưởng nặng với chế độ mẫu Hệ,từ đó cho ta thấy tướng quân của hai bà phần lớn là nữ giới,và đã có trên 100 vị nữ tướng như vậy và có thể liệt kê một số tượng trưng các vị nữ tướng đã góp phần tích cực trong cuộc kháng chiến cùng với hai bà :

( Hình hai bà Trưng cưỡi voi ra trận**)**:

Lê Chân: vị nữ tướng dũng mãnh, quê ở làng Đông Triều trấn Hải Dương (nay thuộc thôn An Biên,Đông Triều Tỉnh Quảng Ninh) khởi binh ở An Biên,Hải Phòng,bà có công lớn trong việc chiêu mộ cả quân lẫn binh lương cho nghĩa quân kháng chiến.Và bà được phong là Thánh Chân Công Chúa.

Bát Nàn (Vũ thị Thục): Vị nữ tướng vùng Phú thọ có công đánh dẹp và cai quản được một vùng rộng lớn,bà mang theo 700 nữ binh về phò tá hai bà Trưng và được hai bà phong là “Bát nàn Đại tướng quân,Uy viễn Đại tướng quân với danh hiệu là Trinh Thục công chúa”.

Tống vĩnh Huy: là con của núi rừng Yên Tử Đông Triều- Quảng Ninh, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Tiên Nha (Phú Thọ) bà có trận đánh thần kỳ dẹp tan đạo quân của Ngô Hán nhà Hán tại vùng Độ Khẩu (Vân Nam) Khúc Giang (Quảng Đông) và ngay tại đảo Hải nam Trung Quốc ngày nay.

Đình Nghênh Tiên: người xã Nguyệt Đức, Yên Lạc, Vĩnh Phúc,được phong làm đại tướng quân.Năm 20 tuổi bà dựng cờ khởi nghĩa ở Lũng Ngòi, Vĩnh Tường,Vĩnh Phúc, năm 21 tuổi bà theo về với Trưng Vương lãnh ấn Tả tướng Quân, phá tan các thành trì của giặc trên các vùng đất Trung du mênh mông, quét sạch giặc thù.Năm 22 tuổi được phong công chúa,bà có trận đánh đẹp mắt tại Gò May làm cho giặc Hán kinh hồn,chống với Mã Viện danh tướng nhà Hán cả một năm trời.Bà được Trưng vương phong là Ngọc Phượng Công Chúa Đại tướng quân.

Thiều Hoa: là một vị tướng tài đã đi sát cùng chủ tướng trong các trận đánh với quân Nam Hán đã thu hoạch được những kết quả to lớn.

Thánh Thiên ( nàng chủ) nữ tướng anh hùng vùng Bắc Giang/Hải Dương có công lớn trong việc giữ yên biên ải chống Mã Viện.Bà được bà Trưng phong là Thánh Thiên Công chúa,với chức Bình Ngô Đại tướng quân,đánh tan quân Mã Viện ở vùng Nam Hải ( Hải nam) và ở Hợp Phố, trận Lãng Bạc cùng với hai bà Trưng,và chặn đánh Mã Viện ngay ở Quỷ Môn Quan (Lạng Sơn) làm cho Mã Viện phải khốn đốn lui binh tìm đường về Âu Lạc.

.Hồ Đề : Nữ tướng xứ Võ Nhai (Thái Nguyên) nỗi bật với tinh thần yêu nước và ý chí chiến đấu kiên cường,khởi nghĩa từ động Lão Mai với ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm Đông Hán,giành độc lập cho quê hương.Bà được tôn xưng là Đề Nương công chúa, lãnh chức Phó Nguyên soái ,Trấn viễn đại tướng quân và được phong chức Thiên Sớ Đại Vương.Bà có người em trai cùng tham gia kháng chiến là Hồ Hác cũng là một danh tướng.

Nàng Quốc : Là Trung Dũng Đại tướng Quân, khởi nghĩa tại Gia Lâm Hà Nội.

Lê thị Hoa, Đàm ngọc Nga : 2 Nữ tướng vùng Kinh Bắc là tiền đạo tả tướng quân có công lao lớn trong cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm phương Bắc.

Ba chị em Đạm Nương, Hồng Nương,Thanh Nương khởi nghĩa ở Quất Lưu,Bình Xuyên,Vĩnh Phúc,mà Nàng Quỳnh,nàng Quế là tiên phong phó tướng.

Phật Nguyệt : (Thao giang Thượng là tả tướng thủy quân) khởi nghĩa ở Thanh Ba, Phú Thọ.

Nàng Nội : (Bạch Hạc Thủy công chúa) đã gây được nhiều thành tích trong các trận đánh ở Phú Thọ, bà là cháu gọi ông Thi Sách bằng chú.

Bộ ba Tam nương (Đạm nương,Hồng nương,Thanh nương). Khởi nghĩa ở Vĩnh Phúc

Cùng nhiều vị thủ lĩnh tại địa phương chỉ huy các đội quân tại các vùng miền,đã góp công rất lớn trong cuộc khởi nghĩa chống quân Đông Hán như Ngọc Phượng, Phương Dung,Nái Sơn. Sau khi mọi người đã hy sinh vì đại nghĩa trong công cuộc kháng chiến chống Hán để cứu nước,linh hồn các bà rất linh hiển,và được dân chúng suy tôn mà thờ phượng như là một vị thành hoàng tại rất nhiều địa phương nơi các miếu thờ trên khắp Miền Bắc Việt Nam hiện nay, để tỏ lòng kính trọng và ghi nhớ công lao của các bà.

Hình ảnh trên cho mọi người trong chúng ta thấy tinh thần yêu nước của người Việt là ngay từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất,người phụ nữ Việt cũng đã ý thức được quyền tự chủ của dân tộc, độc lập của tổ quốc,trong ý thức ấy những phụ nữ Việt đã hăng hái tỏ rõ chí quật cường,sẵn sàng đứng lên đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc giải phóng đất nước,nêu gương sáng cho muôn đời về sau để học tập.

_______________________________________________

Bài thứ 3: C U Ộ C K H Ở I N G H Ĩ A C Ủ A B À T R I Ệ U

( Xảy ra vào năm 248 công nguyên).

Cuộc khởi nghĩa của hai chị em bà Trưng vào năm 40-43 công nguyên tức đầu thế kỷ thứ nhất bị thất bại,người Tàu đã giành được ưu thế trong việc cai trị nước ta trải qua nhiều triều đại các nhà vua nước Tàu,và từ đó suốt một thời gian rất dài đến 205 năm sau, tức năm 248 ,dân Việt mới lại có một vị nữ tướng đứng lên kháng chiến giành độc lập cho dân tộc.Đó là cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu,bà có cái tên là Triệu Quốc Trinh.

Bà Triệu tên thật là Triệu thị Trinh,em ruột của ông Triệu Quốc Đạt,một thủ lĩnh có thế lực tại vùng Cửu Chân (thuộc huyện Triệu Sơn Thanh Hóa).

Vào thời kỳ thuộc về thế kỷ thư III công nguyên,tại nước Tàu vẫn còn đang bị phân chia trong thời Tam Quốc, tại Miền Đông nước Tàu thuộc quyền cai trị của Tôn Quyền nhà Đông Ngô .

Bà Triệu (226 – 248) bà tên thật là Triệu thị Trinh, là một trong những vị anh hùng dân tộc tiêu biểu trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của người Việt. Bà Triệu còn có tên gọi khác được gọi là: Triệu Trinh Nương, Triệu Quốc Trinh,Nhị Kiều Tướng quân hay Triệu Ẩu.Bà sinh ngày 2 tháng 10 năm 226 (Bính Ngọ)

Bà Triệu được sinh ra trong một gia đình hào trưởng tại vùng núi Quân Yên,quận Cửu Chân,nay thuộc làng Quân Yên xã Định Tiến, huyện Yên Định,tỉnh Thanh Hóa. Cha mẹ bà mất sớm bà sống với người anh trai là Triệu Quốc Đạt.Ngay từ thuở nhỏ bà đã lộ rõ khí chất hơn người,ý chí khẳng khái, giỏi võ nghệ.Khi trưởng thành bà nổi tiếng với câu nói đanh thép, thể hiện chí hướng của một người yêu nước:

Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh,đạp luồng sóng dữ,chém cá trường kình ở biển đông,đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn,cởi ách nô lệ,chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”.

(Hình ảnh Bà Triệu cưỡi voi ra trận)

( Nên có câu Ca dao*: Có coi lên núi mà coi / Coi bà quản tượng cưỡi voi bành vàng)*

Sự tích về bà Triệu: vào thuở thiếu thời của bà Triệu,từ thuở nhỏ bà đã tỏ ra có khí phách hơn người.Khi cha bà hỏi về chí hướng sau nầy của bà,thì bà đã rắn rỏi mà thưa rằng : “Lớn lên con sẽ đi đánh giặc như bà Trưng Trắc bà Trưng Nhị”. Khi lớn dần,bà Triệu đã trở thành một phụ nữ xinh đẹp,bà đã chuyên tâm học võ nghệ từ lúc còn nhỏ,nên lúc lớn lên bà rất giỏi võ.Tướng mạo bà lại khá kỳ lạ,thân hình cao to như một nam nhi ,nhưng sắc diện lại đẹp tuyệt trần của một phụ nữ con nhà giàu có.

Truyền thuyết được kể lại rằng lúc bấy giờ tại quê của bà có con voi trắng một ngà, thường hay ra phá phách ruộng,nương,làng xóm,cho đến cả cây cối mà không một ai trị nổi. Bà bèn hợp với các bạn bày mưu,dùng kế lừa voi đi xuống một bãi đầm lầy,rồi bà nhảy lên đầu voi,dùng búa đánh mà khuất phục nó.Voi to như vậy mà phải đầu hàng sự khống chế của bà. Từ đó về sau con voi một ngà lại trở thành người bạn chiến đấu trung thành,thân thiết nhất của bà.

Người phương Bắc luôn luôn xâm lược nước ta với bằng mọi mưu mô.Nhưng đến đời Đông Hán dưới triều đại Tôn Quyền, sự cai trị của quan lại nhà Đông Hán rất là hà khắc,bọn chúng thẳng tay cướp bóc tài sản của người dân Việt.Chúng còn bắt dân ta phải cống nộp cho chúng các thứ quí hiếm như trầm hương, ngọc trai, đồi mồi, cả đến ngà voi để chúng làm phẩm vật mà dâng cống cho vua Ngô. Với cách cai trị như vậy,đã làm đời sống dân chúng người Việt càng ngày càng điêu đứng.

Chứng kiến tình huống ấy,bà Triệu cũng như anh bà là ông Triệu Quốc Đạt cảm thấy quá đau lòng, khi chứng kiến cảnh cùng khổ của dân chúng Nam Việt,nên họ vô cùng căn giận bọn quan lại nhà Ngô. Lúc bà đã 16 tuổi, họ hàng theo khuyên bà: là con gái phải nên lấy chồng,nhưng bà khẳng khái trả lời “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh,đạp luồng sóng dữ,chém cá trường kình ở biển Đông,đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn,dựng cờ độc lập,cởi ách nô lệ,chứ đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”.

Với chí lớn ấy, năm 19 tuổi bà đã cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt,phát hịch kêu gọi nghĩa sĩ tập hợp tại núi Nưa,ngày đêm mài gươm,luyện tập võ nghệ chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa chống lại bọn quan lại nhà Ngô.

Sau một thời gian chuẩn bị và dưới ngọn cờ cứu nước của anh em bà, dân chúng khắp hai quận Cửu Chân,Nhật Nam nô nức hưởng ứng., thanh niên nam nữ trên khắp cả hai vùng đã tích cực tham gia vào lực lượng nghĩa binh. Và như vậy chỉ sau một thời gian luyện tập võ nghệ và học tập chiến thuật tác chiến.,bên cạnh việc chuẩn bị lương thảo nuôi quân tương đối đầy đủ,để nhằm mở rộng địa bàn hoạt động xuống vùng đồng bằng. Cuộc khởi nghĩa của hai anh em bà bùng nổ vào mùa xuân năm Canh Thìn 248 với sự hưởng ứng nhiệt liệt của dân chúng tại hai quận Nhật Nam và Cửu Chân.Trước khi khởi động cuộc chiến tranh,một lần nữa, bà Triệu đã làm hịch gởi đi khắp nơi kể tội nhà Ngô, đồng thời kêu gọi mọi người đứng dậy cùng sát cánh với anh em bà quyết tâm đánh đuổi để loại bọn quân thù truyền kiếp nầy.

Từ núi Ngàn Nưa,nghĩa quân của bà đã tiến xuống đồng bằng tấn công thành Tư Phố, mau chóng đã giành được thắng lợi một cách trọn vẹn. Rồi từ đó bà cho Nghĩa Binh vượt sông Mã sang vùng Bồ Điền để lập căn cứ. Về mặt chiến lược,Bồ Điền có đầy đủ các yếu tố để xây dựng một căn cứ chiến lược, thuận lợi cho cả hai mặt “thủ” và “công”. Từ đây có thể đi ngược dòng sông Lèn,sông Âu để ra sông Mã rút lên Quân Yên (là quê hương của bà) hoặc lên căn cứ núi Nưa nếu là lúc cần, có thể chủ động tấn công địch về phía Bắc theo lối Thần Phù để khống chế giặc ở mặt nầy.

Sau khi người anh của bà là ông Triệu quốc Đạt bị bịnh mà từ trấn,bà Triệu được mọi người bầu lên làm chủ tướng, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Ngô. Lúc đã thay anh làm chủ tướng bà được mọi người gọi bà là Nhụy Kiều tướng quân (một vị tướng yêu kiều như nhụy hoa).Nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của bà đã liên tiếp thắng nhiều trận,thanh thế càng ngày càng mạnh,quân số đã tăng lên hàng vạn.Quân của bà đã đánh thắng quân Ngô mà giết chết quan thứ sử Giao Châu. Vì vậy quân Ngô ở vùng Cửu Chân không đủ sức đối phó với sức mạnh nghĩa quân của bà.

Để trấn áp và giành lại thế chủ động trên chiến trường,nhà Ngô đã cử tướng Lục Dận mang theo 8.000 quân với đầy đủ khí giới tối tân sang Giao Châu và Lục Dận được cử kiêm chức Hiệu Úy tại Giao Châu. Lục Dận một mặt lo trấn áp dân chúng,mặt khác tên giặc nầy dùng tiền để lung lạc một số thủ lĩnh tại địa phương, nhằm ổn định Giao Châu, để tập trung lực lượng tấn công Cửu Chân.

Khi đã ổn định được Giao Châu Lục Dận đã dồn toàn lực mà tấn công Cửu Chân bằng cả hai đường thủy. Một đường là từ Tạc khẩu băng qua hành lang Hoàng Cương,Chính Đại, Bạch Ác để ngược dòng sông lên vây phía bắc,một mũi khác theo đường biển vòng qua sông Sung,sông Vích ( cửa Lạc Tường) đánh thẳng vào phía Nam. Sau đó Lục Dận tập trung lực lượng tấn công vào các doanh trại của nghĩa quân.Quân Ngô hơn hẳn nghĩa quân về nhiều mặt,cả vũ khí và cả về quân số chiến đấu,lực lượng nghĩa quân còn quá non trẻ,nên không đủ sức chống lại đạo binh gấp hơn mình nhiều lần cả về nhiều mặt.

Sau cuộc bao vây ráo riết lần nầy, nghĩa quân bị yếu thế,nên bà Triệu phải ra lệnh rút về núi Tùng Sơn.Bà cho nghĩa binh những người còn lại tan hàng để giữ tính mạng cho họ ,và rồi bà quì xuống mà vái trời đất, bà khấn: “Sinh vi tướng,tử vi thần”( sống làm tướng,chết làm thần) xong bà dùng gươm tự vẫn, ngày ấy là 22 tháng 2 năm Mậu Thìn 248.

Cuộc khởi nghĩa của bà tuy thất bại,nhưng đã để lại một điểm sáng chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt.Là tấm gương sáng của những cuộc khởi nghĩa chống quân thù về sau nầy. Tinh thần quật cường cùng sự hy sinh oanh liệt của bà,đã làm cho kẻ thù phải khiếp sợ, và còn là nguồn cổ vũ cho con cháu dòng Hồng – Lạc, trong ý thức chống bọn giặc Tàu xâm lăng mãi mãi về sau nầy,người Tàu được người dân Việt ý thức mà nói rằng“ Giặc Tàu là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc ta” vậy.

_____________________________

Bài số 4 : Tóm lược các chế độ phong kiến phương Bắc đã đô hộ nước Âu-Lạc qua 1.000 năm.

Đúng như sử sách đã ghi lại**:** Vào năm 179 trước công nguyên nước Âu Lạc đã bị nước Nam Việt của Triệu Đà xâm chiếm.( Triệu Đà nguyên là tướng của nhà Tần được giao đến cai quản vùng đất từ Đảo Hải Nam,cùng với vùng Quảng Đông và Quảng Tây. Sau khi Tần Thủy Hoàng chết,Triệu Đà nhân cơ hội nhà Tần suy yếu liền chiếm phần đất mà mình được giao cai quản,lập nên nước Nam Việt,bên cạnh đó nhà Tần đã bị nhà Hán thay thế). Như vậy nước Âu Lạc lại bị rơi vào thời kỳ đen tối. Suốt 1,000 năm dai dẳng dưới sự cai trị của người Tàu. Nước Âu Lạc lại bị sáp nhập để trở thành các quận huyện dưới các nhà nước phong kiến Tàu phương Bắc qua các triều đại: Hán,Ngô,Ngụy,Tấn,Tống,Tề, Lương,Tùy,Đường.

Tuy bị cai trị rất tàn ác trong suốt cả một ngàn năm, nhưng tính quật cường,không chịu bị khuất phục của người Việt đã liên tục vùng lên đấu tranh giành độc lập tự chủ,chống lại việc Hán hóa của phương Bắc. Điển hình vào thời kỳ sau công nguyên năm 40, hai bà Trưng đã khởi nghĩa ở Mê Linh đã giành thắng lợi,nhưng chỉ được ba năm đến năm 43,với sức mạnh của quân xâm lược nhà Hán một lần nữa đất nước đã phải rơi vào tay giặc.Để rồi sau đó lại nối chí hai bà, các cuộc khởi nghĩa lại tiếp tục nổ ra được nổi tiếng đó là cuộc khởi nghĩa của vị nữ tướng vùng Thanh Hóa, bà Triệu Ẩu vào năm 248 chống lại nhà Ngô (Tôn Quyền) đã được ghi vào sử sách Đại Việt.Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu vẫn bị thất bại,vì sức đối kháng không tương xứng .

Tuy vậy,tinh thần yêu nước với lòng mong muốn mưu cầu độc lập của dân Việt không ngừng,do vậy đến năm 542,Lý Bôn lại đứng lên khởi nghĩa chống giặc Tàu thuộc triều đại Nhà Lương., mà thứ sử Giao Châu lúc bấy giờ là Tiêu Tư sang cai trị.

Lý Bôn là tên thật của Ông. Là người làng Long Hưng,Thái Bình,phất cờ khởi nghĩa, nhận được sự ủng hộ của nhiều hào kiệt trong vùng như Triệu Túc,Triệu quang Phục,Phạm Tu,Tinh Thiều tự nguyện tham gia.

Lúc nầy bên Tàu là nhà Lương cai trị,dù là dưới sự cai trị của nhà nước nào,thì người Tàu vẫn luôn mang mộng xâm lược nước ta. Nhà Lương phương Nam cử Tôn Quýnh,Lư Tử Hùng cầm quân cùng với Thứ sử Giao Châu là Tiêu Tư sang xâm lăng nước ta. Với lòng căm thù quân giặc xâm lăng đã đến cao độ,quân của mặt trận khởi nghĩa Lý Bôn, đã đánh tan các đạo quân của Tôn Quýnh,Lư Tử Hùng,khiến cho Thứ sử Tiêu Tư phải bỏ chạy thoát thân.

Với các chiến thắng oanh liệt đã tiêu diệt được quân nhà nam Lương của Phương Bắc. Không những thế mà quân của Lý Bôn phải chống cả với quân xâm lược Lâm Ấp ( Chiêm Thành) ở phương Nam nữa.Tất cả hai mặt trận đều thắng trận oanh liệt, năm 544 Lý Bí (Lý Bôn) lên ngôi Hoàng đế xưng hiệu là Lý Nam Đế,đặt tên nước là Vạn Xuân, niên hiệu là Thiên Đức,đóng đô ở Ô Diên tức Hà nội ngày nay.

Lý Nam Đế đã mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước Đại Việt với nhà nước là Vạn Xuân.,tạo tiền đề cho các phong trào đấu tranh giành độc lập sau nầy.

Cũng cần biết qua các triều đại nước Tàu trong giai đoạn loạn quốc nầy, gồm 16 nhà nước tranh giành quyền cai trị đất nước Tàu lúc bấy giờ:

  1. Nhà Tiền Triệu (304-329); 2) Nhà Thành Hán (304- 347); 3) nhà Tiền Lương (314-376); 4) Nhà Hậu Triệu ( 319-351); 5) Nhà Tiền Yên (337-370); 6) Nhà Tiền Tần ( 350-394) ; 7) Nhà Hậu Tần ( 384- 417) ; 8) Nhà Hậu Yên (384-407) ; 9) Nhà Tây Tần (385-431) ; 10) Nhà Hậu Lương (386-403) ; 11) Nhà Nam Lương (397-414); 12) Nhà Nam Yên (398-410) ; 13) Nhà Tây Lương ( 400-421); 14) Nhà Hạ ( 407-431) ; 15) NHà Bắc Yên (407-414) ; 16) Nhà Bắc Lương ( 401-439).Đây là thời kỳ Nam-Bắc triều bắt đầu (triều đại phương Bắc) đã thống trị phần lớn miền Bắc Trung Quốc,đánh dấu sự kết thúc của nhiều tiểu quốc như Bắc Lương.(401-439).

Tiếp theo thời kỳ mà Bắc ngụy suy yếu và phân cách,để rồi sau đó các triều đại Bắc Tề,Bắc Chu xuất hiện ở phương Bắc một lần nữa.Tại phương Nam có các triều Lưu Tống,Nam Tề,Lương,Trần.Cuối cùng nhà Tùy thống nhất Trung Quốc vào năm 589,kết thúc thời kỳ Nam-Bắc triều phân tranh.Cuối cùng nhà Tùy chuyển giao quyền lực lại cho Lý Uyên thành lập nên nhà ĐƯỜNG vào năm 618 – 907.

Sau thời Tam Quốc, nước Tàu đã bước vào một thời kỳ hổn loạn,các phe phái tranh giành ảnh hưởng,tranh quyền cai trị đất nước,tuy rằng việc cai trị đất nước chỉ được một thời gian ngắn,nhưng dù dưới triều đại nào,dưới khuynh hướng nào đi nữa, người Trung Hoa vẫn mang đậm nét dòng máu du mục Hoa Hạ,nên mộng xâm lăng không hề gở bỏ được,do vậy mà giòng Lạc Việt một giống dân hiền hòa phát xuất từ dân tộc nông nghiệp trồng lúa nước của Thần nông,yêu chuộng hòa bình,mong ước tự do, tôn trọng danh dự con người nhưng khó đạt được sự toại nguyện, bởi thái độ tàn ác của kẻ xâm lược phương Bắc, không coi giá trị tối thiểu của con người ra gì! Với sự áp bức hà khắc thẳng tay, sưu cao thuế nặng làm cho người dân Việt luôn cảm thấy bất bình với những hành động của người phương Bắc như trên,do vậy luôn phải đứng dậy chống lại kẻ thù xâm lược tàn ác để giành lại độc lập, quyền tự chủ cho dân tộc mình, mặc dầu thế còn rất yếu chống không lại,tuy vậy vẫn với lòng quyết tâm đứng lên kháng chiến chống lại kẻ thù muôn thuở ấy. Điển hình qua hai cuộc kháng chiến của các nữ tướng Trưng Trắc,Trưng Nhị và Triệu Ẩu đã được ghi nhận bên trên.

Nối chí các bà,thể hiện tinh thần yêu nước của nòi giống Việt,năm 542 Lý Bôn (Lý Bí) khởi nghĩa thành công,giành lại nền độc lập cho dân tộc từ tay bọn giặc Tàu, thoát khỏi ách thống trị của nhà Lương lập ra nước “Vạn Xuân” với mong muốn là đất nước mãi trường tồn (tức Vạn Xuân).

Đến năm 545 nhà Lương lại đem quân sang xâm lược nước ta một lần nữa,nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế thua trận liên tục,nên phải rút về động Khuất Lão.Và tại đây ông bị bịnh mà qua đời. Triệu Quang Phục lên thay,rồi lui quân về đầm Dạ Trạch để thực hiện chiến thuật đánh du kích tiêu hao lực lượng địch.Và như vậy đến năm 550,Triệu Quang Phục mới giành được thắng lợi,khôi phục lại nước Vạn Xuân và tự xưng là Triệu Việt Vương.Nhưng đến năm 571,Triệu Quang Phục lại bị Lý phật tử cướp ngôi.

Năm 602-603,Lý Phật Tử không chống được các cuộc xâm lăng của người phương Bắc ,người dân Đại Việt một lần nữa bị rơi vào tay nhà Tùy,và kế tiếp đến nhà Đường.

Năm 722, Mai thúc Loan phất cờ khởi nghĩa nhưng thất bại.

Mãi cho đến năm 905, Khúc Thừa Dụ lại khởi nghĩa và đã giành được thắng lợi, thành lập chính quyền của một nước tự chủ. Và từ đó mới được nhà Đường công nhận,tuy nhiên đến năm 930 quân Nam Hán lại sang xâm lược nước ta một lần nữa.Quân Nam Hán là một nước do Lưu Ấn là tướng của nhà Hậu Lương ,cát cứ vùng đất Hoa Nam được nhà Lương giao cho cai quản ( Nhà Lương đã cướp ngôi nhà Đường năm 907). Lúc bấy giờ nước ta do Khúc thừa Mỹ nắm giữ,nhưng không chống nổi giặc,nên bị bắt đưa sang Nam Hán. Các tướng của họ Khúc liên tục tổ chức nhiều cuộc kháng chiến.

Năm 931 Dương đình Nghệ lãnh đạo cuộc kháng chiến thành công và ông được tôn lên làm Tiết Độ Sứ.

Năm 937,Kiều công Tiễn lại giết Dương đình Nghệ cướp quyền lãnh đạo. Ngô Quyền là con rể của Dương Đình Nghệ, đem quân từ Thanh Hóa ra trừng phạt Kiều công Tiển. Kiều công Tiển lại chạy sang cầu cứu quân Nam Hán,dĩ nhiên vua Nam Hán rất vui mừng mà nhận lời.

Năm 938, quân Nam Hán do thái tử Hoằng Tháo kéo quân sang nước ta theo đường thủy, để phối họp với quân Kiều công Tiển đánh bại Ngô Quyền. Nhưng Hằng Tháo chưa đến nơi thì Ngô Quyền đã diệt được Kiều công Tiển và bố trí trận địa sẵn để chờ quân Hoằng Tháo. Ngô Quyền cho quân phục ở cửa sông Bạch Đằng,rồi cho đóng cọc dưới lòng sông,khi quân Hoằng Tháo sang, chờ lúc nước lớn quân Ngô Quyền nhử cho thuyền của quân Hoằng Tháo vào trong. Khi nước ròng (xuống) Ngô Quyền cho quân đánh úp,quân Tháo phải chạy lui,thuyền bị cọc đâm thủng, quân giặc chết vô kể,Hoằng Tháo cũng chết tại trận nầy.Số còn sống sót tháo chạy về Tàu, và từ đó quân Nam Hán mới bỏ mộng xâm lược. Nước Nam mới thoát khỏi ách nô lệ 1.000 năm của người Tàu phương Bắc.

Ngô Quyền đã giành lại được quyền tự chủ thật sự cho dân tộc vào năm 939. Ngô Quyền xưng Vương dựng kinh đô tại thành Cổ Loa,mở ra một thời kỳ tự chủ,độc lập hoàn toàn, nước Nam ta mới thoát khỏi ách đô hộ của bọn giặc Phương Bắc.Năm 944,Ngô Quyền qua đời,tình hình đất nước lại lâm vào tình cảnh hổn loạn,bởi sự tranh giành quyền lực từ các tướng lãnh cùng với hai người con của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn. Đến năm 965 vị vua cuối cùng của nhà Ngô là Ngô Xương Văn cũng chết,lúc bấy giờ thì các tướng mỗi người cát cứ một phương tạo nên loạn 12 sứ quân.

Bài số 5: Cuộc kháng chiến dẹp loạn 12 sứ quân của Đinh Bộ Lĩnh.

Sau khi Ngô Quyền mất ( 944),chính quyền nhà Ngô suy yếu một cách trầm trọng,Ngô xương Văn là vị vua cuối cùng của triều đình nhà Ngô,nhưng không tạo được uy tín và thanh thế, do vậy mà thổ hào và quan lại tại các địa phương cát cứ từng vùng hình thành nên 12 sứ quân,tạo nên một cuộc nội chiến kéo dài 20 năm,được gọi là loạn 12 sứ quân bắt đầu từ năm 944- đến năm 968 .Đinh bộ Lĩnh mới dẹp yên.Mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ cho dân tộc ta.

Sau khi Ngô Quyền mất (944) triều đình suy yếu,đất nước rơi vào tình trạng phân tán,các tướng lãnh,các hào trưởng nỗi lên cát cứ thành hình 12 thế lực được gọi là 12 sứ quân,gây loạn lạc khắp nơi.

Tại Động Hoa Lư (Ninh Bình),Đinh Bộ Lĩnh đứng ra tập hợp lực lượng,chiêu mộ nhân tài,đánh dẹp loạn 12 sứ quân,thống nhất đất nước về một mối.

Thân thế Đinh Bộ Lĩnh: Đinh Bộ Lĩnh người làng Đại Hữu,châu Đại Hoàng (nay là thôn Văn Bòng,xã Gia Phương,huyện Gia Viễn,tỉnh Ninh Bình) con ông Đinh công Trứ,từng là Thứ sử Châu Hoan,kiêm Ngự Phiên Đô Đốc dưới triều Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền) Mẹ là bà Đàm Thị. Sau khi cha mất,Đinh Bộ Lĩnh cùng mẹ và đám gia nhân về lại quê Đại Hoàng sinh sống. Về lại quê,bản thân Đinh Bộ Lĩnh vẫn có được một vị thế “là con nhà nòi” dòng họ vọng tộc ở châu Đại Hoàng,mà không một đứa trẻ nào ờ vùng nầy có được.Cái đặc biệt tính tình Định Bộ Lĩnh rất là mẫn tiệp và thông minh. Ngay từ khi còn ít tuổi,Đinh Bộ Lĩnh đã tỏ ra khí thế của người làm tướng,khác với các trẻ đồng thời Đinh bộ Lĩnh lại có tài chỉ huy. Ra chơi với trẻ mục đồng ngoài đồng ruộng,Đinh Bộ Lĩnh chia bọn trẻ ra làm hai phe để tập đánh trận giả,lấy bông la làm cờ. Bọn trẻ luôn thấy kiến thức mình không bằng,nên tôn Đinh Bộ Lĩnh lên làm chủ tướng. Đã là chủ tướng,Đinh bộ Lĩnh thường bắt bọn trẻ chéo tay làm kiệu để khiêng,hai hàng cầm hoa lau đi hai bên làm cờ rước, như là rước nghi trượng thiên tử.

Khi lớn lên với tài trí hơn người,Đinh Bộ Lĩnh được tôn lên làm tù trưởng Đào Áo ( nay thuộc các xã Gia Hưng,Gia Phú, Liên Sơn,huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Đinh Bộ Lĩnh đã tập hợp lực lương để cũng cố thế lực tại vùng nầy.Đinh bộ Lĩnh tập hợp đám bạn trẻ thời niên thiếu (cùng chăn trâu,cắt cỏ) trở thành những trợ thủ đắc lực như Đinh Điền,Nguyễn Bặc,Trịnh Tú,Lưu Cơ,và tuyển dụng trai tráng trong vùng thành lập một đội gia binh riêng.

Năm 944 Ngô Quyền mất,triều đình Cổ Loa rối loạn, không thể kiểm soát được các địa phương xa xôi. Chính trong thời gian đó (945-950),Đinh Bộ Linh đã toàn quyền làm chủ vùng Hoa Lư,từ đấy ai cũng nể phục,nên quân của Đinh Bộ Lĩnh đi đánh đến đâu đều thu được thắng lợi dễ dàng. Tại triều đình Cổ Loa,Ngô xương Văn,Ngô xương Ngập đem quân đến đánh dẹp cả hàng tháng vẫn không thắng được mà phải rút về.

Đinh Bộ Lĩnh, nhìn thấy Trần Lãm chiếm giữ Bố hải Khẩu (Thái Bình) là một sứ quân mạnh,bên cạnh Trần Lãm lại là người đức độ vã lại ông không có con nối dõi.Đinh bộ Lĩnh cùng với con trai là Đinh Liễn đem quân sang nương tựa. Khi gặp Đinh Bộ Lĩnh,Trần Lãm thấy tướng mạo của ông rất khôi ngô,có chí lớn,nên liền nhận ông làm con nuôi và giao binh quyền.

Sau khi Trần Lãm ( tức Trần Minh Công ) mất, Đinh bộ Lĩnh đứng ra thay thế chỉ huy lực lượng của Trần Lãm. Nhận thấy nơi Bố Hải Khẩu là vùng đồng bằng,bất lợi về cả hai mặt công và thủ.Ngược với Hoa Lư là vùng có núi non trùng điệp,sông ngòi uốn khúc,địa thế hiểm trở rất thuận lợi cho cả hai mặt tấn công và phòng thủ,bên cạnh đó thổ nhưỡng tại xứ nầy rất màu mỡ,quân có thể vừa chiến đấu vừa sản xuất,để dự phòng quân lương.Với cái nhìn chiến lược như vậy.Đinh bộ Lĩnh đã đưa quân về Hoa Lư để lập căn cứ., tiếp tục chiêu mộ hào kiệt,chuẩn bị binh lực,tiến hành đánh dẹp các sứ quân.

Đinh Bộ Lĩnh là một vị tướng có tầm nhìn chiến lược cao,và rất sáng suốt. Đinh Bộ Lĩnh không dựa vào binh lực hùng mạnh mà tiến đánh theo lối “cuốn chiếu” mà luôn áp dụng chiến lược bẻ đũa từng chiếc một.Bên cạnh kết hợp mặt chính trị kêu gọi các sứ quân hàng phục,chiến lược nầy rất hữu hiệu.

Chiến thuật dùng chính trị hữu hiệu,ta thấy kết quả trước tiên là hàng phục được sứ quân của Trần Lãm. Tiếp theo là sứ quân Phạm phòng Át cát cứ vùng Kim Động Hưng Yên. Tiếp đến là Lã Đường vùng Văn Giang (hưng Yên). Đối với 2 sứ quân đều là cháu nội của Ngô Quyền Là Ngô Nhật Khánh,Ngô xương Xí.Đinh Bộ Lĩnh đã hành quân đến Đường Lâm hàng phục được Ngô nhật Khánh,rồi hành quân vào Bình Kiều nhưng không đánh,chỉ dùng binh lực uy hiếp,bên cạnh lại mở tiệc khao quân,Ngô xương Xí hoảng sợ phải đầu hàng,như vậy là quân lính cả hai bên không bị đổ máu.

Còn lại các sứ quân có lực lượng lớn không chịu hàng như : Đỗ cảnh Thạc,Kiều công Hãn, Nguyễn Siêu,Kiều Thuận,Nguyễn thủ Tiệp, Lý Khuê, Đinh Bộ Lĩnh phải tập trung binh lực mà đánh dẹp.Còn lại sứ quân của Nguyễn Khoan chiếm giữ vùng Tam Đái ( Yên Lạc,Vĩnh Phúc) thì tự tan rã.

Như vậy sau một thời gian hình thành và phát triển lực lượng và với tài năng điều hành về quân sự của mình,Đinh bộ Lĩnh đã hoàn thành sứ mệnh mà lịch sử đã giao phó,dẹp được loạn 12 sứ quân và thống nhất đất nước chỉ trong vòng 2 năm (966-967).Đinh bộ Lĩnh đã dẹp yên được cuộc nội loạn 12 sứ quân vào giữa thế kỷ thứ X đưa non sông về một mối. Trong cuộc kháng chiến của nhà Đinh đã có những dũng tướng như: Phạm bạch Hổ, Kiều công Hãn, Lã Đường, Ngô nhật Khánh,Nguyễn Khoan, Trần Lãm. Bên cạnh có 283 danh nhân cùng các tướng quân tham gia được phân bổ như sau: Ninh Bình 87 tướng, Hà Nội 50 tướng, Hưng Yên 47 tướng, Hải Phòng 36 tướng, Thanh Hóa 22 tướng,Bắc Ninh 24 tướng, Phú Thọ 7 tướng, Trung Hoa 5 tướng,Nghệ An 4 tướng, Lạng Sơn 4 tướng, Cao Bằng 2 tướng,Hà Tỉnh 1 tướng.

Kết quả sau chiến thắng thu gom được 12 sứ quân, lúc bấy giờ phải xây dựng một guồng máy chính quyền đủ mạnh để điều hành đất nước,Đinh bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế lấy danh hiệu là Đinh Tiên Hoàng ,đổi tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư,mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Lạc Việt.

____________________________

TRIỀU ĐẠI NHÀ ĐINH, CÙNG SỰ TỒN TẠI.

Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế,thành lập một triều đại quân chủ tập quyền đầu tiên,đặt nền móng cho một thời kỳ tự chủ với chế độ đứng đầu việc điều hành đất nước bởi một vị Hoàng Đế.Như vậy Vương Triều nhà Đinh đã mở ra một nền móng chính thống của một chế độ quân chủ tập quyền tại nước Nam.Các sử gia sau nầy như Đại Việt sử ký toàn thư vào thế kỷ thứ XV,Đại Việt sử ký tiền biên vào thế kỷ thứ XVIII, cho đến Khâm Định Việt sử vào thế kỷ thứ XIV đều được các nhà sử học thời bấy giờ lấy làm cột mốc mở đầu cho phần Bản kỷ hay Chính Biên.Quan trọng nhất là việc xưng đế với hiệu ĐẠI THẮNG MINH HOÀNG ĐẾ tức là Đinh Tiên Hoàng đã mang một ý nghĩa lớn về lòng tự tôn của người Việt, mang hàm ý so sánh với các Hoàng Đế Trung Hoa.Lòng tự tôn ấy đã làm cho người Việt trút hết được sự bức bối của một dân tộc bị đô hộ từ lâu bởi người Tàu.

Bộ máy chính quyền nhà Đinh:

Để cai trị đất nước,năm 971 Đinh Tiên Hoàng bắt đầu cho thành lập và quy định cấp bậc cho các quan văn võ trong triều đình,suốt trong thời chiến đấu dẹp loạn 12 sứ quân,đã có các nhà sư đóng góp công sức rất nhiều,vì vậy Đinh Tiên Hoàng đã phải phong cho các quan văn võ nắm quyền tại các Bộ như sau:

*Nguyễn Bặc giữ chức Định quốc Công

*Đinh Điền làm Ngoại Giáp.

*Lưu Cơ,giữ chức Đô Hộ Phủ sỉ sư (là chức coi về việc hình án).

*Lê Hoàn là Thập Đạo tướng quân.

*Tăng Thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu Khuông Việt Đại Sư.

* Trương Ma Ni làm Tăng Lục

*Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được giao chức Sùng Chân Uy Nghi.

Năm 975 vua Đinh ban áo mão cho các quan văn võ.Nhưng với một bộ máy chính quyền như vậy vẫn còn quá đơn sơ.Tuy nhiên bước đầu như vậy nhà nước cũng đã đi vào nề nếp.

Tuy vậy, nhà Đinh chỉ cai trị đất nước được 12 năm mà thôi,trên danh nghĩa nhà Đinh truyền qua hai đời vua,nhưng thực chất chỉ là một đời vua Đinh Tiên Hoàng mà thôi

Sự sụp đổ của nhà Đinh:

Đinh Tiên Hoàng phạm phải một lỗi lầm rất lớn trong lúc trị vì

Đinh Bộ Lĩnh có ba người con trai cả thảy đó là Đinh Liễn,Đinh hạng Lang và Định Toàn (tức Đinh Tuệ).Đinh Liễn là con cả,Đinh Liễn đã cùng cha là Đinh Bộ Lĩnh đi đánh dẹp 12 sứ quân ngay từ ngày lúc đầu , công cán rất lớn.Năm 978 Đinh Tiên Hoàng lại lập người con út em của Đinh Liễn là Đinh Hạng Lang lên làm Thái Tử.Đinh Liễn quá tức giận nên giết chết Hạng Lang vào mùa xuân năm 979.Qua vụ án nầy Đinh Tiên Hoàng vẫn không có biện pháp nào trừng phạt Đinh Liễn được cả.Đó là một lỗi lầm bởi hành động qua cảm tính, đánh mất quyền uy từ một nhà vua có quyền uy tối thượng,và của cả một đại tướng quân đầy đủ bản lĩnh trong chiến đấu,nhưng lại thiếu sự phán xét trong cương vị lãnh đạo của một vị vua trong thời bình.

Nhà Đinh sụp đổ:

Cũng trong năm 979,vua Đinh Tiên Hoàng cùng người con cả Đinh Liễn,cả hai cha con đều bị sát hại trong cung bởi một nội nhân là Đỗ Thích. (sử đã ghi đúng như vậy,khi Đỗ Thích nằm mơ thấy một ngôi sao rơi vào miệng mình tưởng là mình sẽ được làm vua,nên Đỗ Thích mưu giết cha con Đinh tiên Hoàng để mong đoạt lấy ngôi).Nhưng về sau người đời đưa ra nhiều suy đoán và nhiều giả thiết,tuy nhiên chúng ta chỉ phải dựa vào đúng theo sử sách đã ghi,còn việc suy đoán thì không chắc đươc).

Sau khi nhà vua bị ám sát,người con còn lại của Đinh Bộ Lĩnh được tôn lên nối ngôi đó là Đinh Toàn mới 6 tuổi.Mẹ của nhà vua là Dương Thái Hậu phải buông rèm nhiếp chánh, nhưng trong thực tế thì người đàn bà góa bụa nầy đang phải lo lắng và rất buồn, bởi vì nhà vua còn quá nhỏ,mà cả thù trong và nhất là cả giặc phương Bắc vào lúc nầy rất mạnh,đang lăm le muốn chiếm nước ta..

Các đại thần trong triều như Đinh Điền,Nguyễn Bặc,Phạm Hạp thấy triều đình suy yếu,lại nghi Lê Hoàn tư thông với Thái Hậu Dương Vân Nga,nên họ lại cử binh đến đánh dẹp Lê Hoàn,nhưng bị Lê Hoàn dẹp tan,Đinh Điền,Nguyễn Bặc,Phạm Hạp đều bị giết cả.Phò mã Ngô nhật Khánh bỏ trốn vào nam theo Champa,sau đó cùng vua Champa đem hơn nghìn chiến thuyền đến đánh kinh đô Hoa Lư,nhưng bị bảo quét sạch.

Biết được Đinh tiên Hoàng đã chết,vua còn rất nhỏ dại,nên vào năm 980 nhà Tống rục rịch đem 10 vạn quân sang đánh để chiếm nước Đại Cồ Việt của ta. Tình thế quá nguy ngập,vua còn quá nhỏ không có người đủ lực điều hành đất nước mà chống giặc ngoại xâm vào lúc nầy.Trong tình thế quá nguy ngập,lúc bấy giờ phải có một người đủ tài trí,đủ bản lĩnh để cầm quân chống giặc ngoại xâm.Đó là yếu tố tiên quyết vì giặc Tống sang xâm lăng, việc mất nước có thể xảy ra,và như vậy cả Thái Hậu và vị vua trẻ cũng có thể bị giết chết hoặc bị bắt đưa sang Tàu làm nô lệ. Khi được tin tình báo,quân Tống đã sắp sang,Thái Hậu Dương Vân Nga đã chỉ thị cho Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn lo việc chống giặc. Thi hành lệnh từ Thái hậu, Lê Hoàn liền sai Phạm cự Lượng đem binh đi chống giữ. Trước khi khởi hành, Phạm cự Lượng họp cả quân sĩ trong điện rồi nói rằng: “Bây giờ quân nghịch sắp vào cõi,mà vua thì còn bé,lấy ai mà thưởng phạt cho chúng mình.Dẫu chúng mình có hết sức lập được chú công nào,rồi thì ai biết cho? Chi bằng nay ta tôn ông Thập Đạo Tướng Quân lên làm vua rồi ra đánh thì hơn” quân sĩ nghe nói đều tung hô vạn tuế. Nhìn về thế xa,Thái Hậu Dương Vân Nga thấy quân sĩ đều thuận cả, nên cùng với triều thần phải đồng tâm tôn Lê Hoàn lên làm vua thay cho vị vua trẻ,để có người đủ uy quyền điều binh,khiến tướng mà chống giặc.Thái Hậu Dương Vân Nga phải đem áo Long Cổn một tín vật tượng trưng cho uy quyền của vua Đinh mà khoát lên cho Lê Hoàn đồng thời bà quỳ xuống mà tung hô Vạn Tuế trước mặt cả triều thần,để Lê Hoàn lên thay làm vua để có đủ danh chánh ngôn thuận trên ngôi mà điều hành đất nước và chống giặc . Lê Hoàn Lên ngôi tức vua Lê Đại Hành. Nhà Đinh kết thúc từ đấy. Triều đình nhà Đinh trên danh nghĩa đã truyền ngôi đến đời thứ hai, nhưng thực sự trị vì chỉ được 12 năm trong thời Đinh tiên Hoàng từ năm 968-980.

Đinh Toàn bị phế ngôi để trở thành Vệ Vương như trước,nhưng luôn có mặt trong triều đình nhà Tiền Lê suốt trong 20 năm.Năm 1001 trong lần cùng vua Lê Đại Hành đi dẹp loạn Cử Long thuộc vùng Cẩm Thủ Thanh hóa,Đinh Toàn bị trúng tên độc mà tử trận.

Tuy cai trị chỉ được một thời gian ngắn,rồi sụp đổ,nhưng nhà Đinh là triều đại đã vươn tới đỉnh cao danh vị,khẳng định vững chắc một quốc gia độc lập tự chủ.về phương diện ngoại giao,nhà Đinh được nhà Tống thừa nhận và coi trọng. Khác với các đời trước từ Triệu Vũ Đế,Triệu văn Đế (Nhà Triệu) Lý Nam Đế,Mai Hắc Đế,chưa có sự thừa nhận nào để trở thành chính thống,mãi cho đến đời nhà Đinh.

Đinh bộ Lĩnh đã kịp thời chiêu hàng và đánh dẹp được loạn 12 sứ quân,là thời điểm kịp thời để giữ vững bờ cõi nước Nam.Bởi sau đó không lâu nhà Tống đã xua quân tới Quảng Châu,diệt Nam Hán (971) mà áp sát biên giới Đại Cồ Việt.Nếu không có Đinh Bộ Lĩnh kịp thời ,thì họa xâm lăng của phương Bắc khó tránh khỏi khi nhà Tống thống nhất được phương Nam tại nước Tàu.

__________________________________

N H À T I Ề N L Ê ( 980 – 1009)

Sau khi Đinh Tiên Hoàng và con trai là Đinh Liễn bị ám sát,Đinh Toàn Vệ Vương lên nối ngôi,Lê Hoàn làm phụ chính gọi là Phó vương. Triều thần sợ Lê Hoàn cướp ngôi của Thiếu Đế,nên các cộng thần như Định Quốc Công Nguyễn Bặc,Ngoại Giáp Đinh Điền, cùng tướng Phạm Hạp dẫn quân về kinh đô định giết Lê Hoàn. Nhưng các lực lượng nầy đều bị thua trận và bị Lê Hoàn giết chết .

Năm 981,quân Tống nhân cơ hội nhà Đinh đang suy yếu xua quân sang muốn cướp nước ta. Triều đình đang họp bàn kế hoạch đối phó, Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn sai Phạm cự Lượng đem quân chống giặc.Phạm cự Lượng cùng tất cả các tướng đều mặt áo trận đi thẳng vào nội phủ,và nói cùng mọi người: “Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. Nay chúa thượng còn trẻ thơ,chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài,may có chút công lao,thì có ai biết cho? Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo lên làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn” Quân sĩ đều đồng thanh hô vạn tuế.

Lúc đó Thái Hậu Dương vân Nga là người đang đứng đầu triều đình nhà Đinh, không còn cách nào khác hơn,khi nhìn thấy quân sĩ đều có ý muốn tôn lập Lê Hoàn lên làm vua.Bởi giặc ngoài biên đã áp sát rất nguy hiểm,nên Thái Hậu đã phải thuận theo . Ngay lúc đó không nói lời nào,bà im lặng đi lại ngay trên bàn thờ tổ tiên,nhìn chiếc áo Long Cổn màu vàng sáng rực, nhưng đang nằm lạnh lẽo,bà phải thắc ruột mà mang chiếc áo Lông Cổn ấy,đó là vật tượng trưng uy quyền của vua nhà Đinh,đem lại mà choàng lên vai để tôn Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế thay cho con mình,với thái độ ấy, cả triều thần tiếp theo đều quỳ xuống mà tung hô vạn tuế, đó là một sự chuyển quyền trong im lặng.Lê Hoàn đã có được sự danh chánh ngôn thuận mà bước lên ngai vàng trở thành một vị Hoàng Đế. Đó cũng là thời khắc lập nên nhà TIỀN LÊ.Thiếu Đế được dìu bước xuống khỏi ngai vàng,để nhường ngôi cho vị tân Vương,mà Thiếu Đế lại nhận chức Vệ Vương như cũ.

Sau khi lên ngôi,Lê Hoàn tiến hành lo việc quân để chống với quân nhà Tống vào năm 981,cuộc chiến Tống –Việt phần thắng đã trở về với quân Lê Hoàn.

Trong lúc nhà vua phải ra trận để điều binh dẹp giặc.Bà Thái Hậu Dương Vân Nga ở tại Triều Đình đã giúp vua trông coi việc triều chính một cách rất hiệu quả. Đó là một công lao to lớn,mà bà đã âm thầm góp công trong việc gìn giữ đất nước, sau khi bà phải gạt nước mắt,cùng lúc phải chịu quặn thắc trái tim mình để thực hiện một việc thật lớn, đó là sự hy sinh quyền lợi cá nhân để mưu cầu việc giữ yên bờ cõi cho Tổ Quốc mà cứu muôn dân,khi mà nhìn thấy đất nước sắp bị rơi vào cơn nguy biến của mộng xâm lăng nhà Tống. Nếu không hy sinh quyền lợi cá nhân,mà cứ ôm giữ cái ngai vàng của triều đình nhà Đinh cho ấu chúa mà con trai bà đang ngồi,thì đất nước sẽ bị gót giày của quân nhà Tống sang bằng,không những đất nước Việt phải bị xâm lăng,mà người dân Việt ắt phải bị nô lệ giống nguyên cảnh của một ngàn năm như trước..

Sau khi thắng trận,để giữ sự hòa hiếu,vì biết mình là nước nhỏ, vua Lê Đại Hành đã sai sứ sang nhà Tống cống các đồ thổ sản và dâng thơ xin lỗi,để giữ sự hòa hiếu tránh chiến tranh.Việc làm ấy đã hòa hoãn được các cuộc chiến với phương Bắc,lúc nầy nhà Tống cũng đang bị người Khiết Đan gây chiến nơi vùng Tây Bắc.Tạm hoãn được cuộc gây chiến của nhà Tống, nhưng còn về phương Nam,giặc Chiêm Thành cũng rất mạnh và luôn luôn đánh phá nước Đại Cồ Việt,vì vậy vua Lê phải thân chinh đi thảo phạt Chiêm Thành, mà cuộc thảo phạt cũng đã thành công.

Bên cạnh các chiến thắng trong việc hòa hoãn với nhà Tống,đánh dẹp giặc Chiêm Thành phương Nam đó là công việc ổn định ngoại trị. Còn về phần nội trị, Vua Lê muốn bên trong nước được yên ổn,ông quyết định cưới bà Thái Hậu Dương Vân Nga làm Hoàng Hậu của Mình. Việc cưới Thái Hậu Dương Vân Nga sau nầy đã gây ra nhiều tranh cải, theo quan niệm Nho Giáo, thì người ta chê trách bà Thái Hậu làm Hoàng hậu 2 triều, một người đã lấy hai chồng,như vậy thiếu sự đoan chính. Nhưng những nho gia lại không có cái nhìn xa trên toàn cảnh đất nước vào lúc nầy,số phận của triều đại nhà Đinh,tính mạng bà và ấu chúa sẽ ra sao,trong lúc giặc ngoại xâm đang lăm le đến sát biên giới,triều thần đang trong tình thế ly tán, đất nước đang trong tình trạng rất mong manh là như thế nào!.Vậy bà Thái Hậu Dương Vân Nga vào lúc nầy phải hành động như thế nào cho thích ứng, bà phải hy sinh quyền lợi riêng tư mà nhường ngôi,để lo cho nước được yên bình,quan trọng nhất là giữ tính mạng cho ấu chúa.Rồi sau đó phải chấp nhận quyết định của Vua Lê Đại Hành mà làm Hoàng Hậu của triều đại mới.Hành động như vây có phải là người lăng loàn theo cái nhìn chật hẹp của các nho gia thời bấy giờ đã phê phán,hay bà là một chính trị gia đại tài có cái nhìn thật xa, biết hy sinh quyền lợi riêng tư của cá nhân, để lập thế trận mà giữ yên bờ cõi của tổ quốc cho muôn dân mà chồng bà để lại. Cái sâu thẳm rất quan trọng trong sự hy sinh ấy là giữ sự bình yên cho ấu chúa một sự an toàn tính mạng phải được tuyệt đối.

Sau khi đưa ra quyết định cưới bà Thái Hậu Dương Vân Nga làm hoàng hậu của mình.Xã hội lại có nhiều sự bàn tán,trở thành lời ra tiếng vào. Tuy nhiên, vẫn không cản trở được công việc làm của nhà vua triều mới,vì nhà vua đã lập được nhiều thành tựu trong việc xây dựng quốc gia.Bên cạnh đó đã chứng minh được ái tài cán trong việc cai trị đất nước, ông đã thắng được quân nhà Tống và ngay cả trấn áp được quân Champa.Về nội chính nhà vua cho xây dựng nhiều công trình,đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp cùng việc mở rộng các ngành thủ công nghiệp để chấn hưng nền kinh tế. Dưới triều đại vua Lê Đại Hành Hoàng Đế,lại mở đầu cho một nghi lễ đặc biệt đó là lễ “Tịch Điền” nhằm khuyến khích nông nghiệp dưới thời đại một nhà nước dưới quyền của một chế độ quân chủ tập quyền.Đây là một lễ nghi quan trọng,mà các vương triều kế tiếp luôn được noi theo, để khuyến khích việc phát triển nông nghiệp. (Tịch Điền là Lễ cúng Thần Nông do nhà Vua đứng chánh bái vào ngày tết nguyên đán hằng năm).

Từ những thành công trên,trong thời gian trị vì,ông được quần thần tôn xưng là “ Minh Càn,Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng Đế”.

Cũng về phần nội trị,để củng cố liên minh chính trị với các giòng tộc lớn trong nước,vào thời kỳ đầu mới xây dựng nền độc lập. Vua Lê Đại Hành vào năm 982 cùng lúc ông lập 5 bà Hoàng Hậu;Đây là cách ứng xử để tạo uy quyền tại trung ương,vì triều đại mới hình thành,các phe phái trong nước chưa hẳn đã chịu tùng phục.Việc lập nhiều Hoàng Hậu là một phương pháp dùng chính trị để tạo thanh thế.Và 5 vị Hoàng Hậu của nhà vua được gọi với chính danh sau đây:

*Đại Thắng Minh Hoàng Hậu, chính là Thái Hậu Dương Vân Nga, đã từng là Hoàng Hậu của Đinh Tiên Hoàng,danh hiệu nầy bà đã mang trước lúc mà vua Đinh tiên Hoàng đã phong cho bà.

*Phụng cả Chí Lý Hoàng Hậu.

*Thuận Thánh Minh Đạo Hoàng Hậu.

*Trịnh Quắc Hoàng Hậu.

*Phạm Hoàng Hậu..

Đại Hành Hoàng Đế có 11 người con trai, người con trưởng là Lê Long Thâu,được chọn làm người kế vị ngay từ những năm ông mới lên ngôi,nhưng lại đột ngột qua đờ vào năm 1.000,do vậy, ngôi Thái Tử phải bỏ ngỏ.

Và từ đó trong triều đình lại gây ta nạn tranh giành ngôi vị khá khốc liệt. Vào lúc nầy người con trai thứ 5 của ông là Khai Minh vương Lê Long Đĩnh lại tự ứng cử xưng mình làm Thái Tử.Lê Hoàn có vẻ cũng rất thích Lê Long Đĩnh muốn chọn làm trữ quân. Nhưng quần thần can ngăn, vì ông còn nhiều người con lớn tài ba hơn Lê Long Đĩnh trong đó có Lê Long Tích,giữ chức Đông Thành Vương, và là con trưởng sau Lê Long Thâu.

Lê Đại Hành phải bỏ ý định chọn Lê Long Đĩnh làm Thái tử,nhưng cũng không chọn Lê Long Tích, mà chọn người anh cùng mẹ với Lê Long Đĩnh là Nam Phong vương Lê long Việt.Nhưng vẫn chưa sắc phong nhậm chức Thái Tử chính thức. Đến năm 1005,Vua Lê Đại Hành qua đời tại Trường xuân Điện,như vậy ông đã ngồi trên ngai vàng được 24 năm, nhưng vẫn chưa chọn người kế vị chính thức.

Ngay sau khi nhà vua vừa mất,thì các hoàng tử: Khai Minh Thành Vương Lê long Đĩnh, Đinh Thành Vương Lê long Tích,Trung quốc Vương Lê Long Kinh tranh vị với Thái tử Lê long Việt.Do vậy trong nước phải trải qua 8 tháng không có người làm chủ.Tới đầu năm 1006 (mùa đông 1005 âm lịch) Đông Thành vương Lê long Tích bị Lê long Việt đánh bại phải chạy vào Thạch Hà (Hà Tỉnh) nhưng bị người địa phương giết chết. Vài tháng sau Lê long Việt thuận lợi việc lên ngôi Hoàng Đế.

Trước sự thắng thế của Lê long Việt, các hoàng từ khác tạm thời án binh bất động,tuy nhiên Lê long Việt mới lên ngôi được 3 ngày thì bị người em cùng mẹ là Khai minh Vương Lê Long Đĩnh cho người vào cung giết chết mà lên thay.

Lê Long Đĩnh lên ngôi.lấy tôn hiệu là: Khai Thiên Ứng Vận Thần Vũ Tắc Thiên Sùng Đạo Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng Đế.

Để giữ ngôi vị,Lê long Đĩnh phải đích thân cầm quân đi đánh dẹp các Hoàng tử khác mới mong ngồi yên trên ngai vàng, và như vậy Lê long Đỉnh phải đánh dẹp Ngự Bắc Vương Lê long Cân, và bắt ông nầy phải bắt Trung quốc Vương Lê long Kính đem nộp mà xin đại xá. Lê long Đỉnh tha cho Lê long Cân, còn Lê long Kính thì bị xử tử. Ngự Man vương Lê long Đinh do khiếp sợ nên cũng đầu hàng. Từ đấy về sau các vương và giặc cướp đều phải hàng phục cả.

Về công việc trị vì, Lê long Đĩnh cũng cố việc ngoại giao với nhà Tống khá mềm dẻo,nhờ vậy nhà Tống để Đại Cồ Việt được yên.Về nội trị,Lê long Đĩnh có ý ưa chuộng Phật Giáo,nên nhà vua đã cho thỉnh kinh ĐẠI TẠNG từ Trung Hoa Về.Thiền sư Thích Mật Thể đã viết lại trong : “Việt Nam Phật Giáo sử lược” như sau: “Niên hiệu Ứng Thiên thứ 14 (1008) sau khi nước ta đã hòa với Tống rồi, vua Lê Đại Hành đã sai ông Minh Xưởng và ông Hoàng Thành Nhã sang sứ nước Trung Hoa,cống hiến đồ thổ sản và xin vua Tống ban cho bộ “Cửu Kinh” và “Đại tạng kinh” vua Tống trao cho những bộ kinh ấy và cho sứ giả đưa về. Đó là lần đầu tiên nước ta cho người cầu kinh bên Trung Hoa vậy.

Cửu kinh gồm: “Kinh Dịch,Kinh Thi,Kinh Thư, Kinh Lễ,Kinh Xuân Thu, Hiếu kinh, Luận Ngữ,Mạnh Tử và Chu Lễ” đó Là 9 bộ sách vĩ đại là nền tảng văn minh của Trung Hoa lần đầu tiên nhập vào Việt Nam được mang về trong thời Lê Long Đĩnh. Còn về kinh “Đại Tạng” một bộ sách vĩ đại được rất nhiều thế hệ các cao tăng Trung Hoa sưu tầm và dịch thuật suốt 1.000 năm,từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ 10 mới in thành sách lần đầu gồm 5.000 quyển.

Trong thời gian đầu, khi mới lên ngôi nhà vua cũng đã chăm lo kinh tế, cho xây đắp các tuyến đường lớn,những con đường thủy bộ cho thật lớn,vững chắc để tiện việc giao thông.Năm 1009 theo Đại Việt sử ký toàn Thư, Lê long Đĩnh lại xin được đặt người coi việc giao thương,trao đổi hàng hóa với nhà Tống ở Ung Châu. Nhưng nhà Tống chỉ cho buôn bán ở chợ và trao đổi hàng hóa ở Liêm Châu và Trấn Như Hồng, là những nơi giáp ranh vùng biên giới thôi. Theo An Nam Chí lược,nhà Tống cho rằng dân Giao Chỉ thường hay cướp phá vùng bờ biển của nước Tống,nên chỉ chịu cho buôn bán trao đổi ở Liêm Châu và Như Hổng mà thôi. Lê Long Đĩnh trong những năm cầm quyền đầu tiên đã 5 lần cầm quân đi đánh dẹp loạn tại các nơi thuộc vùng : Hưng Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang,Thanh Hóa,Nghệ An,và Hà Tỉnh ngày nay. Nước Đại Cồ Việt là một đất nước mà triều đình mới thành lập,còn rất non trẻ,chưa đủ lực để mọi nơi phải thần phục.

Một điều cần chú ý,nước đã như vậy, nhưng trong những năm trị vì , Lê long Đĩnh lại trở thành một ông vua bạo ngược nhất mà trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim đã ví ông vua nầy như là Kiệt,Trụ bên Tàu thuở trước. Khi đã giết anh rồi lên làm vua,thường lấy sự giết người làm trò chơi.,có khi những tù phạm phải hình,thì bắt lấy rơm tẩm dầu mà quấn vào người rồi đốt sống,có khi bắt tù treo trên cây rồi ở dưới sai người chặt gốc cho cây đổ.có khi bỏ người vào sọt rồi đem thả xuống sông. Có hôm lấy mía để lên đầu nhà sư mà rót vỏ,thỉnh thoảng lại làm như lở tay,dao bổ vào đầu sư mà chảy máu ,trông thấy thế nhà vua lại lấy làm thích chí mà vui cười.

Trong các buổi ra chầu các quan có sớ tâu điều gì,thì nhà vua lại cho những thằng hề nói khôi hài, hay nhại tiếng mà làm trò.Vài năm về sau nhà vua phải nằm mà thị triều nên được gọi là ông vua ngọa triều.

Bởi từ sự dâm dục quá độ,nên mắc phải bệnh không ngồi được,đến buổi chầu cứ nằm mà thị triều,nên Lê long Đĩnh được gọi là ông vua “Ngọa Triều”. Lê long Đĩnh lên làm vua chỉ được 4 năm rồi qua đời hưởng thọ được 24 tuổi,lúc nhà vua chết con còn rất nhỏ, chính vì vậy mà nhà Lê phải chuyển quyền cai trị đất nước cho nhà Lý,lịch sử đã cho ta thấy hai triều đại hình thành đầu tiên tại nước ta,chỉ trị vì được một thời gian thật ngắn,nhà Đinh vì hoàn cảnh đất nước,để chống với giặc xâm lăng mà phải trao quyền cho nhà Lê,trường hợp trên còn có thể gọi là thuận theo mệnh trời. Bên cạnh đó nhà Lê đời vua cuối là người vô đạo đã phải đánh mất ngai vàng bởi từ cái vô đạo ấy nên phải chuyển quyền đến nhà Lý..

________________________________________

C Â U C H U Y Ệ N V Ề B À T H Á I H Ậ U D Ư Ơ N G V Â N N G A

H O À N G H Ậ U H A I T R I Ề U.

Việc nhà vua Lê Đại Hành Hoàng Đế,quyết định làm đám cưới với bà Hoàng Thái Hậu Dương Vân Nga, là Hoàng Hậu dưới Triều nhà Đinh phong làm Hoành Hậu của mình,đã tạo ra những tranh cãi gay gắt đối với bà Hoàng Thái Hậu trên cả hai phương diện: bà là một người yêu nước hay là một gái lăng loàn theo quan niệm dưới con mắt của các nho gia thời bấy giờ. Là thế hệ hậu bối,chúng ta thử tìm hiểu về trường hợp nầy với cái nhìn khách quan hơn, tạo sự công bằng đối với bà .

Nhìn vào dòng lịch sử dân tộc Việt, có rất nhiều vị anh hùng được tạc tượng,dựng bia để người đời hương khói,mà tưởng nhớ đến tên tuổi của họ muôn đời về sau. Nhưng duy có một người mà khi nhắc đến tên,lại gây nên một sự tranh cãi gay gắt trong suốt hơn cả nghìn năm nay, sự luận bàn giữa công và tội, giữa tình và lý,giữa sự hy sinh quyền lợi riêng tư,để bảo toàn công việc chung là cứu nước, một việc làm thật quan trọng vào lúc bấy giờ, giữ cho đất nước khỏi bị rơi vào tay bọn giặc xâm lăng phương Bắc của nhà Tống.. Tuy nhiên,dư luận trong xã hội Việt Nam vào cái thời quân chủ tập quyền vừa mới được hình thành vào lúc bấy giờ, cái nhìn dựa trên thuyết lý nho giáo lúc đang còn có cái nhìn rất cực đoan,hẹp hòi, nên sự phán xét đã tạo một nổi oan khuất,đã gán lên trên một người đàn bà,mà con người ấy đang phải gánh chịu trách nhiệm của cả một dân tộc, nhưng các nhà nho đã dựa vào cái triết lý nho giáo để phê phán, ghép bà vào loại người bị thất tiết.Đó là câu chuyện được nói về bà Hoàng Hậu Dương Vân Nga, một nhân vật khá đặc biệt trong dòng sử Việt. Bà Dương Vân Nga, người đàn bà phải làm Hoàng hậu của cả hai triều đại, là vợ của cả hai vị vua vĩ đại nhất trong dòng lịch sử Việt-Nam vào thế kỷ thứ 10 thời trung cổ.

Câu chuyện về bà, trong chính Sử thì các nhà sử học viết rất sơ sài. Nhưng, bên cạnh đó trong truyền thuyết câu chuyện về bà lại được đem ra đàm luận, tranh cãi rất gay gắt,các nho gia dựa trên lập luận về đạo lý nho giáo mà đưa ra cái nhìn, buộc người đàn bà phải giữ đúng theo “ tứ đức,tam tòng”họ dựa vào lý thuyết trên mà phán xét, mà bình phẩm về phẩm hạnh của bà. Trong lúc bà đang phải gánh vác trách nhiệm trên cương vị một mẫu nghi thiên hạ có trách nhiệm phải chồng, phải bảo tồn cho sự tồn vong của cả một dân tộc,vì bà phải ngồi vào cái ghế làm người đứng đầu của cả một quốc gia, thay chồng tức là thay nhà vua vào lúc nầy,có trách nhiệm phải gánh vác sự tồn vong của cả một dân tộc, trong lúc tại triều đình nhà Đinh, đã mới vừa xảy ra một sự kiện bất ngờ làm nhà vua phải tử nạn do từ một tên phản thần.D vậy cái gánh nặng của cả một đất nước lại đè lên vai một người phụ nữ chân yếu, tay mềm bắt phải gánh vác. Đó là một trách nhiệm nặng cả ngàn cân, do bởi từ một chính biến ngoài ý muốn vừa xảy ra tại triều đình.

Là sự việc mà cả hai cha con nhà vua Đinh Tiên Hoàng là chồng bà cùng với người con trưởng Đinh Liễn bất ngờ bị ám sát tại cung đình,sự việc là do tên Đỗ Thích một nôi thị tại cung đình thực hiện,tên thái giám nầy đã bạo gan hành động mà thích sát nhà vua.Sự việc đã được các nhà sử học ghi lại như sau: Đổ Thích vào đêm trước nằm mơ thấy một vì sao rơi ngay vào miệng y ,anh chàng nội thị nầy nghĩ rằng điềm ấy báo hiệu một điềm lành,là mình có cơ hội được làm vua, khi Đổ Thích nhận thấy cha con nhà vua ngủ say ngay tại phòng khánh tiết, nên ra tay ám sát để có cơ hội cướp ngôi. Sự việc đã xảy ra là như vậy,nhưng chỉ là ảo giác,ba ngày sau Đổ Thích đã bị bắt và bị xử tử hình. Đối với một triều đại mới vừa hình thành guồng máy cai trị còn rất non trẻ,nhà vua bị ám sát như vậy,triều đình bị lâm vào tình trạng đang mấp mé của sự sụp đổ,cùng lúc đó bên ngoài bọn giặc ngoại xâm phương bắc đang lăm le dòm ngó, với cặp mắt cú vọ, luôn trong ý thức thường trực muốn xâm lăng cả dân tộc Lạc Việt. Dưới cục diện đất nước đang bị lâm nguy như vậy, trách nhiệm lại đè lên vai một người phụ nữ bắt phải gánh vác trách nhiệm, trên cương vị là người đứng đầu của cả một quốc gia là quá nặng nề.Để thoát mọi kiếp nạn, Hoàng hậu Dương Vân Nga phải hy sinh quyền lợi riêng tư của cả hai mẹ con bà, để cứu lấy một dân tộc mới vừa thoát được ách đô hộ của kẻ thù phương Bắc, cũng mới vừa giành được quyền tự chủ chỉ mới mấy thập niên vừa qua. Nhìn thấy rõ cái nguy cơ ấy, Hoàng Thái Hậu nhờ có trí tuệ thông minh trên một con người hiểu biết về chính trị, bà đã ứng xử kịp lúc trao quyền cho một người đàn ông ,có đủ tầm vóc đứng trên cương vị của một người lãnh đạo quốc gia, để điều hành quân sĩ chống giặc ngoại xâm vào lúc nầy, Thái hậu làm như vậy là bà đã thuận theo lòng quân, mà cũng thuận với ý trời, làm tăng nhuệ khí quân sĩ vào lúc nầy, lúc mà đất nước đang rất cần đến sự hy sinh của họ.Bên cạnh đó bà thoáng hiểu trong đầu cái quan trọng vào lúc nầy, là phải hành động một cách âm thầm mà bảo vệ an toàn sinh mạng cho đứa con còn bé bỏng của mình,thoát mọi kiếp nạn của rất nhiều kẻ thù kể cả bên trong lẫn bên ngoài.Hành động đó đã chứng minh được cái nhạy bén do từ sự thông minh tuyệt vời của một người đàn bà am hiểu sâu sắc về tình hình chính trị tại cung đình, đã chứng tỏ sự can đảm của một con người có đầy đủ bản lĩnh, tuy là người thuộc về phái yếu trong xã hội loài người.

Nhưng rất tiếc tất cả hành động đó đã không được gọi là thích thời, đáp ứng đúng với cái nhìn của người đời, một cái nhìn khá cực đoan chật hẹp dựa trên cái lễ nghi của Nho giáo thời bấy giờ mà phán xét. Do vậy, bà Thái Hậu đã phải chịu những lời đao to búa lớn, của các bậc trưởng thượng thuộc phe phái nho gia cực đoan, đem ra phê phán, chỉ trích một cách cay nghiệt, dựa trên lý thuyết của đạo lý nho giáo cực đoan thời bấy giờ mà phán xét, trong lúc cái triết lý ấy đang còn rất chật hẹp, nhưng các bậc Đại trượng phu nho gia lại dựa vào đó mà bình phẩm, gán ghép một cách khá cay nghiệt với sự phán xét về bà, gọi bà là người đàn bà lăng loàn, là một kẻ dâm loạn tán tận lương tâm,là người vợ thất tiết đã dâng giang sơn của chồng cũ cho người tình, khi mà nấm mồ của tiên đế còn đang xanh cỏ. Trong mắt họ hành động trao chiếc áo Lông Bào là vật tượng trưng uy quyền tối thượng của vua nhà Đinh, đem khoát lên vai của Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn ,chính là vết nhơ không thể gọt rửa được. Họ chỉ nhìn trong một vị thế của từng mãn nhỏ,mà không đặt mình được trên cái chốp quyền lực tối thượng của một quốc gia vào lúc nầy, mà nhìn thấy những ngọn giáo sáng loáng,những lưỡi gươm,những ngọn giáo mà kẻ thù đang mài dũa, tất cả đó là cái ách nô lệ mà người dân Việt phải gánh chịu suốt cả một ngàn năm trước,chỉ mới vừa giành lại được sự tự chủ mấy thập niên gần đây chưa lâu. Nếu bà không hy sinh cái quyền lợi riêng tư của mình, và đứa con bé bỏng của Bà,như vậy bà có cơ hội để giữ cả cái đất nước và bảo toàn được tính mạng hay không?

Chúng ta thuộc thế hệ hậu bối của nhiều nhiều đời về sau, đối với các bậc tiền nhân thuộc vào thuở xa xưa ấy, đó là những con người đã can đảm trong công cuộc dựng nước và giữ nước để lưu lại cho chúng ta ngày nay,hãy nhìn một cách thông thoáng và công bằng hơn về trường hợp ứng xử của bà Thái Hậu Dương Vân Nga, một con người được sinh ra giữa thế kỷ thứ 10 thuộc thời trung cổ,cái thời mà nhân loại đang còn rất mông muội,cách hành xử của bà như vậy là đúng, hay sai. Đúng, Sai ở chỗ nào? Hãy nhìn một cách công bằng để có thể rửa bớt cái oan khuất cho Bà,một con người can đảm với cái quyết định của bà, để cứu được cả một đất nước ,một dân tộc khỏi bị rơi vào tay giặc thời bấy giờ. Gìn giữ cho cả một dân tộc, một đất nước thoát khỏi nạn xâm lăng của kể thù truyền kiếp phương Bắc là một hành động quá vĩ đại. Cái độc lập,tự chủ mang tính chất thiêng liêng biết chừng nào đối với một dân tộc, cái mà trước đó các bậc tiền nhân đã phải hy sinh xương máu,kể cả sinh mạng để mưu cầu. Các vị anh hùng đó chúng ta đều từng biết qua khi đọc lại lịch sử như: bà Trưng Trắc,bà Trưng Nhị, bà Triệu thị Trinh ( Triệu Ẩu) cùng những vị anh hùng kế tiếp sau đó là : Lý Bôn, Mai thúc Loan, Ngô Quyền v… v.

Muốn biết thật rõ về trường hợp của bà Thái Hậu Dương Vân Nga,trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu qua một chút về thân thế của bà.Thân phụ của bà là ông Dương thế Hiển,quê ở Nga My,xã Gia Thủy,huyện Nho Quan,tỉnh Ninh Bình.Mẹ bà người thôn Vân Lung,xã Gia Vân,Gia Viễn ,tỉnh Ninh Bình. Cái tên Vân Nga của bà là sự kết hợp hai địa danh cả quê hương của cha cùng của mẹ bà.

Theo như lời kể từ sách vở,Dương Vân Nga là cô bé có nhiều nét khác thường đối với các bé cùng thời. Lúc mới sinh, cô bé Dương Vân Nga bị khóc dạ đề đến cả 3 tháng, cho tới một đêm có một vị Thiền sư đi ngang qua làng,nghe tiếng khóc.Ông liền ghé vào nhà và chỉ xoa nhẹ vào lưng Vân Nga mà khẽ ru:

Nín đi thôi,nín đi thôi,

Một thân gánh vác cả đôi sơn hà.

Cô bé bổng nín bặt. Năm Mâu Thìn (968) Đinh bộ Lĩnh dẹp yên loạn 12 sứ quân,thống nhất đất nước.rồi lên ngôi Vua, lấy hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế. Cũng vào một hôm,ngài cưỡi ngựa rong ruổi về thăm thôn Thung Lau, là nơi căn cứ cũ.Khi đến vùng Nga My,non xanh nước biết rất hữu tình,chợt nghe tiếng hát trong trẻo của một cô gái.

Anh đi tán tía tán vàng.

Để em cắt cỏ bên đàn sao đang.

Tay cầm bán nguyệt xênh xang.

Trăm ngàn ngọn cỏ lai hàng tay ta.

Nhà Vua xuống ngựa ,cho người đến tìm gọi cô gái,nhưng không thấy đâu nữa.Lúc đó thì nhà Vua lại chợt nghĩ đến một người bạn của bố mình xưa kia, là tướng quân Dương thế Hiển ở gần đây, bèn ghé vào thăm. Thế Hiển sai con gái là Vân Nga bưng nước mời khách. Nàng có tiếng nói y hệt tiếng hát lúc nảy,Nhà vua xin được đón về kinh đô, lúc đó Vân Nga mới tròn 16 tuổi.

Vân Nga là người thông minh có học nên về triều bà đã giúp Vua Đinh rất nhiều trong việc triều chính, vào lúc mà nhà Đinh đang xây dựng đất nước.Mấy năm sau bà được nhà Vua phong chức là Đại Thắng Minh Hoàng Hậu.

Tại Triều đình có hai người được nhà Vua tin cẩn nhất để giao việc điều hành quốc gia lúc bấy giờ đó là: Hoàng Hậu Dương Vân Nga và tướng quân Lê Hoàn. Lê Hoàn sinh năm 941 ở Xuân Lập,Thọ Xuân, Thanh Hóa. Cha mẹ qua đời lúc ông còn nhỏ. Vì vậy Lê Hoàn phải làm con nuôi của một viên quan nhỏ, là người cùng họ. Lớn lên Hoàn theo Nam Việt Vương Đinh Liễn là người con trưởng của vua Đinh,trong việc đánh dẹp các sứ quân,Lê Hoàn lại tỏ rõ là người có tài,nên đã được Đinh Bộ Lĩnh cho chỉ huy 2.000 binh sĩ.Đến khi thống nhất đất nước Lê Hoàn được phong chức Thập Đạo Tướng Quân, Điện tiền chỉ huy đội cấm vệ lúc bấy giờ.

Năm Giáp Tuất (974) bà Hoàng Hậu Dương Vân Nga sinh được một hoàng tử được đặt tên là Đinh Toàn,và được nhà vua phong là Vệ Vương. Đêm rằm trung thu năm ấy, để mừng mọi sự việc triều đình thực hiện đều đã thành công theo như ý định của mình. Đ63 vui mừng cái thành công ấy,nhà Vua cho tổ chức buổi tiệc chiêu đãi quần thần,nhân cơ hội vui cùng với quần thần, Đại Thắng Minh Hoàng Đế,và Nam Việt vương Đinh Liễn uống say,cả hai cha con vì uống say nên nằm ngủ mê ngay tại phòng khánh tiết, và rồi liền bị tên hầu cận là Đổ Thích giết hại. Lý lo Đổ Thích giết Vua,sau nầy các nhà nho lại diễn dịch đã trở thành rất nhiều nghi vấn. Lý do Đổ Thích giết vua được các nhà sử học ghi lại là, đêm hôm trước Đổ Thích nằm mơ thấy một ngôi sao rơi vào ngay miệng mình,ông ta nghĩ là cơ hội đã đến được làm vua,nên ra tay giết vua để cướp ngôi. Nhưng chỉ là ảo,ba ngày sau Đổ Thích bị bắt và bị chém ngay.

Sau cái tai họa ấy, triều thần lại hội bàn rồi tôn Vệ Vương Đinh Toàn lên ngôi Hoàng Đế để nước có Vua,tức có người làm chủ, lúc bấy giờ Toàn mới vừa 6 tuổi,Thái Hậu Dương Vân Nga được tôn lên làm Hoàng Thái Hậu thay vua mà coi việc nước,nghĩa là buông rèm nhiếp chính. Thái Hậu lại chọn Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn làm phó nhiếp chính.,nên Lê Hoàn vào ra trong cung điện một cách dễ dàng. Với cử chỉ ấy,các công thần khai quốc nhà Đinh như Định quốc công Nguyễn Bặc,Ngoại Giáp Đinh Điền, tướng quân Phạm Hạp,lại ganh tài và nghi ngờ Lê Hoàn tư thông với thái hậu, bên cạnh đó họ sợ Lê Hoàn cướp ngôi của ấu chúa,bởi vậy họ cùng nhau hội binh,từ Thanh Hóa (Ái Châu) chia hai đường thủy,bộ kéo về Hoa Lư hỏi tội Lê Hoàn.

Nhưng quân của cả ai cánh,vẫn phải bị quân triều đình của Lê Hoàn đánh bại, ba người đều bị giết chết. Phò mã Ngô nhật Khánh cũng nhân cơ hội triều đình rối loạn mà rắp tâm làm phản (Khánh là cháu của Ngô Quyền một trong 12 sứ quân. Mẹ Khánh cũng lại là một trong những người vợ của vua Đinh, em Khánh lại được gã làm vợ Đinh Liễn).Ngô nhật Khánh nhân lúc trong nước đang bị rối ren,lại sang cầu cứu Chiêm Thành,rồi dẫn 1.000 chiến thuyền tiến ra đánh nước Đại Cồ Việt. Trong lúc Lê Hoàn chưa kịp ra quân, thì đoàn thuyền của vua Chiêm và Nhật Khánh bị gió bảo đánh chìm gần hết.Ngô Nhật Khánh cũng bị chết đuối trong trận nầy.

Lê Hoàn vừa dẹp xong bọn Nguyễn Bặc,Đinh Điền, Phạm Hạp,thì vào tháng 6 năm 980, nhà Tống kiếm cớ gây sự.Bọn Hầu Nhân Bảo dâng sớ tâu vua Tống Thái Tông mà nói rằng: An Nam Quân Vương cùng với con trai là Đinh Liễn đều bị giết,nước ấy sắp mất,có thể vào lúc nầy đem một cánh quân sang đánh lấy, là cơ hội tốt nhất, nếu không là mất đi cơ hội ngàn năm một thuở.

Tháng 3 năm 981 ( năm Tân Tỵ) quân Tống khởi binh đánh chiếm Đại Cồ Việt.Thái Hậu Dương Vân Nga ra lệnh cho Thập Đạo Tướng quân lo việc chống giặc. Tướng quân Lê Hoàn đã chỉ thị cho tướng Phạm cự Lượng làm Đại tướng tiên phong đem quân ra trận. Nhưng trước khi xuất binh,tướng Phạm cự Lượng,họp tất cả binh sĩ dưới quyền, tất cả đều mặc quân phục hẳn hoi rồi kéo nhau vào trước điện tiền, trong lúc triều thần đông đủ đang họp bàn tìm cách chống giặc,Phạm cự Lượng bước vào mà thưa rằng:

“Bây giờ quân giặc sắp vào cõi, mà vua thì còn bé quá,,lấy ai mà thưởng phạt cho quân lính.Dẫu quân lính có hết sức lập được chút công nào,thì rồi ai biết cho? Chi bằng nay xin hãy tôn Thập Đạo Tướng Quân lên làm vua, rồi ra đánh giặc thì hơn.Quân sĩ nghe nói như thế đều tán đồng mà hô vạn tuế”. Thái Hậu Dương Vân Nga lúc bấy giờ đã vén rèm lên mà nhìn thấy quân sĩ đều đồng thanh mà thuận cả về cái quyết định của họ.Thái Hậu im lặng trong suy nghĩ là phải thuận theo. Thái Hậu nhìn cái ngai vàng mà đứa con nhỏ của mình đang ngồi nó lỏng lẽo mà quá mong manh,thù trong, giặc ngoài có chắc bà còn giữ được cái ngai vàng ấy không ? cái gương Đinh Liễn giết đứa em hãy còn đó,Ngô nhật Khánh làm phản còn sờ sờ ra đó,Nguyễn Bặc,Đinh Điền, Phạm Hạp là những người khai quốc công thần,là cánh tay mặt của chồng bà,cũng đã tạo loạn. Như vậy, vào lúc nầy quân tướng trong triều,tuy đang im lặng,nhưng trong lòng họ,mỗi người cũng đều có ý, cho mình là người có đủ năng lực để thay vua Đinh mà lãnh đạo đất nước.Cái gương nhổ cỏ tận gốc từ xưa đến nay tại nước láng giềng bên Tàu hãy còn bày nguyên ra đó. Thoáng qua sự suy nghĩ, khi bà cầm tay đứa con trai,bà thấy tay đứa con vừa lạnh mà vừa đang run rẩy một cách đáng ngại, giặc bên nhà Tống đã tiến sát biên giới,làm sao đứa con nhỏ của bà có thể điều binh ,khiển tướng vào lúc nầy được.

Đất nước Đại Cồ Việt do chồng bà lập nên với bao công sức,nếu không tìm được một người có đủ tài năng và bản lỉnh để thay đứa con nhỏ của mình,thì đất nước do người chồng quá cố của bà gây dựng ,sẽ bị mất bởi từ tay của bà vào lúc nầy,đấy là một tội rất nặng không những đối với người chồng quá cố,đối với cả dòng tộc nhà Đinh,mà nhất là đối với tổ quốc và muôn dân của nước Đại Cồ Việt.Lúc bấy giờ bà nhìn quanh thấy các quan văn thì quá bạc nhược,chỉ thấy Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn đúng là một dũng tướng, với cặp mắt sắc sảo, trong tay đang cầm chặt đốc kiếm đứng trước hàng quân,bà nhận thấy nơi ông, đúng là người có đủ bản lĩnh để điều binh,khiển tướng chống giặc vào lúc nầy,chính ông mới là người có thể che chở cho mẹ con bà trong lúc đất nước đang lâm nguy. Nhìn các quan văn thì thấy họ quá yếu đuối,không một ai có đủ tài giúp nước trong cơn ly loạn. Nhưng cũng là lúc cả triều đình đang trong cơn âm ĩ của một sự loạn lạc bởi các mưu toan từ mỗi người,trong ý thức họ muốn cướp ngôi.Bên trong âm ĩ là vậy mà bên ngoài thì giặc ngoại xâm đang xua quân vào sát biên giới. Với trí thông minh, bà đã im lặng mà phán xét một cách linh hoạt,bà đưa ra sự so sánh nếu giặc Tống tiến vào thì đất nước có thể bị mất,mà mẹ con bà có thoát được cái chết,hay bị giặc bắt đưa sang Tàu để làm nô lệ. Từ sự so sánh ấy Thái Hậu Dương Vân Nga,nuốt những giọt nước mắt cho chảy ngược vào tim,để tiến về hướng bàn Thờ Tiên Đế mà vái van,để bà cầm chiếc áo lông bào với màu vàng óng ánh lên ,đấy là vật tượng trưng uy quyền của vua Đinh, rồi bà bước lại mà choàng lên vai Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn. Xong bà quỳ ngay trước mặt mà tung hô “Vạn Tuế”. Nghĩa là bà đã thuận theo lòng quân mà tôn Lê Hoàn lên ngôi hoàng Đế thay cho ấu chúa. Hành động ấy của bà đã tạo cho Lê Hoàn có đủ quyền uy để điều binh, khiển tướng chống giặc vào lúc nầy..Đinh Toàn được diều xuống khỏi ngai vàng mà giữ chức Vệ Vương như cũ.Cũng từ đó văn võ bá quan đều phải noi theo, tất cả đều quỳ xuống mà tung hô Vạn Tuế.Cũng từ lúc đó Lê Hoàn đã mặc nhiên trở thành Hoàng Đế của nước Đại Cồ Việt,mà lấy danh hiệu là LÊ ĐẠI HÀNH Hoàng Đế.Mẹ con Thái Hậu lại lui vào hậu cung để sống một cuộc đời yên lặng đánh dấu một triều đại đã phải bị phế truất bởi từ một biến cố.Tuy rất buồn,nhưng trong lòng bà lại thật thanh thản vì bà đã làm được một việc thật vĩ đại,một sự chuyển quyền giữa hai triều đại,mà không phải tốn một giọt máu.

Tình thế tại triều đình đã đưa đến cục diện như vậy,bà Thái Hậu có thể chống lại được không? Sinh mạng của bà,của con bà vào lúc nầy quá mong manh,bà ứng xử kịp thời như vậy là một việc làm quá giỏi,mà ta nhìn thấy nơi bà, một con người quá thông minh lại có đầy đủ bản lĩnh, không như những con người dựa vào cái thuyết chật hẹp của nho giáo thời bấy giờ chỉ đứng trên một mảng nhỏ của thời cuộc mà phê phán bà.

Khi đoàn quân chống giặc nhà Tống đã chiến thắng quay về,người người từ quan đến dân đều vui mừng mà hò rêu ra đón.Vua Lê Đại Hành đã nhận được cái vinh dự của người chiến thắng,tuy nhiên,ông tự hỏi, cái chiến thắng mà ông có được đã do ai ban cho,nếu Thái Hậu Dương Vân Nga,cũng với cái tư tưởng chật hẹp giữ cái ngai vàng cho đứa con nhỏ của mình để gọi là giữ tròn đạo làm người, không chịu khoát cho ông chiếc áo Long Bào,để ông có đủ danh chánh ngôn thuận mà lên ngôi,mà thắng giặc không? Công ấy phần lớn là do Thái Hậu Dương Vân Nga đã ban thưởng cho ông. Để ghi nhớ cái ơn đó,Hoàng Đế đã quyết định phong bà làm Hoàng Hậu của mình là để ghi nhớ cái công ơn ấy,do vậy Nhà Vua vẫn giữ nguyên cái tước vị cũ của bà đã do vua triều trước phong tặng.Bên cạnh đó Lê Hoàn cũng đối xử với ấu chúa một cách rất nhân đạo,nhận Đinh Toàn làm con nuôi,được ăn học tại cung một cách rất đàn hoàn,không phải lo sợ,lúc trưởng thành Lê Hoàn lại gả con gái cho Đinh Toàn làm vợ, tạo sự thắc chặt tình nghĩa mở rộng trong hoàng gia.

Nằm bên người chồng mới,bà Hoàng Hậu phải rất khôn khéo dùng tính cách mềm dẻo để xử sự cho nhà vua an luôn lòng ,đó là cách bà giữ tính mạng cho đứa con nhỏ của mình được an toàn trong suốt cả thời kỳ thơ ấu, và ngay lúc đã trưởng thành mà ta thấy lúc nào nhà vua cũng cho theo sát bên mình ngay cả lúc ra trận tiền đánh giặc cũng vậy.

Trong dân chúng phái bênh vực bà thì họ nêu lên lý do,trong khi đất nước lâm nguy,nếu bà khư khư vì quyền lợi của giòng họ và ngôi vị của con mình thì có thể giữ được nước không? Sự lựa chọn và quyết định của Thái Hậu Dương Vân Nga trong hoàn cảnh ấy,là một thái độ biểu hiện sự hiểu biết về chính trị trong bà rất sáng suốt, một người có khối óc lớn mà rất thức thời,xứng đáng được coi là một vị anh hùng. Nếu bà không biết đặt lợi ích đất nước lên trên quyền lợi riêng tư,dòng họ,bà có thể dựa vào một quyền thần nào đó để chống lại các quyền thần khác, ngoan cố bảo vệ ngai vàng cho đứa con nhỏ của mình,ắt sẽ gây ra nạn tranh giành,mà trong thâm tâm mỗi vị quan,tướng đều đã có ẩn ý, như vậy sẽ đẩy đất nước vào thảm cảnh rối loạn mà kết cục có thể sẽ mất nước vào tay bọn giặc ngoại xâm phương bắc nhà Tống.Với các hành động bà đã hành xử vào lúc bấy giờ,chúng ta hẳn nhận thấy bà không phải là hạng người ham giàu sang dục lạc.Những năm cuối đời,khi đã bình Chiêm,phạt Tống xong,bà đã xin vua Đại Hành Hoàng Đế để xuất gia,bà tu tại chùa Am Tiên. Sự kiện nầy trong truyền khẩu đã có bài thơ khắc trên tường nơi chùa, đã tóm tắc cuộc đời của Hoàng Hậu Dương Vân Nga như sau:

Hai vai gồng gánh hai vua,

Hai triều Hoàng Hậu,tu chùa Am Tiên.

Giúp chồng đánh Tống,Bình Chiêm.

Có công với nước, vô duyên với đời.

Hoàng hậu mất vào năm 1000,hưởng thọ được 48 tuổi.Bà đã chung sống với nhà vua mới Lê Đại Hành hoàng đế,nếu tính cả thời gian bà vào chùa tu hành,thì vừa tròn được 20 năm.Thời gian bà phải làm vợ Vua Lê họ chỉ có với nhau một người con gái là Công chúa : Lê thị Phất Ngân,được gã làm vợ của Điện Tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn sau trở thành người mở đầu triều đại nhà Lý, đó là vua Lý Thái Tổ, và là mẫu hậu của vua Lý Thái Tông .

Các sự kiện cần được nêu lên để suy nghiệm: Thứ nhất: Sự nghi ngờ tên nội thị Đỗ Thích nghe lời xúi dục từ một ai đó mà giết vua có đúng không? Đỗ Thích sẽ không làm công việc đó, vì ông ta không có quyền lợi gì,mạnh tay làm công việc giết vua vì ông ta thấy việc làm nầy đem lại quyền lợi rất to lớn cho chính cá nhân mình, bởi tin vào điềm ông ta thấy ngôi sao rơi vào miệng,mà tin tưởng chứ không phải do từ sự xúi dục của một kẻ khác,cho dù kẻ ấy có quyền hành cao đến bậc nào đi nữa.

Thứ hai: Nhà vua Đinh mới vừa qua đời chưa lâu,tình cảm của Thái Hậu đã bị thiếu thốn đến độ lý trí bị nhòe nhoẹt đi chưa ? khi mà bà là một Hoàng Hậu được nhà vua sủng ái nhất,bên cạnh đó chính bà đã chấp nhận cái tình yêu ấy ngay từ lúc ban đầu,vì vậy khi thấy phó vương Lê Hoàn lui tới cung cấm để bàn công việc nước với Hoàng Thái Hậu mà cho là họ thông dâm,có phải cái xét đoán như vậy nó quá hẹp hòi,đưa đến sự phiến diện đi không? bởi chỉ từ sự ganh ghét không đáng có.Thái Hậu vào lúc nầy đã bị thiếu thốn tình yêu đến độ cùng cực chưa? vì bà chỉ mới vừa xa chồng một thời gian còn rất ngắn,cái buồn vẫn chưa nguôi ngoi, bên cạnh đó chồng bà lại là một vị vua quyền uy tột đỉnh, là người được quyền thay trời theo cách nhìn dưới chế độ quân quyền. Xét đoán chỉ dựa vào tuổi tác của bà và Phó vương Lê Hoàn xấp xí nhau,mà gán ghép như vậy quả là những người không có cái nhìn của một con người có tầm đứng trên phương vị lãnh đạo.Những tướng lãnh như Nguyễn Bặc,Đinh Điền, Phạm Hạp,cho chí đến cả Ngô Nhật Khánh cũng chỉ là những tướng vỏ biền,tầm nhìn quá hạn hẹp.

Nhà vua Lê Đại Hành,thắng trận là nhờ vào cái gì? Đó là cái uy lực có được do từ hành động ông được tôn xưng của bà Hoàng Thái Hậu Dương Vân Nga, vào đúng cái thời điểm mà một vị chỉ huy phải có đủ để được danh chánh ngôn thuận, trên cương vị của một người lãnh đạo. Vua Lê Đại Hành đã nhận thấy thật rõ,ông đã có được uy quyền ấy là nhờ nơi bà Hoàng Thái Hậu âm thầm ban cho,đó là một công ơn thật to tác. Việc vua biết ơn bà mà phong bà làm Hoàng Hậu,thứ nhất là ngầm chứng tỏ sự biết ơn bà,bên cạnh vua Lê Đại Hành cũng mang ơn với một sự nể vì nhà vua Đinh,ông ấy là một người chỉ huy tột đỉnh của mình,do vậy mà nhà vua vẫn giữ nguyên tước vị của bà đã được phong như cũ, hành động ấy đã chứng tỏ một sự biết ơn và cả một sự ghi ơn.

Hai chữ Anh hùng phải được quan niệm một cách rộng rãi hơn,không chỉ biết dùng để phong cho những tướng quân dũng cảm đánh giặc ngoài mặt trận, mà phải đối xử công bằng kể cả những người ở hậu phương,đã âm thầm hy sinh mà góp phần tích cực trong mưu cầu việc giữ yên bờ cõi một cách được trọn vẹn,công ấy mới là một công đức rất to lớn. Dương Thái Hậu là người thật xứng đáng nhận cái vinh dự ấy.Bà phải được vinh danh là một phụ nữ anh hùng đứng hàng đầu của nước Việt ta, sự hy sinh của bà,trong mưu cầu việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ,làm cho quốc dân thoát được ách nô lệ của ngoại ban,giữ được quyền tự chủ cho cả một dân tộc Việt là một công lao rất lớn phải được mang danh dự là “Một Anh Hùng” của dân tộc Việt vậy. Không những bà Thái Hậu Dương Vân Nga , mà bảy trăm năm sau bà, một vị nữ anh hùng khác cũng lại được xuất hiện đó là công chúa Trần huyền Trân với cái cảnh “Ngàn dặm ra đi”cũng đã làm được một việc rất lớn như vậy,lập công đầu trong giai đoạn đầu mở rộng đất nước về phương Nam, đến tận Hóa Châu.(sông Thu Bồn ( Bà Rén) của Quảng Nam) ngày nay.

Là con cháu của bà qua nhiều nhiều thế hệ về sau,chúng ta đều phải nhìn nhận hành động của Bà vào lúc bấy giờ là một hành động rất là vĩ đại, đáng được vinh danh với cái danh dự là một “NỮ ANH HÙNG” của dân tộc Việt ta vậy./.

Bà đã làm nền tảng cho sự chuyển giao quyền lực của cả ba triều đại ĐINH,LÊ,và nhà LÝ sau đó thật êm thắm,không phải tốn một giọt máu nào.

Ngày 17 tháng 1 năm 2026.

___________________________________

T R I Ề U Đ Ạ I N H À L Ý

Nước ta từ khi Ngô Quyển giành lại quyền tự chủ, đã trải qua nhiều đời lập thành cơ cấu nhà nước tự trị,nhưng sự lấn áp của người phương Bắc quá gay gắt,nên không thể giữ được quyền tự chủ ấy lâu dài. Sau khi Ngô Quyền chết,trong nước lại nỗi lên loạn 12 sứ quân,Đinh bộ Lĩnh đã dẹp yên được loạn 12 sứ quân,thành lập triều đại nhà Đinh,nhưng cũng chỉ giữ được vài đời vua rồi phải chấm dứt,mà chuyển quyền lực qua cho nhà Lê,gọi là nhà Tiền Lê,nhưng cũng chỉ truyền được hai đời là kết thúc để rồi phải chuyển qua cho nhà Lý.

Có thể gọi Triều đại nầy là nhà Hậu Lý ( để phân biệt với triều đại nhà Tiền Lý của Lý Bí vào năm 542 thành lập nước Vạn Xuân).

Triều đại nhà hậu Lý bắt đầu từ Lý Công Uẩn,lên ngôi vào tháng 10 âm lịch năm 1009.Sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Tiền Lê.(Lê Long Đĩnh chết) Triều đại nhà Lý đã trải qua được 9 vị Hoàng Đế,và chấm dứt,khi Lý Chiêu Hoàng được lập làm Thái tử rồi lên ngôi vua lúc mới được 7 tuổi. Sau đó nhà vua bị ép phải thoái vị để nhường ngôi lại cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225. Chuyển quyền lực sang cho nhà Trần. Như vậy nhà Lý đã giữ ngôi vị tổng cộng được 216 năm.

Trong thời kỳ nầy,nhà Lý đã giữ vững được quyền lực một cách lâu dài hơn 200 năm,đây là một thành quả hiếm thấy,khác với các triều đại trước chỉ được vài chục năm.Các đời vua đầu của nhà Lý vẫn giữ nguyên tên nước Là Đại Cồ Việt,cho mãi đến đời vua Lý Thánh Tông mới đổi tên nước thành Đại Việt, mở ra một kỷ nguyên mới rực rỡ nhất trong lịch sử Việt nam.

Sự thịnh trị thuộc các triều đại các vua nhà Lý được bắt nguồn từ đâu ? vị vua đầu tiên của nhà Lý là Lý Công Uẩn, là học trò của Thiền Sư Vạn Hạnh,một vị chân tu dùng đạo đức để cảm hóa con người. Nhưng vị Thiền sư cũng lại là một kỹ sư đã kiến tạo nên triều đại Nhà Lý.Không phải dùng bạo lực,không đụng tới uy quyền,vì vậy suốt trong các triều đại nhà Lý,hầu hết các vị vua đều sùng bái Phật giáo,nhưng ảnh hưởng của Nho Giáo,Lão giáo không phải bị lu mờ,mà vẫn được tôn trọng để kết hợp tạo thành một nền văn hóa rực rỡ nhất, gồm ba tôn giáo chính của người Việt lúc bấy giờ ra đời đầu tiên tại nước ta,dưới hình thức một nền văn hóa được gọi với tên là “TAM GIÁO ĐỒNG QUI”.Mở đầu một nền luân lý có kỹ cương nhất của người Việt, vào giai đoạn mà đất nước mới thoát ra khỏi ách nô lệ của người Tàu phương Bắc chưa lâu.

Vấn đề nội trị:

Cái ưu tiên nhất mà các vua nhà Lý họ đã nhìn thấy,muốn nước mạnh là phải lo về vấn đề giáo dục, để chọn người tài ra giúp nước,không phân biệt giai cấp.Nhà Lý đã mở các trường Đại học,đầu tiên là VĂN MIẾU (1070) đến QUỐC TỬ GIÁM (1076). Mở khoa thi đầu tiên vào năm 1075,chọn được Trạng nguyên đầu tiên là Lê Văn Thịnh. Từ đó thể chế chính trị,đã có sự phân cấp rõ ràng.Sự cai trị phần lớn phải dựa vào Pháp Luật, hạng chế việc chuyên quyền độc đoán của cá nhân.

Một sự kiện đặc biệt là nhà Lý chọn việc dời đô từ thành Cổ Loa về thành Đại La và sau đổi tên là “Thăng Long”,sự kiện trên đã đánh dấu sự cai trị phải dựa vào sức mạnh kinh tế cùng với lòng dân,khác với việc dùng sức mạnh quân sự để phòng thủ như các triều đại trước. Các danh thần như: Lê văn Thịnh,Bùi quốc Khái,Doãn tử Tư.Đoàn văn Khâm. Lý Đạo Thành, Tô hiến Thành,… đã góp công rất lớn vào công việc ổn định văn trị và nền chính trị của chế độ,tạo nên một nền văn hiến rực rỡ cho triều đại nhà Lý.

Về lực lượng quân sự giữ nước,nhà Lý áp dụng chính sách “ Ngụ binh Ư nông” làm một lực lượng trừ bị rất tốt,một khi đất nước bị lâm nguy,mọi người dân đều trở thành một người lính giỏi góp sức để chống giặc. Ngoài ra lực lượng chính quy,nhà nước tổ chức nhiều binh chủng được tập luyện một cách thành thục về binh nghiệp đó là: Thủy Binh,Bộ Binh, Kỵ Binh, và kể cả Tượng Binh.

Ngoài giáo,mác,cung nỏ,khiên là vũ khi chính vào thời bấy giờ,quân đội còn được hổ trợ bởi một loại vũ khí là máy bắn đá,một kỹ thuật tiên tiến hữu hiệu nhất,đã học được từ nhà Tống.

Quân đội được tổ chức rất qui mô,quân lương chuẩn bị thật đầy đủ,nên quân nhà Lý đã trấn áp được các bộ tộc Man di ở biên giới.Ngoài ra các đời vua Nhà Lý còn phải gả các công chúa cho các thủ lĩnh các bộ tộc ngoài biên để tạo nên tình nghĩa hữu nghị, làm phên dậu để chắn nơi biên giới đề phòng giặc phương Bắc,nhất là giúp trong vấn đề tình báo.Bên cạnh đó là trấn áp được quốc gia kình địch mà lực lượng rất hùng mạnh ở phương Nam đó là Chiêm Thành, họ luôn luôn tổ chức các cuộc cướp phá nơi miền biên giới Đại Việt. Quân đội nhà Lý được vẻ vang nhất là vào năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông chinh phạt Chiêm Thành, mang về một thành quả đáng kể là mở rộng bờ cõi về phương nam. Bên cạnh đó quân đội nhà Lý còn vẻ vang hơn nữa là đã đánh bại vương quốc Đại Lý,Đế quốc Khmer.Đặc biệt là Lý Thường Kiệt đưa quân sang đánh một trận phủ đầu phá quân nhà Tống vào năm 1075.Rồi tiếp đến trận tiêu diệt quân nhà Tống trên sông Như Nguyệt xảy ra trên lãnh thổ Đại Việt đã

(Máy bắn đá dưới triều dại nhà Lý)

đập tan âm mưu xâm lăng của quân nhà Tống mà nói thẳng với họ bằng Bản Tuyên Ngôn Độc Lập phân chia ranh giới hẳn hoi, là do “Thiên Mệnh” không được xâm lấn : của Lý Thường Kiệt:

Nam Quốc sơn hà, Nam Đế cư. (Sông núi nước Nam vua Nam ở)

Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư ( Rành rành phân định tại sách trời)

Nhử hà nghịch lỗ lai xâm phạm ( Cớ sao lũ giặc lại xâm phạm)

Nhử đẳng hành khang thủ bại hư ( Chúng bay sẽ chuốc lấy sự thất bại tơi bời)

Bên cạnh về quân sự,nhà Lý còn nổi tiếng về khoa nghệ thuật với kinh thành Thăng Long,một quần thể kiến trúc vĩ đại mà hoa lệ.Với hiện vật là mái ngói,các linh thú trang trí trên nóc mái,bên dưới là các loại gạch lót nền thật đẹp,cho thấy nghệ thuật nhà Lý vào thời kỳ nầy đã đạt đến đỉnh cao. Đặc biệt con rồng dưới thời nhà Lý đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tượng hình,bên cạnh đó là các tượng Phật thật lớn còn lại cho thấy tư duy đồ sộ của người Việt dưới triều đại nhà Lý. Đặc biệt nhất các vật thể còn lại 3 trong 4 bảo vật của An Nam Tứ Đại Khí là: Tháp Bảo Thiên,Chuông Qui Điền, và tượng Phật chùa Quỳnh Lâm đều tạo ra vào thờ nhà Lý.Sự sùng đạo Phật dưới thời nhà Lý đã thể hiện qua là các bức tượng Phật uy nghi cùng rất nhiều chùa chiền.

Nhưng triều đại nào rồi cũng vậy,xây dựng lên đến độ cực thịnh,rồi lại bắt đầu bước vào thời kỳ suy thoái mà biến mất,tức đã tạo nên những mặt tích cực như chúng ta đã nhìn thấy bên trên,nhưng cũng có rất nhiều sự kiện tiêu cực mà chúng ta sẽ phải xét lại sau.Sau khi đã nêu danh tánh cùng một số công nghiệp rực rỡ từ các vị vua nhà Lý .

  1. Lý công Uẩn,

Lý công Uẩn tức là vua Lý Thái Tổ,nhà sử học Lê văn Hưu viết: Lý công Uẩn người Châu Cổ Pháp (Từ Sơn,Bắc Ninh) thuở nhỏ làm con nuôi nhà sư Lý Khánh Văn, theo học ở chùa Lục Tổ với sư Vạn Hạnh,là người học trò được nhà sư đào tạo tốt nhất,được nhà sư dạy dỗ rất cẩn thận,đào tạo thành một người quân tử.Khi trưởng thành làm quan tại triều nhà Lê,giữ đến chức Điện tiền Chỉ huy Sứ,chỉ huy quân cấm vệ ở kinh đô Hoa Lư.Là người có học,có đức hạnh,có uy tín nên được cả triều đình nhà Lê quý trọng.

Việc Lý công Uẩn trưởng thành,thăng tiến trong bộ máy nhà tiền Lê,rồi lên ngôi Hoàng đế đặt nền móng thành lập nên triều đại nhà Lý,tất cả đều nhờ vào công sức của Thiền sư Vạn Hạnh từ việc dạy dỗ và vận động để đưa lên ngôi hoàng đế về sau, tất cả đều hoàn toàn là nhờ vào công của nhà sư và Đào Cam Mộc.Lý công Uẩn lên ngôi kịp thời,mà rất êm thấm, khiến quyền lực nước Đại Cồ Việt được duy trì ổn định,không gây nên một xáo trộn nào từ cung vua nhà Lê khi Lê Long Đĩnh qua đời. Đó là điều kiện thuận lợi nhất để Lý Công Uẩn bắt tay vào việc xây dựng đất nước thống nhất,mở đầu cho một vương triều nhà Lý thịnh vượng lâu dài,mở ra một thời kỳ phục hưng toàn diện cho đất nước.

Lý công Uẩn là vị vua đầu tiên của nhà Lý,lên nối ngôi vua từ nhà Tiền Lê,mà được tất cả mọi người ủng hộ,ắt là một người có đầy đủ đức hạnh,mà sau nầy các nhà sử học Việt cũng phải thừa nhận như: Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư,Khâm định việt sử thông giám cương mục,cũng như Việt Nam Sử Lược của Trần trọng Kim đều nhất trí là suy tôn. Riêng có một trường hợp mà sách Đại Việt sử ký Tiền Biên của Ngô thì Sỷ đã có ghi lại một nghi vấn: Lý Công Uẩn nhân lúc Lê Long Đĩnh bệnh tật, cho người vào đầu độc giết đi rồi dấu kín việc đó,nên sử không ghi chép. Tuy nhiên tất cả các bộ sử mà kể cả chính Đại Việt sử ký tiền biên cũng đều ghi nhận việc LÝ công Uẩn lên ngôi,lại được bá quan trực thuộc triều đình nhà Lê tán thành,không một cuộc nổi dậy nào cũng như những người trung thành với nhà Lê. Do vậy vấn đề mà Ngô thì sỷ nêu trên, có thể cũng chỉ là một sự suy đoán mà thôi,không đưa ra được một bằng chúng nào gọi là để chứng minh cho nghi vấn trên.

Dưới triều đại vua Lý Thái Tổ,(Lý công Uẩn) thành quả to lớn nhất là việc “Dời Đô” từ Hoa Lư về Đại La,sau đổi tên thành Thăng Long.

Việc dời đô vào lúc nầy,nhà Lý phải chọn đi bằng đường thủy mới (Lý Thái Tổ)

Chở hết mọi thứ tại kinh thành cũ.Nhưng nhà Lý đã dùng đường sông,thay vì đường biển để tránh sóng dữ.

Việc đi bằng đường sông phải qua sáu con sông khác nhau: Hành trình gồm có sông Sào Khê,sông Hoàng Long,sông Châu Giang là đi xuôi dòng. Đến lúc phải đi vào sông Đáy,sông Hồng,sông Tô Lịch là phải đi ngược dòng.Tuy nhiên dù xuôi dòng hay ngược dòng công việc đều thuận lợi cả và đã tránh được sóng biển nguy hiểm.

Sử gia Ngô thì Sỷ đã viết trong Đại Việt sử ký tiền biên một nhận xét về kinh đô Thăng Long như sau:

Núi là vạt áo che.sông là dải đất thắt,sau lưng là sông nước,trước mặt là biển cả,địa thế hùng mạnh mà hiểm, rộng mà dài, có thể là nơi vua ở hùng tráng, ngôi búa vững bền Đại Việt không nơi nào hơn nơi nầy”

Quyết định dời đô ra Thăng Long của Lý Thái Tổ được xem là một sự kiện trọng đại,đánh dấu bước phát triển của Cả vương triều nhà Lý. Trong vòng 8 thế kỷ sau,hầu hết các triều đại quân chủ tập quyền đều kế tục theo nhà Lý đó là: nhà Trần,nhà Mạc,nhà Hậu Lê,đều đóng đô ở Thăng Long, mà thời gian tồn tại tương đối lâu dài.

Ghi Chú: (khi Lý thái tổ băng hà,sự chuyển giao quyền lực cho Thái Tử có xảy ra sự việc tiêu cực gọi Loạn ba vương nhưng được Thái tử dẹp yên trước khi ngồi lên ngai vàng).

T H Ờ I K Ỳ T H Ạ N H T R Ị

  1. Lý Thái Tông.

Lý Thái Tông tên là Lý Phật Mã,là con trai trưởng của vua Lý Thái Tổ và Hoàng Hậu Lê thị Phất Ngân.

Vua Lý Thái Tông sinh ngày 29 tháng 7 năm 1000 tại Hoa Lư,nước Đại Cồ Việt.Ông lên ngôi năm 1028,trị vì được 26 năm (1-4-1028 - 3-11- 1054). Và mất ngày 3 tháng 11 năm 1054.tại điện Trường Xuân, kinh thành Thăng Long của Nước Đại Cồ Việt.

Lý Thái Tông là vị vua đổi nhiều niên hiệu nhất: Đầu tiên lấy niên hiệu Thiên Thành (1028-1033)- tiếp theo là Thông Thụy (1034-1038) ,rồi Càn Phù Hữu Đạo (1039-1041), Minh Đạo (1042-1043), Thiên Cảm Thánh Vũ (1044-1048) và Sùng Hưng Đại Bảo (1049-1054).

Lý Thái Tông được đánh giá là một vị Hoàng Đế bách chiến bách thắng.là một hào kiệt sinh ra đã được định sẵn là một vị quân chủ văn võ song toàn,đánh đâu thắng đó.Nhưng cũng là vị vua có trái tim bao dung,nhân hậu. Thời đại của vua Lý Thái Tông được xem là khởi đầu của sự thịnh vượng nhà Lý.

Những người con của vua vua Lý Thái Tông là Khai Hoàng Vương Nhật Tôn sau lên ngôi để kế vị vua cha tức là Lý Thánh Tông,cũng là cháu nội của Hoàng hậu Lê thị Phất Ngân. Công chúa Trường Ninh,Công Chúa Hồng Phúc. Phùng càn Vương, và công Chúa Bình Dương.

Vua Lý Thái Tông được đánh giá là một vị Hoàng Đế kiệt xuất thuộc vào thời đại nhà Lý lúc bấy giờ.con ông là Lý Thánh Tông, cháu nội ông là Lý Nhân Tông. Đó là bốn vị vua được xem là thời kỳ thạnh trị nhất,mà sử gọi là thời kỳ Bách niên Thạnh Thế.

* Đánh đuổi giặc ngoại xâm bách chiến bách thắng:

Trải qua loạn ba vương được ông dẹp yên, rồi lên ngôi.Hoàng đế Thái Tông được mô tả là một ông vua uy dũng hơn người, nhà vua luôn đích thân xuất chinh để chống giặc ngoại xâm được thắng trận mà được gọi là bách chiến bách thắng,tạo nên những công nghiệp rạng rỡ nhất trong triều Lý. Dẹp giặc xâm lăng bên ngoài, nhà vua dùng binh lực thật hùng mạnh,còn bên trong vấn đề nội chính thì nhà vua dùng chính sách “hòa thân”, gã công chúa cho các Châu Mục miền núi lấy các châu mục ấy làm phên dậu chống giặc Tàu,đồng thời các nơi ấy là nơi cung cấp tin tình báo nhanh chóng đối với bọn giặc Tàu.Bên cạnh còn dẹp các loạn đảng làm phản như loạn họ Nùng.Phương Nam giặc Chiêm Thành quấy phá,cùng các loạn giặc cỏ khác đều bị Lý Thái Tông cầm quân dẹp yên. Năm 1044,giặc Chiêm Thành lại quấy phá vùng biên phía Nam của Đại Cồ Việt,Lý Thái Tông cầm quân đánh thẳng vào kinh đô Chiêm Thành,chém chết vua Chiêm,Từ đó bờ cõi Đại Cồ Việt mới được yên ổn.

*Sau khi dẹp loạn ba vương ông lên ngôi và ban hành bộ luật Hình Thư,đây là bộ luật thành văn đầu tiên của đất nước lúc bấy giờ.Loạn Tam Vương xảy ra khi Lý Phật Mã lên ngôi,nhưng ba người em của ông là Đông Chinh Vương, Dục Thánh Vương, và Vũ Đức Vương không đồng ý nên đem quân mình phục sẵn trong Hoàng thành nhằm cướp ngôi..Lúc đó Đông Chính Vương phục nơi cửa Quảng Phúc,đợi Thái Tử đến là đánh úp.Nhưng một lác sau Thái Tử mới từ cửa Tường Phù đi vào, khi đến điện Càn Nguyên biết là có biến, Thái Tử sai người hầu đóng hết cửa điện,sai vệ sĩ trong cung phòng giữ. Thấy Phật Mã không nở xuống tay,nội thị là Lý nhân Nghĩa xin đánh một trận để quyết được thắng,thua,theo như gương Đường Thái Tông và Chu công Đán ngày trước.

Quân của ba vương đánh rất gấp,Thái Tử bèn sai vệ sĩ trong cung mở cửa thành và ra đánh. Lê phụng Hiếu sức khỏe hơn người,một mình vượt hơn trăm quân.Ra trước cửa Quang Phúc,xông ngựa thẳng đến chỗ Vũ Đức Vương, vương quay ngựa tránh nhưng ngựa quỵ xuống, bị Phụng Hiếu bắt và giết chết.Quân của ba vương bị thua,quan quân đuổi theo giết chết,nhưng hai vương Đông Chinh và Dục Thánh chạy thoát.

Khi Lý Phật Mã lên ngôi,tức là Lý Thái Tông,niên hiệu là Thiên Thành,hai vương chạy thoát sau đó được ông tha tội. Cũng vì từ biến loạn nầy,để ngăn ngừa Về sau. Lý Thái Tông đặt ra “Hội thề thần Đồng cổ” sau chùa Thánh Thọ,lấy ngày 25 tháng ấy,đắp đàn ở trong miếu,cắm cờ xí,chỉnh đốn đội ngũ,treo gươm giáo ở trước thần vị,đọc lời thề rằng: “Làm con bất hếu,làm tôi bất trung,xin thần minh giết chết”. Các quan từ cửa đông đi vào,đến trước thần vị cùng uống máu ăn thề,hàng năm lấy làm lệ thường mà ôn các lời thề ấy.Về sau tháng 3 có ngày quốc kỵ,nên phải chuyển sang ngày 4 tháng 4.Nếu không có mặt trong buổi lễ,người bị tội sẽ bị đánh 50 trượng.

Việc Thái Tử Phật Mã dẹp được loạn,giữ được ngôi khiến chính trị nhà Lý từ đó được ổn định,chấm dứt tình trạng biến loạn đoạt ngôi như dưới triều nhà Ngô là: Dương Tam Kha, nhà Đinh là Lê Hoán,nhà tiền Lê các hoàng tử tranh ngôi.Cũng từ đó vua Lê Thái Tông lập ra một bộ luật Hình Thư là bộ luật thành văn, đầu tiên của Đại Cồ Việt.

Lý Thái Tông được coi là một ông vua anh minh,vó nhiều đóng góp to lớn trong triều đại Nhà Lý. Năm 1044, nhà vua cho giảm một nửa tiền thuế cho dân,Năm 1042 nhà vua cho ban hành bộ luật Hình Thư,là bộ luật thành văn đầu tiên của người Việt.

*Vì là một người yêu chuộng Phật giáo,Lý Thái Tông cho xây chùa một cột.

Theo như truyền thuyết,thì vào năm 1049 trong một giấc mơ, vua Lý Thái Tông đã nằm mơ trông thấy Phật Bà Quan Âm tọa trên đài sen,sau đó Phật Bà mời nhà vua lên cùng. Tỉnh giấc vua liền kể với các bề tôi và nhà sư Thiên Tuệ về giấc mơ ấy. Và nhà sư Thiên Tuệ đã khuyên vua nên dựng ngôi chùa như trong giấc mơ,nhà vua đã thực hiện việc xây ngôi chùa đúng như trong giấc mơ của mình.Từ đó nhà vua thường lui tới tụng niệm phật và cầu nguyện. Ngôi chùa mà vua Lý Thái Tông cho xây năm 1049 gọi là chùa Thiên Hựu tức chùa một cột còn lưu lại đến ngày nay, mà mọi người chúng ta đang chiêm ngưỡng.Chùa một cột là biểu tượng của sự phồn thịnh của dân tộc Đại Cồ Việt.

Đến tháng 9 năm Mậu Dần,sức khỏe nhà vua Lý Thái Tông đang bị yếu dần, cho đến ngày mồng 1 tháng 10 năm 1054 nhà vua băng hà.Trị vì được 27 năm,trong 27 năm nhà vua đã xây dựng cho nước Đại Cồ Việt một nền kinh tế phồn thịnh,nhất là nhà vua đã lo việc chống giặc ngoại xâm, bên cạnh là tiêu diệt các băng đảng trộn cướp quấy phá nơi biên giới,đã mang lại những kết quả,thật to lớn,giúp cho đất nước một sự yên bình,thạnh trị.Khi nhà vua băng hà,Thái Tử Nhật Tôn lên thay,ngài là cháu nội của vua Lý Thái Tổ và Linh Cảm Hoàng Hậu Mai Thị .

  1. Lý Thánh Tông:

Lý Thái Tông là vị vua thứ 3 của triều đại nhà Lý,tên đúng của nhà vua là Lý Nhật Tôn, là con thứ 3 của vua Lý Thái Tông và Linh Cảm Hoàng Hậu Mai Thị. Sinh ngày 30 tháng 3 năm 1023.Ông được vua cha lập làm Thái Tử năm 1028. Thái Tử Nhật Tôn sớm tinh thông kinh sử,rành âm luật,bên cạnh lại rất giỏi võ nghệ, Thái Tử tỏ ra là người thông minh xuất chúng. Năm Quí Dậu (1033) vào tháng 8,Thái Tử Lý Nhật Tôn,được vua cha phong tước hiệu Khai Hoàng Vương cho ở cung Long Đức để học tập. Cũng giống như vua cha,ông sớm được tiếp xúc với dân chúng bên ngoài nên hiểu được nổi khổ của họ,và thông thạo được nhiều việc trong dân gian.

Vua Lý Thánh Tông cũng có nhiều niên hiệu như vua cha:

Ông lên ngôi năm 1054 , niên hiệu : Long Thụy Thái Bình năm 1054- 1058.

Long Chương Thiên Tự năm 1059-1064.

Long Chương Thiên Tự năm 1065-1067

Thiên Thống Bảo Tượng năm 1068-1069

Thần vũ Năm 1069-1072.

Thời gian trị vì được 17 năm 90 ngày,kể từ 3 tháng 11 năm 1054 dến 1 tháng 2 năm 1072

Hưởng thọ được 48 tuổi.Ông là vị vua thứ ba thuộc triều đại Nhà Lý.

Năm 15 tuổi (1037) ông được vua Lê Thái Tông phong làm Đại Nguyên Soái,cùng vua cha đi dẹp loạn ở Lâm Tây (Lai Châu) ông lập được cong lớn. Năm 1039 Lý Thái Tông đi đánh Nùng Tồn Phước,lúc nầy Thái Tử Nhật Tôn đã lên 19 tuổi, được vua cha phong chức Giám Quốc,coi sóc kinh thành cùng việc triều chính. Ngày mồng 1 tháng 4 năm Canh thìn (1040).Ông lại được vua cha giao cho công việc là xử các vụ kiện tụng trong nước, đặt điện Quảng Vũ giao cho ông phụ trách.

Những thành tựu trong suốt thời gian trị vì của vua Lý Thánh Tông.

Trong suốt thời gian cầm quyền 17 năm, vua Lý Thánh Tông đã quyết định đổi tên nước từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt,mở ra một thời kỳ thịnh vượng mới cho đất nước. Quốc hiệu nầy sau nầy các vương triều kế tiếp luôn xử dụng cho đến đời nhà Hồ, Hồ quý Ly quyết định đổi tên nước thành Đại Ngu vào năm 1400 mới chấm dứt,như vậy quốc hiệu Đại Việt của nước ta đã được xử dụng kéo dài 346 năm.

Những thành tựu khác dưới triều đại trị vì của vua Lê Thánh Tông,ông đẩy mạnh việc sản xuất nông nghiệp tạo điều kiện cho người dân có đời sống tốt hơn,nhà vua giảm mọi hình phạt,đồng thời bảo trợ cho Phật Giáo,Nho Giáo, cũng như Lão Giáo để hòa nhập thành một triết lý được gọi với tên là TAM GIÁO ĐỒNG QUI, một triết lý thích hợp với xã hội lúc bấy giờ, gây được sự đoàn kết các tầng lớp dân chúng trong xã hội lúc bấy giờ, làm cho quốc gia thịnh vượng.

Về phương diện đối ngoại, năm 1069,nhà vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành,vì Chiêm Thành luôn sang quấy nhiễu biên giới nước ta. Quân nhà Lý đánh thẳng vào tận kinh đô Chiêm Thành bắt được vua Chiêm là Chế Củ, Chế Củ xin dâng đất ba châu là Đại Lý, Ma Linh và Bố Chánh để chuộc tội.Vua Lê Thánh Tông lấy ba châu và cho Chế Củ về nước. Những Châu ấy,nay thuộc địa hạt các huyện Quảng Ninh,Quảng Trạch,Bố Trạch, Tuyên Hóa, Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình,và huyện Bến Hải Quảng Trị.Như vậy dưới triều vua Lê Thánh Tông,biên giới Đại Việt được mở rộng một cách đáng kể, đến tận sông Bến Hải tỉnh Quảng Trị bây giờ.

Về văn học,vua Lý Thánh Tông cho xây văn miếu,đắp tượng thờ Khổng Tử, Chu Công,Tứ Phối,vẽ tượng Thất Thập Nhị Hiền bốn mùa cúng tế,với tư tưởng muốn mở mang Nho Học. Lý Thánh Tông là vị vua đầu tiên khởi xướng thuyết của Nho Giáo áp dụng vào việc cai trị quốc gia, giúp các vua kế tiếp noi theo.

Tóm lại: Những thành tựu dưới thời vua Lý Thánh Tông đã thu đạt được một thành quả thật đáng kể :

Thứ nhất: là đổi tên nước từ Đại Cồ Việt thành ĐẠI – VIỆT mở ra một kỷ nguyên mới.

Thứ hai: Là bước đầu của việc phát triển Nho Giáo, đưa triết lý Nho giáo vào làm văn hóa chính

Áp dụng vào chính sách cai trị nhà nước. Thành lập trường Đại học Văn Miếu tại Thăng Long. Đồng thời cho xây dựng hệ thống trường học Văn Miếu mở rộng, giúp dân chúng có nơi học tập.Đắp tượng Khổng Tử,tức mở mang Nho học,khởi xướng việc áp dụng vào chính sách cai trị đất nước,để các vương triều kế tiếp noi theo.

Thứ ba: Đề cao phát triển nông nghiệp,vấn dề phát triển nông nghiệp là việc mà Lý Thánh Tông rất chú trọng nên năm 1056 nhà vua ban chiếu khuyến nông,đồng thời đi tới các miền quê dể khảo sát, xem tình hình thực tế việc chăm sóc cây lúa cũng như việc thu hoạch mùa màn của dân chúng trong nước.Những lúc gặp thiên tai việc làm mùa khó khăn, nhà vua thực hiện chính sách hổ trợ dể khuyến khích người nông dân cố gắng vượt qua những khó khăn đó.Nhà vua cho mở kho lương,lấy tiền giúp cho dân nghèo.

Thứ tư: Xây dựng quân đội Đại Việt hùng mạnh, áp dụng chính sách đối ngoại cứng rắn với Đại Tống và Chiêm Thành,mở rộng lãnh thổ về phía nam rộng đến sông Bến Hải . Là đất thuộc ba châu Đại Lý, Ma Linh,Bố Chánh và một quận Bến Hải phía bắc Quảng trị ngày nay mà vua Chinh Thành chuộc tội vào năm 1069. Sử thần Ngô sĩ Liên đời Hậu Lê dã viết về vua Lý Thành Tông như sau: “ Là một vị vua khéo kế thừa,thực lòng thương dân,dặt khoa bác sĩ,hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn,phòng bị việc võ,trong nước yên tỉnh,đáng được gọi là vị vua tốt”

Các thành quả của nhà vua,xét cho thật đúng một phần ông có được một phụ tá thật tài giỏi là bà Nguyên Phi Ỷ Lan đã giúp ông trong nhiều công việc,điều hành triều chính,lo việc quân lương đầy đủ, trong lúc nhà vua xuất quân.

Ngày 01 tháng 02 năm 1072,nhà vua băng hà tại điện Hội Tiên. Trị vì được 18 năm,hưởng thọ 49 tuổi.Nhà vua được an táng tại Thọ Lăng,phủ Thiên Đức.

Ba vị Hoàng Đế đầu tiên của nhà Lý đều lên ngôi ở tuổi trưởng thành,và qua đời đều ở độ tuổi trên dưới 55,có tư tưởng và thực thi chính sách kế tục nhau rất nhất quán.Ba vị vua đầu tiên nầy đều ở ngôi tương đối dài,sau khủng hoãn loạn Tam vương,nội bộ không còn tranh chấp,vì vậy chính quyền nhà Lý càng ngày càng được cũng cố.

Tuy nhiên vua Lý Thánh Tông hiếm muộn con, ông luôn phải đi cầu tự khắp các ngôi chùa,mãi cho đến lúc đi ngang qua làng Thổ Lỗi,ngoại thành Thăng Long . Khi ông gặp được cô gái hái dâu là Ỷ Lan ( Lê thị Khiết) ,nhà vua đưa cô gái về cung, một thời gian sau Ỷ Lan đã sinh cho ông một Hoàng Tử đặt tên là Lý càn Đức. Lúc nhà vua qua đời Lý Càn Đức còn rất nhỏ,tuy nhiên, Lý càn Đức vẫn phải được đưa lên ngôi tiếp nối ngôi vua cha. Từ việc đưa lên ngôi một cậu bé . “Lịch sử Nhà Lý đã phải cấu kết thành một câu chuyện về “ Nguyên Phi Ỷ Lan” cả công, cả tội phát xuất từ một người phụ nữ quê, là một cô gái hái dâu”.Câu chuyện nầy sẽ viết lại sau.

  1. Lý Nhân Tông:

Lý Nhân Tông tức là Lý Càn Đức. Là vị vua có nhiều niên hiệu nhất thuộc triều đại nhà Lý.

*Niêu hiệu: Thái Ninh (1072- 1076) ; Anh Vũ Chiêu Thắng ( 1076- 1084); Quảng Hựu ( 1085- 1092); Hội Phong ( 1092- 1100); Long Phù ( 1101- 1109); Hội Trường Đại Khánh ( 1110- 1119) ; Thiên Phù Duệ Vũ ( 1120- 1126); Thiên Phù Khanh Thọ (1127- 1127).

*Lý Nhân Tông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1066 tại cung Động Tiên.Thăng Long.

*Ngày lên ngôi : 01 tháng 2 năm 1072.

*Thời gian trị vì 1072- 1128 (tức 56 năm)

* Ngày vua băng hà 15 tháng 1 năm 1128 thọ 61 tuổi tại Điện Vĩnh Quang, Thăng Long.

Lý nhân Tông là vị vua ngồi trên ngai vàng dài nhất trong lịch sử triều đại nhà Lý gồm 9 vị vua với 56 năm. Bên cạnh đó cũng là vị vua chiếm nhiều cái nhất thuộc kỷ lục trong các đời vua Việt Nam nói chung.

Những Cái nhất được liệt kê sau:

*Là vị vua được phong làm Thái tử sớm nhất: ông sinh giờ Hợi đêm 25 tháng giêng năm Bính Ngọ (1066) Vị vua cha hết đỗi vui mừng nên sáng ngày hôm sau được lập làm Thái Tử ngay,và vua cha đổi niên hiệu,đồng thời cho đại xá thiên hạ.

* Lý Nhân Tông là vị vua trị vì lâu nhất trong lịc sử Việt Nam:

Ông lên ngôi tháng giêng năm Nhâm Tý (1072) lúc mới 7 tuổi,ngồi trên ngai vàng đến tháng 12 năm Đinh Mùi (1127) như vậy đã ngồi trên ngai vàng được 56 năm.

*Lý Nhân Tông là vị vua có nhiều niên hiệu nhất.Trong thời gian trị vì của mình,Lý Nhân Tông đã đặt 8 niên hiệu,Là vị vua có niên hiệu nhiều nhất.

* lập Sắc Hoàng Hậu sớm nhất : Lý Nhân Tông là vị vua sắc lập Hoàng Hậu sớm nhất trong lịch sử.Sau khi vua cha băng hà,Tháng giêng năm Nhâm Tý (1072) ông được quần thần tôn lên ngôi Hoàng Đế lúc mới 6 tuổi,và điều đặc biệt lý thú là việc mà Lý Nhân Tông làm ngay sau khi lên ngôi đó là việc lấy vợ.

* Cuộc ra quân Bắc Phạt lớn nhất: Từ thế kỷ thứ X Đại Việt bước vào thời kỳ độc lập,tự chủ lâu dài.Nhưng vẫn luôn bị bọn giặc phương Bắc đe dọa xâm lược.Không chỉ để cảnh giác đề phòng,mà nhiều lần ông cha chúng ta đã chủ động ra quân Bắc phạt,không phải để dành dân, chiếm đất mà là để răn đe làm nhụt tham vọng của giặc, cũng là lúc đề cao sức mạnh của mình.Trong các cuộc ra quân ấy,duy chỉ có cuộc ra quân dưới triều đại Lý Nhân Tông ( Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan) là lớn nhất,nổi tiếng nhất trong lịch sử Đại Việt.Trấn áp quân Tàu ngay trên đất Tàu,bên cạnh trận đánh lịch sử tại sông Như Nguyệt.

*Lý Nhân Tông là vị vua cho mở khoa thi sớm nhất: Để chọn nhân tài dùng để bổ dụng làm quan sung vào bộ máy chính quyền điều hành công việc nước.Nhà vua cho mở khoa thi vào năm Ất Mão (1075) gọi là khoa Tam Trường,lấy những người học rộng hiểu nhiều về kinh sử bổ nhiệm ra làm quan,thay thế lệ tiến cử,và còn được gọi là khoa Minh Kinh bác học.

*Lý Nhân Tông là vị vua sớm nhất ban chiếu cầu lời nói thẳng: Tờ chiếu nầy được nhà vua công bố vào tháng 4 năm Bính Thìn (1076.

Lý nhân Tông là vị vua thú tư của nhà Lý trong lịch sử Đại Việt.Lý nhân Tông lên ngôi lúc mới 7 tuổi vào năm 1072 và trị vì đến năm 1128,tổng cọng 56 năm trên ngai vàng.Là vị vua có thời gian trị vì lâu nhất trong lịch sử Việt Nam thời quân chủ tập quyền.

Lý nhân Tông có tên đúng là Lý càn Đức, là người con trưởng của vua Lý Thánh Tông và mẹ là Nguyên Phi Ỷ Lan ( Lê thị Khiết). Theo sử sách mô tả, ông là vị vua có hình dáng,dung mạo khác người. “ Trán cao,mắt rồng,tay dài quá gối, thông minh thần võ, vua có xương trán nổi lên như mặt trời, ấy là dáng mặt của bậc Thiên tử ( Theo Đại Việt sử lược mô tả).

Những thành tựu về công nghiệp của Vua Lý Nhân Tông,

Dưới thời trị vì của Lý Nhân Tông,nước Đại Việt đã đi vào thời kỳ ổn định,đời sống dân chúng được no đủ. Ngân khố được dồi dào, Quân lính thật hùng mạnh, dưới sự chỉ huy của danh tướng Lý Thường Kiệt.

Về Ngoại Giao

Năm 1075.Đế quốc Tống dòm ngó,nhà vua đã sai Lý Thường Kiệt đem quân chống giặc, Lý Thường Kiệt đã phá tan quân Tống ở 3 châu Ung,Khâm,Liêm ngay trên đất Tống,trận oanh liệt nhất là cho quân Tống phải nể sợ là trận Thủy quân trên sông NHƯ NGUYỆT (trên đất Đại Việt) sau năm 1077 thì giữa Tống và Việt không còn cuộc chiến nào lớn nữa. Trong khi đó các nước láng giềng phương Nam là Chiêm Thành,Chân Lạp đều đã thần phục Đại Việt, và đã sang triều cống đều đặn.

Về Nội Chính. Sau khi đánh đuổi được quân nhà Tống,việc cai trị dưới triều Lý nhân Tông được ổn định,nhà vua cho mở các khoa thi để chọn nhân tài bổ nhiệm vào các chức quan lại phục vụ trong guồng máy nhà nước thuộc triều đình,thay thế việc tiến cử như trước, Đó là một cuộc cách mạng rất lớn đối với nền giáo dục mà triều đình đã điều chỉnh,trong việc đổi mới.Khoa thi đầu tiên đã chọn ra được 10 người có dầy đủ năng lực để bổ nhiệm vào các chức quan lại của Triều đình.

Trong suốt thời kỳ trị vì của vua Lý nhân Tông,khoa thi nho học đầu tiên được tổ chức vào năm 1075 bên cạnh là việc xây dựng Văn Miếu- Quốc Tử Giám. Vào năm 1076 nhà vua cho mở Quốc tử Giám tại Thăng Long,khai sinh ra nền giáo dục Đại Học của Đại Việt. Tiếp sau đó đã cho mở các khoa thi liên tục một hình thức chiêu sinh để chọn nhân tài cho đất nước.Ngoài ra Lý Nhân Tông còn quan tâm đến việc cũng cố ngành nông nghiệp bằng cách cấm giết loại gia súc là Trâu Bò,vì trâu bò phải dùng làm sức kéo cho nhà nông để phát triển nông nghiệp.

Thời kỳ hưng thịnh nầy nhà vua cho mở nhiều cuộc hội hè để dân chúng có dịp vui chơi,giải trí như đua thuyền,rước kiệu, múa rối nước v…v.

Phát huy về tâm linh: Phật giáo là tôn giáo thịnh hành được phát triển rất mạnh,nhà vua cho xây dựng rất nhiều cơ sở chùa chiền trên khắp cả nước.Nhà vua và Mẹ Ngài đều là những phật tử mộ đạo.Bên cạnh đó nhà vua luôn khuyến khích việc hành đạo của các thiền sư.

Nhưng rất tiếc vua Lý nhân Tông cũng là vị vua thiếu người nối giỏi.Theo Đại Việt Sử ký Toàn Thư,Bản Ky 3 quyển III viết: Năm Đinh dậu,Hội Tường Đại Khánh năm thứ 8 (1117). Vua Lý Nhân Tông xuống chiếu rằng: “Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có con nối, ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho ai ? Vậy nên trẫm nuôi con trai của các Vương trong hoàng tộc đó là Sùng Hiền Hầu,Thành Khánh,Thành Quảng,Thành Chiêu,Thành Hưng,chọn người nào giỏi thì lập làm Thái tử. Bấy giờ con của Sùng Hiền Hầu là Dương Hoán mới lên hai tuổi,nhưng tướng mạo trông rất thông minh, lanh lợi,vua rất yêu nên lập làm Thái Tử,và sau đó lên ngôi kế vị là vua Lý Thần Tông.Như vậy ngôi vua được chuyển đổi xuống cả một hệ.

  1. Lý Thần Tông: 1127 – 1138.

*Lý Thần Tông có hai Niên hiệu là: Thiên Thuận 1128 – 1132.

Thiên Chương Bảo Tự 1133 – 1137.

*Ngày năm sinh : sinh năm 1116.

* Lên ngôi ngày: 15 -01 – 1128.

* Thời gian trị vì: 10 năm

* Ngày mất: 31 – 10 – 1138 (22 tuổi).

Vua Lý Thần Tông có tên thật là Lý Dương Hoán, lên ngôi năm Đinh Mùi vào tháng 12. (15-01-1128) Là vị vua thứ 5 của Triều Đại Nhà Lý nước Đại Việt. LÝ Thần Tông là vị vua được kế vị ngai vàng không phải từ vua cha truyền lại,mà người được chọn thấp hơn một hệ.

Vua Lý THần Tông sinh vào tháng 6 năm Bính Thân (1116) tại Hầu Phủ , Kinh đô Thăng Long,là con trai của Sùng Hiền Hầu và bà phu nhân họ Đỗ ( không rõ tên).

Dân gian truyền tụng ông là “kiếp sau” của nhà sư Từ Đạo Hạnh.

Sách Dại Việt sử ký Toàn Thư viết: Lý Thần Tông là cháu gọi Thánh Tông bằng ông ,gọi vua Lý Nhân Tông bằng Bác.,được vua Nhân Tông chọn nuôi trong cung cùng các người anh em khác gồm 5 người.Nhưng Lý Dương Hoán tướng tá lanh lợi tỏ ra thông minh, được nhà vua yêu nên được nhà vua lập làm Thái Tử lúc mới lên 2 tuổi, Khi Nhân Tông băng hà,bèn lên nối ngôi báu.

Lý Thần tông là vị vua bị mắc bệnh lạ nhất. Theo sử chép lại năm 21 tuổi,nhà vua bị một căn bệnh mà không một thầy thuốc nào chẩn trị được.Triều đình đã cho gọi tất cả danh y trong nước đến chữa, nhưng không một ai chữa được.,tất cả đều bó tay.Nhưng có nhà sư Minh Không,ông đã tìm đến và chữa khỏi bịnh cho vua,nên được ban thưởng lớn và được phong làm Không Lộ quốc sư.

Bịnh tình của nhà vua khá kỳ lạ,theo lời đồn trong dân gian nói,nhà vua đã bị hóa hổ,lông lá mọc cùng mình,tiếng kêu đau đớn nghe như tiếng gầm rú của cọp,ai nấy đều kinh hải,khiếp sợ.Sau nhờ có nhà sư Minh Không đã chữa khỏi.

Những thành quả trong thời gian trị vì của vua Thần Tông.

Lý Thần Tông mất sớm mới được 23 tuổi,trị vì được 10 năm.Nhưng được kế thừa những di sản,,tư tưởng nhân văn và quân sự quý báu của các vị vua trước,mà thực hiện được nhiều công việc mang tính nhân văn tiến bộ. Trong thời gian làm vua,Lý Thần Tông được nhiều quan lại trong triều giúp đỡ như Lê Bá Ngọc, Lưu khánh Đàm.Thái phó Dương anh Nhĩ, Thái úy Lý công Bình.Giám nghị Đại Phu Mâu Du Đô,chỉ hy sứ Lý Sơn. Đều là những người có năng lực,đã dược vua Lý Nhân Tông tin tưởng giao việc, nên thời đại Thần Tông cai trị,nước Dại Việt vẫn còn được ổn định. Lúc bấy giờ các nước láng giềng đều còn có quan hệ tốt.Lý Thần Tông cũng tin đạo Phật,nên nhà vua đã quan tâm mở rộng việc xây chùa,tô tượng,khánh thành những bảo tháp,các công việc ấy thì được thực hiện thường xuyên.

Bên cạnh đó,về nông nghiệp nhà vua cho thực hiện toàn diện chính sách “ngự binh,ư nông” mà các triều trước đã nghiên cứu, nhưng chỉ áp dụng mới từng phần.Bây giờ nhà vua cho áp dụng trên cả nước,và coi đó là chính sách chung của quốc gia,tạo sự quan hệ giữa nhà nông và nhà binh,để tạo một lực lượng mạnh cho quân đội khi cần dùng lúc có biến.

Năm 1138,Lý Thần Tông qua đời mới 23 tuổi,trị vì mới được 10 năm.Trước đó Lý Thần Tông đã lập con trưởng là Lý Thiên Lộc làm Thái tử.Nhưng Cảm thán Phu nhân,cùng với Phụng thán Phu nhân,Nhật Phụng phu nhân,dùng tiền hối lộ hoạn quan Từ văn Thông để cho vào gặp Thần Tông,xui vua bỏ Thái tử Thiên Lộc,Thần Tông nghe theo,bèn lập con nhỏ là Thiên Tộ làm Hoàng Thái Tử,giáng Thiên Lộc xuống làm Minh Đạo vương. Nên Thiên Tộ lúc lên ngôi mới 3 tuổi,tức là Lý Anh Tông .

  1. Lý Anh Tông: 1138 – 1175.

Lý Anh Tông là vị vua thú sáu của Triều đại nhà Lý trị vì từ 1138 dến năm 1175 ,tổng cọng được 37 năm, Thời vua Lý Anh Tông,triều đình nhà lý đã phải huy động một lực lượng quân sự dông nhất trong lịch sử dùng trấn áp tội phạm,vì loạn khắp nơi.Năm 1163 vua phải sai Phi công Tín đem 10 vạn quân đi đánh dẹp các đảng cướp.

Về nội chính: Khi Lý Anh Tông lên ngôi chỉ mới 3 tuổi,Cảm thán phu nhân Lê Thị mẹ của nhà vua lại trở thành Hoàng Thái Hậu. Bà Hoàng Thái hậu nầy lại trọng dụng Đỗ Anh Vũ là người tình của vua Lý Thần Tông ( ông nầy có mã rất đẹp trai nên được vua yêu thích mà cho vào hầu trong trướng nên gọi là người tình của nhà vua) Dỗ Anh Vũ lại là em ruột của Đỗ thái Hậu và là cháu gọi Lý thường Kiệt bằng cậu, cũng là con nuôi của Thái Sư Trương bá Ngọc,nên được cho làm nhiếp chính. Vì những quan hệ trên nên Thái Hậu chỉ tin tưởng mỗi Anh Vũ. Việc đó khiến nhiều đại thần gồm: Điện Tiền chỉ huy sứ Vũ Đái,Phò mã Dương tự Minh cùng một số thân vương nhà Lý bất bình làm binh biến để bắt Anh Vũ,Họ đã bắt được nhưng rồi không quyết đoán giết ông,chỉ bị đày đi cày ruộng cho nhà nước gọi là Cảo điền nhi. Không lâu sau Thái Hậu cố nghĩ cách làm thế nào để phục chức.Bèn tổ chức nhiều lần những hội lớn để ân xá cho tội nhân. Anh Vũ được mấy lần xá tội,trở lại triều đình làm Thái Úy Phụ chính như cũ,lại càng được yêu dùng hơn.

Đỗ Anh Vũ tìm cách trả thù, Anh Tông còn nhỏ,mọi việc đều chuẩn tấu theo Anh Vũ,năm 1150 một số tôn thất cùng mọi người tham gia binh biến đều bị Đỗ Anh Vũ tổ chức các cuộc thanh trừng một cách đẫm máu, đối với mọi người chống đối một số bị giết, một số bị lưu đày.

Năm 1158, Đỗ Anh Vũ chết,vua Anh Tông phong Tô Hiến Thành lên làm Thái Úy,Tô Hiến Thành đã giúp vua Anh Tông một cách đắc lực,ông là người giỏi võ nghệ,nên luôn lo việc tuyển chọn

quân lính,đồng thời đem quân tuần tra biên giới mà đánh với quân Chiêm Thành,bọn cướp Ngưu Hống,ngăn giặc Ai Lao xâm nhập biên cương Đại Việt. Vua Anh Tông còn đích thân vi hành khắp các xứ, để nhìn thấy rõ đời sống của dân chúng, bên cạnh là hiểu biết đường đi đến các xứ xa Gần.

Nhà vua dặt ra Xạ Đình,sai các quan võ hằng ngày luyện tập binh pháp.Cuối đời vua Anh Tông lại lập người con thứ sáu lên làm Hoàng Thái Tử tức là Lý Long Trát còn gọi là Lý Long Càn.Vì Lý Long Xưởng Thái tử bị tội, ve vãn cung nữ của vua cha. Khi vua Lý Anh Tông chết năm 1175,Long Trát lên ngôi chỉ mới hai tuổi, tức là vua Lý cao Tông.

Các vua đời sau thuộc triều đại nhà Lý,đều lên ngôi ở tuổi rất nhỏ,đã tạo nên sự suy vong của nhà Lý.Từ đời Lý Thần Tông đã chớm nở sự suy đồi ấy nhưng còn được gọi với nhóm từ là Thời kỳ Trung Suy và đến thời Lý cao Tông lên ngôi nhà Lý bước vào thời kỳ thật sự bị suy vong.

  1. Lý Cao Tông 1175 – 1210

* Niên hiệu : Trinh Phù 1176 – 1185; Thiên Tư Gia Thụy 1186 – 1201; Thiên Gia Bảo Hựu 1202 – 1204; Trị Bình Long Ứng 1205 – 1210.

* Tên đầy đủ là Lý long Trác hoặc là Lý long Cán.

* Ngày sinh: ngày 6 tháng 7 năm 1173.

* Thời gian trị vì là 35 năm 93 ngày ( 14 tháng 8 năm 1175 -15 tháng 11 năm 1210)

* Ngày mất : 15 tháng 11 năm 1210 (thọ 37 tuổi ).

Thời đại dưới triều Lý Cao Tông vị vua thứ 7 của Nhà Lý, cai trị từ năm 1175 đến 1210,thời kỳ thuộc quyền cai trị của ông đã đánh dấu bắt đầu sự suy tàn không thể vực dậy của triều đại Nhà Lý hay còn được gọi là Cao Tông trung suy.

Lý Cao Tông tên thật là Lý Long Trác hay Long Cán là con trai thứ 6 của vua Lý Anh Tông,mẹ ông là bà Đỗ thụy Châu,ông sinh ngày 06 tháng 07 năm 1173 nhằm ngày 25-05 năm Quý Tỵ,cầm tinh con Rắn,cung Cự Giải theo Hoàng đạo Phương Tây.Ông chính là anh thứ của Lý Long Tường, là người sau nầy phải vượt biên sang Cao Ly và lại trở thành Hoa Sơn Tướng Quân của Cao Ly (Hàn quốc thời xưa).Dòng Lý Long Tường hiện tại ở Bắc Triều Tiên rất đông.

Lý Cao Tông lên ngôi khi mới 3 tuổi.mẹ là Đỗ phu Nhân trở thành Chiêu Thiên Chí Lý Hoàng Thái Hậu. Đỗ an Di em trai bà trở thành ngoại thích. Tô Hiến Thành được giao cho việc phụ chính kèm cặp giúp nhà vua.

Chiêu Linh Hoàng Thái Hậu mẹ của Thái tử cũ Lý Long Xưởng cố giành lại ngôi báu cho con trai mình,nhưng không thành,đem vàng bạc đuốc lót cho Tô Hiến Thành, nhưng ông một mực không chịu, quyết theo di chúc mà lập vua mới là Thái tử Lý Long Trác.

Giữa năm 1179,lúc bấy giờ Cao Tông mới lên 6 tuổi, Thái Úy Tô Hiến Thành lại qua đời. Đỗ An Di được phong làm phụ chính,năm 1188 Đỗ An Di cũng lại qua đời, Ngô Lý Tín được trao quyền Phụ chính,nhưng rồi đến năm 1190 ông cũng lại qua đời. Đàm dĩ Mông là em trai của An Toàn Hoàng Hậu được cân nhắc lên làm phụ chính,

Nhưng lúc Cao Tông trưởng thành lại chỉ tích chơi bời,cho mua quan,bán tước loạn xạ để lấy tiền,khiến xã hội bất ổn,bọn bất tài có nhiều tiền là được làm quan gây phiền nhiễu cho dân chúng.Nhà vua lại còn cho bán tội ngục nữa. Tôi Ngục là hình thức nếu có hai người đang tranh giành nhau về một vật,một tài sản có giá trị,mà hể có ai dâng tiền bạc thì được lấy của đó đem về làm của riêng,không cần qua tra xét gì cả,do vậy mà tài sản trong cung kho bạc đầy như núi,dân chúng thì đói khát phải kêu khóc bên ngoài vẫn mặc kệ. Giặc cướp nổi lên như ong. Nhiều thủ lĩnh địa phương nhân triều đình trung ương suy yếu cũng ngầm xây dựng thế lực riêng cho mình chuẩn bị việc nổi dậy.

Lý Cao Tông là vị vua thích phô trương nhất,ông sai xây dựng và sữa chửa nhiều cung điện,lầu gát sao cho thật to đẹp,lộng lẫy như điện Vĩnh Ninh,gác Kinh Thiên. Các thuyền của nhà vua cũng phải làm rất lớn,đẹp đẽ và cầu kỳ như thuyền Ngoạn Giao đóng năm Canh Tuất (1197). Vua còn cho xây cung Nghinh Thiềm và hành cung hơn 100 nơi khác nữa.

Sự nổi loạn:Năm Bình Thìn 1208 ở Nghệ An Phạm Du chiêu nạp những đồ vong mệnh,cho đi cướp khắp nơi các thôn dân và đã có bụng làm phản,Cao Tông sai quan Phụng Ngự là Phạm bỉnh Gi đi đánh dẹp.Bỉnh Gi đem quân vào tận nơi đánh đuổi Phạm Du,tịch biên của cải,rồi đốt phá nhà cửa. Phạm Du lại cho người về kinh,lấy vàng bạc đuốc lót các quan trong triều,để vu cho Bỉnh Gi ra làm việc hung bạo,giết hại những người vô tội,Phạm Du lại xin về triều để kêu oan.

Cao Tông nghe lời cho vời Phạm Du vào chầu và triệu Phạm Bỉnh Gi về..Bỉnh Gi về vào triều chầu,Cao Tông lại cho bắt nhốt Bỉnh Gi lại.Lúc bấy giờ có bộ tướng của Bỉnh Gi là Quách Bộc,đem quân vào phá cửa thành vào cứu Bỉnh Gi. Cao Tông thấy có biến,nên đem giết Bỉnh Gi, rồi cùng Thái tử chạy lên mạng Qui Hóa, huyện Tam Nông Phú Thọ, Thái tử Sam thì chạy về Hải Ấp ,làng Lưu Gia ( Bây giờ là làng Lưu Xá huyện Hưng Nhân).

Bọn Quách Bốc đưa xác Bỉnh Gi ra ngoài thành chôn cất xong rồi,vào điện tôn Hoàng Tử Thẩm lên làm vua.

Khi Thái Tử Sam chạy về Hải Ấp vào nhà Trần Lý. Nguyên Trần Lý là người làng Tức Mạc (huyện Mỹ Lộc,phủ Xuân Trường,tỉnh Nam Định) làm nghề đánh cá,nhà giàu,có nhiều người theo phục,sau đó nhân buổi loạn nên cũng đem chúng đi cướp phá.Đến khi Thái tử Sam chạy về đấy,thấy cô con gái Trần Lý có nhan sắc mặn mà,bèn lấy làm vợ,rồi phong cho Trần Lý tước Minh Tự và phong cho người cậu của Trần Thị là Tô Trung Từ,người làng Lưu Gia làm chức Điện Tiền chỉ huy sứ.

Anh em nhà họ Trần mộ quân về kinh dẹp loạn,rồi lên Qui Hóa rước Cao Tông về cung,Cao Tông cho quân về làng Lưu Gia đón Thái Tử,còn Trần thị Dung thì về ở nhà Trần Lý.

Cao Tông về cung được một năm thì mắc bệnh,đến tháng 10 năm Canh Ngọ thì mất ( 1210) Trị vì được 35 năm,thọ 38 tuổi.

*8) Lý Huệ Tông 1211 – 1225

* Niên hiệu: Kiến Gia ( 1210 – 1224)

* Tên đầy đủ: Lý hạo Sảm

* Sinh ngày: Tháng 7 năm 1194 tại Thăng Long**.**

* Năm lên ngôi: năm 1224.

* Thời gian trị vì 10 năm từ 15-11-1210 đến tháng 10 năm 1224**.**

* Ngày mất : ngày 3 tháng 9 năm 1226 ( 32 tuổi) tại chùa Chân Giáo,Thăng Long.

Lý huệ Tông là vị vua thứ 8 thuộc triều đại Nhà Lý, ông trị vì đất nước từ khi lên ngôi 1211 đến 1224. Ông có tên thật là Lý Sảm (hay Lý Hạo Sảm),sinh tại kinh đô Thăng Long,Đại Việt. Là con trưởng của vua Lý Cao Tông và mẹ là Hoàng hậu họ Đàm,ông được sinh vào tháng 7 năm Giáp Dần 1194. Đến năm Mậu Thìn 1208,được vua cha lập làm Thái Tử,lúc bây giờ đã 15 tuổi.

Vua Lý Huệ Tông được sinh ra vào thời loạn,từ khi còn là Hoàng Thái Tử,ông đã bao phen chạy loạn khốn đốn bởi cảnh chém giết nhau trong triều của các quan lại.

Cao Tông được rước về kinh thành Thăng Long không lâu sau bị bịnh và qua đời năm 1226,lúc 38 tuổi. Thái Tử Lý Sảm (Lý Hạo Sảm) lên ngôi tức Lý Huệ Tông lúc 16 tuổi. Huệ Tông cho lão thần Đỗ kính Chu làm Thái Úy Phụ Chính.

THẾ - LOẠN:

Tại Hải ấp,Tô trung Từ nắm giữ binh quyền vì Trần Lý đã chết ,Tô Trung Từ lại giết chết Đỗ kính Tu.Các tướng của Tu là Đỗ Quảng,Đỗ thế Qui và Phí Lệ cùng nhau lập mưu đánh Trung Từ. Trung Từ biết thế quân của mình nhỏ hơn liên quân của họ,bèn lập mưu kế lừa gạt,vờ hòa hoãn với họ mà đang đêm tăng cường binh sĩ mưu trừ. Ông cho tùy tướng Đào Phán bất ngờ ùa binh đánh diệt Đỗ Quảng,Phí Lệ.Bọn họ xung phong tiến đánh quân của Đào Phán,nhưng Đào Phán thoát được, Phán bèn đánh úp Đỗ thế Qui,bắt được Qui và Qui bị đem ra tùng xẻo giữa chợ trời.

Huệ Tông sợ hải ,vội phong Trung Từ làm Thái Úy phụ chính, ban tước Vương,rồi sai người đi đón Trần thị Dung về và phong làm Nguyên Phi,cho anh của Nguyên Phi Dung là Trần tự Khánh làm Chương Thành Hầu.

Sau khi dẹp được các thế lực chống đối mình,Tô Trung Từ lại bị giết một cách đột ngột vào năm 1211,khi đang thông dâm với Thiên Cực Công Chúa, là người trước đây đã tư thông với Phạm Du, đã bị chồng công chúa là Vương Thượng bắt quả tang nên đã giết chết Tô Trung Từ (luật nhà Lý cho giết gian phu không bị tội). Như vậy quan đầu triều đã bị giết,kinh thành lại hổn loạn,con rể Trung Từ thế cô nên phải dựa vào họ Trần, rồi cùng với vợ là Tô Thị (em của Trần tự Khánh) lên thuyền sang đạo thuận lưu để gặp bộ tướng của Lê trung Từ là Nguyễn Trinh thì bị Nguyễn Trinh giết chết,cướp lấy Tô Thị đem về.Tô Thị sai người tố cáo với Trần Thừa,Trần Thừa bèn sai Tô Thị lập mưu dụ cho được Trinh để giết chết, như vậy lực lượng của Tô Trung Từ đã hoàn toàn tan rã. Trần tự Khánh nhân lúc Ma La kéo quân đi,kinh thành bỏ trống,lập tức mang quân về kinh sư,rồi an táng Tô Trung Từ ở Làng Hoạch, đồng thời chiếm giữ kinh thành.

Sau khi Tô Trung Từ chết, Huệ Tông dùng cậu là Đoàn dĩ Mông làm Thái Úy phụ chính,Đoàn thái Hậu cũng xen vào việc triều chính. Họ Đoàn muốn nhân có quyền ngoại thích lộng hành,làm cho chính sự ngày càng suy vong.

Hai lực lượng lớn nhất tranh quyền là họ Trần và họ Đoàn.Lý huệ Tông lo ngại ngoại thích nhà vợ họ Trần thế lực lớn,nên cùng ngoại thích nhà mẹ là cậu Đoàn dĩ Mông để muốn dựa vào họ Đoàn. Nghe họ Đoàn gièm pha Trần tự Khánh muốn phế lập.Huệ Tông tức giận hạ chiếu cho các đạo binh đánh Trần tự Khánh và giáng Trần thị Dung xuống làm Ngự Nữ. Đoàn Thượng và Đoàn văn Lôi đem binh về kinh sư, Huệ Tông hạ chiếu phong tước hầu cho Đoàn Thượng.

Lúc bấy giờ Trần tự Khánh dẫn quân đi đánh khắp nơi,thu phục được nhiều đất,đặc biệt chiếm được Hồng Châu,vùng từ Lạng Châu cho đến núi Tam Trĩ hết thảy vùng nầy là của Họ Trần.

Năm 1213, Đoàn Thượng phối hợp với quân Triều Đình đụng độ với Trần tự Khánh,tuy nhiên lực lượng họ Trần mạnh hơn,có nhiều tướng giỏi,trong khi đó quân của nhà Lý do Huệ Tông và Thái sư Đàm dĩ Mông không có tài làm tướng chỉ huy nên nhanh chóng thua trận. Tình hình dưới triều Lý huệ Tông bị rối loạn là như vậy.

Cuối cùng thì lực lượng của Trần tự Khánh rất mạnh,sau hàng loạt các biến cố tiếp theo,đều bị quân Trần tự Khánh đều đánh bại cả,thế lực Trần tự Khánh càng mạnh,buộc Huệ Tông phải tính trở về dựa vào họ Trần. Cuối năm Trần tự Khánh dẫn binh đánh được Đinh Khả và Bùi Độ ở Đại Hoàng (Ninh Bình) chiếm luôn vùng đất nầy.

Năm 1216, Huệ Tông sách phong Ngự Nữ Trần Thị Dung làm Thuận Trinh Phu Nhân. Đàm thái hậu cho Trần tự Khánh là kẻ phản trắc,nên rất ghét Trần thị Dung,bảo vua đuổi bỏ đi,nhiều lần muốn làm hại,nhưng Huệ Tông đều che chở.

Trước sức muốn giết con dâu của Đàm thái Hậu,Huệ Tông cùng với Phu Nhân lẻn đi đến chỗ quân của Tự Khánh ở bãi Cửu Liên. Từ đấy Huệ Tông đều dựa hẳn vào thế lực Tự Khánh. Tự Khánh bèn phế bỏ vua mới là Lý Nguyên Vương do ông ta lập trước đó. Và tôn Huệ Vương làm vua như cũ,rồi chuyên tâm bình định dẹp các thế lực.: Nguyễn Nộn ở Bắc Giang,Hiền tín vương Nguyễn Bát,Đoàn văn Lợi ,Đoàn Thượng ở Hồng Châu,Hà Cao ở Qui Hóa (Yên Bái,Tuyên Quang).

Họ Trần Nắm Quyền:

Cuối năm đó,mùa đông,Thuận Trinh Phu Nhân được sắc phong làm Hoàng Hậu, Huệ Tông phong chức cho một loạt người nhà họ Trần: Trần tự Khánh làm Thái Úy phụ chính.anh trai Tự Khánh là Trần Thừa làm nội chính Phán thủ,tước Liệt Hầu,Phùng tá Chu làm Quan nội Hầu, con trưởng của Trần Thừa là Trần Liễu làm Quan nội hầu,con trai trưởng của Thái Úy Trần Tự Khánh là Trần Hải làm Hiến Đạo Vương.Đến lúc nầy thì thế lực nhà Trần đã nắm giữ coi như toàn bộ ở triều đình. Các tướng Đoàn Thượng ở Hồng Châu,Lý Bát ở Phong Châu đều quy phục triều đình và được phong tước trấn giữ các nơi như cũ.

Lý Huệ Vương vào lúc nầy thường phát điên loạn,tự xưng mình là **Thiên Vương,**cắm cờ ở búi tóc,cầm giáo và khiên múa may, cho đến khi mệt thì uống rượu rồi ngủ li bì.Chính sự không giải quyết,giao phó cả cho Lê tự Khánh.Quyền lớn trong nước dần dần đều về tay họ Trần nắm giữ cả.

Loạn trong nước vẫn chưa dứt hẳn được Nguyễn Nộn ở Bắc Giang,bị Trần Thừa đánh thua chạy về phù Ninh (Bắc Giang 1218. Cùng năm đó Trần tự Khánh đưa em gái là Trần Tam Nương gả cho Hồng Châu là Đoàn văn Lôi,vốn là người có uy tín ở Hồng Châu.

Năm 1219,Phạm Dĩ và Hoàng Cá ở Nam Sách qua đời thuộc hạ là Nguyễn Lợi dâng thành cho Trần Tự Khánh.Năm 1220,Nguyễn Nôn tự xưng Hoài Đạo Vương,giữ Phù Đổng,dâng biểu xưng thần,Thái Úy Trần tự Khánh phê chuẩn, từ đấy Bắc Giang không còn công khai đối Kháng Triều Đình.. Và các xứ khác đều lần lược bị Trần tự Khánh cùng Trần Thừa đem quân đi dẹp yên cả.

Năm 1223 Trần tự Khánh qua đời,Huệ Tông lấy Trần Thừa làm Phụ Quốc Thái Úy, cho đặc quyền khi vào chầu không phải xưng tên.Nguyễn Nộn bắt đầu mạnh lên,là mối nguy hại cho nhà Trần đang lúc nắm giữ quyền bính trong triều.

Năm 1224 bệnh của Hệ Tông mỗi ngày một nặng,,không có con trai để nối nghiệp lớn. Bây giờ Triều Đình lại ủy nhiệm cho mỗi Trần Thủ Độ quản lĩnh các quan điện tiền hộ vệ cấm đình.Công chúa thứ hai của Huệ Tông là công chúa Chiêu Thánh được lập Hoàng Thái Nữ,rồi được đưa lên ngôi Hoàng Đế, Huệ Tông trở thành Thái Thượng Hoàng,rồi xuất gia đi tu ở chùa Chân Giáo,gọi là Huệ Quang Thiền sư,ngôi chùa trong đại nội Hoàng cung.,Đàm Thái Hậu cũng theo ông vào đấy xuất gia.

9) Lý Chiêu Hoàng 1224 – 1225.

Niên hiệu: Thiên Chương Hữu Đạo (1224 – 1225)

Tên đầy đủ: Lý phật Kim, sau đổi thành Lý Thiên Hinh.

Ngày sinh: tháng 9 năm Mậu Dần (1218) tại Thăng Long

Năm lên ngôi: năm 1224

Thời gian ở ngôi: từ tháng 10 năm 1224 - ngày 10 tháng 1 năm 1226.

Ngày mất: tháng 3 năm Mậu Dần 1278 tại Cổ Pháp thọ 61 tuổi.

Lý chiêu Hoàng (1218-1278) hay còn gọi là Chiêu Thánh Hoàng hậu, là nữ Hoàng của Đế quốc Đại Việt, cũng là vị vua cuối cùng của triều đại Nhà Lý,trị vì từ 1224- 1225, Lý Chiêu Hoàng là vị nữ Hoàng đầu tiên cũng là duy nhất trong vương triều Quân chủ chuyên chính của Đại Việt. Nhưng không phải là vị vua nữ giới đầu tiên của người Việt,vì trước bà vào đầu thế kỷ thứ nhất công nguyên, lịch sử người Việt đã có vị nữ quân chủ đầu tiên là Nữ Vương Trưng Trắc.

Lý Chiêu Hoàng ( Chiêu Thánh) ở ngôi báu chỉ hơn một năm,nên sử sách viết rất ít về bà,mà chỉ viết về bà chỉ mấy dòng sơ lược,nên hậu thế không biết mấy về nổi truân chuyên của vị vua nữ nầy.

Nữ Hoàng lên ngôi khi còn quá nhỏ,mà lại là con gái,mọi quyền hành triều chính đều do một tay mẹ bà là Hoàng thái hậu Trần thị Dung nắm giữ,lúc nầy người nhà họ Trần đã được đưa vào cung và nắm giữ các cơ quan trọng yếu của Triều Đình.Nên việc phế lập của bà là do một tay Trần Thủ Độ quyết định.Lúc bấy giờ Trần thủ Độ một tay coi giữ mọi việc cả trong và ngoài thành.

Trần Thủ Độ là anh họ Trấn Thị Dung Hoàng Hậu,là người có quyền hành lớn nhất trong triều lúc bấy giờ, đã buộc vua Huệ Tông xuống chiếu lập Chiêu Thánh công chúa làm Hoàng Thái Tử,rồi đưa giữ ngôi vua. Sau đó thì bức tử vua cha tại chùa Chân Giáo.Với sự sắp xếp của Trần thủ Độ được sự hổ trợ của Hoàng Thái Hậu nhiếp chánh Trần Thị Dung .Trần Cảnh con trai thứ của Trần Thừa được phong làm Chính Thủ,được Trần thủ Độ cho vào hầu hạ để gần gũi với vua Chiêu Hoàng,từ sự gần gũi ấy,Trần Cảnh lại được Chiêu Hoàng yêu Mến.

Dưới sự sắp đặt của Trần thủ Độ,Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh làm chồng,,rồi đến tháng 12 âm lịch năm 1225 (đầu năm 1226) nhằm ngày mồng một năm Mậu Dần.Chiêu Hoàng mở hội lớn ở điện Thiên An,trút bỏ ngự bào mà nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Từ đây Trần Cảnh lên Ngôi Hoàng Đế.Cha Trần Cảnh là Trần Thừa được tôn lên làm Thái Thượng Hoàng. Và từ đó về sau Chiêu Hoàng lại phải bước vào một cuộc đời bị bao phủ đầy sóng gió cho đến cuối đời, (cuộc đời vị nữ vương trẻ nầy chúng ta sẽ tìm hiểu sau).

Ngôi vua nhà Lý chánh thức chấm dứt mà chuyển sang cho nhà Trần từ đấy, một cách thật êm thắm,không một sự ồn ào,không phải tranh giành đổ máu. Nhà Lý đã làm vua 9 đời kéo dài 216 năm.Vì không lâu sau đó Thượng Hoàng Huệ Tông cũng bị Trần thủ Độ bức tử,phải tự sát ở chùa Chân Giáo. Như vậy là chấm dứt triều đại Nhà Lý vào năm 1226. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, về sau có người làm phép chiếc tự tên ông cho rằng: tên ông là Sảm.theo Hán tự có nghĩa là mặt trời gác núi.Theo nghĩa đó mà suy đến đời Lý Hạo Sảm,mặt trời nhà Lý sẽ tắt.Chấm dứt triều đại NHÀ LÝ với 9 đời vua,kéo dài được 216 năm,được chia làm hai giai đoạn ,4 vị vua đầu được liệt vào thời kỳ cực thịnh,5 vị vua đời kế tiếp,đều lên ngôi ở tuổi rất nhỏ,chỉ có vua Lý Nhân Tông được sự dìu dắt dạy bảo của bà mẫu hậu Ỷ Lan,là người có đủ toàn tài,nên vua Nhân Tông lại có được thời gian trì vì rất lâu,mà cũng được nổi tiếng là nhân hậu.Bốn vị vua kế tiếp đã lên ngôi lúc còn quá nhỏ,các bà Thái Hậu nhiếp chánh không đủ tài,nên không giúp được các vua trở nên tốt như các vị vua trước,đất nước sinh ra loạn lạc khắp nơi,làm cho nhà Lý phải chấm dứt, chuyển quyền cai trị đất nước sang cho một triều đại mới đó là Nhà Trần.

TỪ ĐÂY TRIỀU ĐẠI NHÀ LÝ ĐÃ CHẤM DỨT.

________________________________

BẢN PHỤ CHÚ GHI LẠI NHỮNG ĐIỂM TÍCH CỰC VÀ,TIÊU CỰC THUỘC TRIỀU ĐẠI NHÀ LÝ

Thứ nhất: Kiến trúc sư xây dựng nên đế chế nhà Lý: THIỀN SƯ VẠN-HẠNH.

Trong bản Thuyền Uyển Tập Anh đã ghi lại một số nét về con người nhà sư Vạn Hạnh như Sau: “Nhà sư họ Nguyễn, quê ở làng Cổ Pháp,gia đình đời đời thờ Phật.Ngài được sinh ra vào khoảng năm 937 và mất khoảng 1018, là một tu sĩ được sử sách thừa nhận đã giữ vai trò chủ chốt trong cuộc đảo chánh không đổ máu,đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua lập nên vương triều nhà Lý. Về tư chất, thuở nhỏ sư đã thông minh một cách khác thường,sư học khắp Tam giáo và nghiên cứu Bách Luận,một điều đặc biệt khác là xem thường công danh phú quí.

Năm 21 tuổi sư theo thiền sư Đinh Tuệ xuất gia và thọ học với Thiền ông Đạo Giả ở chùa Lục Tổ làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức. Khi việc chùa rảnh rỗi,sư chăm chỉ học tập quên cả sự mỏi mệt.Sư chuyên về tập Pháp “Tổng tri tam ma Địa”,lấy đó làm sự nghiệp. Bây giờ sư có nói ra điều gì,dân chúng cũng cho là lời sấm truyền. Sau khi Thiền ông viên tịch sư kế nghiệp trù trì chùa nầy. Vua Lê Đại Hành rất tôn kính nhà sư,mọi việc nhà vua đều mời nhà sư vào triều để thỉnh giáo.

Qua những nét ghi lại từ con người của sư Vạn Hạnh,ta thấy được nơi ông những nét quan trọng trong vấn đề tâm linh, nó đã tạo dựng nên một Vạn Hạnh siêu Việt,phi thường trong lịch sử. Trước hết trí tuệ thông minh một cách khác thường đối với mọi người chung quanh,đó là khả năng siêu thức của một tâm linh,dung hòa những phức tạp xuất hiện trong ý thức nội, ngoại tại mà không tạo nên sự tương quan khác biệt trong con người. Dung hòa những ý thức ấy mà nuôi dưỡng tâm linh siêu việt,đó là điều mà sau nầy nhà sư phát huy trong cả cuộc đời. Bên cạnh đó nhà sư còn thông suốt một cách tường tận ba luồng tư tưởng phổ thông thời bấy giờ đó là Nho Học, Đạo Học và Phật học. Trong ba luồng tư tưởng ấy đã có những điểm khác biệt, nhưng căn bản vẫn có những điểm đồng qui,nhà sư đã dùng những điểm đồng quí ấy để dung hòa vào nhau mà tạo ra một học thuyết chung đem áp dụng được gọi là “Tam Giáo Đồng Qui” để sử dụng trong xã hội thời bấy giờ,để hướng thiện đến con người. Dĩ nhiên trong ba luồng tư tưởng trên luôn có nhiều điểm xung khắc,nhưng nhà Sư đã dùng Tam Luận Tông để quân bình nội tại,để từ đó mà giải phóng tâm linh, mang lại ánh sáng siêu việt cho dân tộc. Nhờ vào những kinh nghiệm tri thức mà Sư Vạn Hạnh đã trải qua, đã tạo nên một nền móng một luồng văn hóa đặc thù cho Dân Tộc làm nền tảng cho nền luân lý Việt.

Sư Vạn Hạnh và sứ mệnh lịch sử.

Tôn chỉ về học huyết Tam Giáo đồng quy mà nhà sư Vạn Hạnh đã dung nạp pha trộn lẫn nhau, để tạo nên một triết lý làm nền tản cho nền luân lý Việt, áp dụng trong xã hội vào thời điểm lúc bấy giờ. Về đạo Nho là “Tu thân, Tề gia,Trị quốc,Bình thiên hạ”,Theo thuyết của Nho giáo, Nho sĩ bắt buộc phải lập gia đình,sinh con để nối dõi tông đường.Phải thi cử ra làm quan nhận mũ áo cân đai bổng lộc. Phải “đóng vai cha mẹ của dân” để cai trị.Phải trung với triều vua mà mình làm thần tử. Cùng lộ trình đó, các tu sĩ Phật Giáo có một lộ trình nội dung khác. Tu sĩ không được lập gia đình,để tâm mình không bị vướng vào vòng nhỏ hẹp bởi vợ con,cháu chắt mà rộng mở ra khắp chúng sanh để phục vụ. Vì vào đời phụ vụ quần chúng nên dễ bị tài sắc danh lợi cám dỗ,như vậy tu sĩ Phật giáo phải bước qua sự tu thân khó khăn hơn nhiều so với nho sĩ. Nếu nho sĩ học để hưởng đủ ngũ dục: Tài, sắc danh thụy thực, thì tu sĩ Phật giáo học để chống lại ngũ dục. Ở giai đoạn nầy, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi mà thiền sư Vạn Hạnh đang tu tập lại chủ trương tu tâm dựa theo tiêu chuẩn vượt ngôn ngữ văn tự, siêu hữu vô để đạt đến tâm vô tư,vô chấp,vô cầu.Bước thứ hai tề gia,chẳng phải tề cái gia đình có vợ con cháu chắt,mà tề cái gia đình tăng thân đang cùng tu trong chùa.Bước thứ ba trị quốc,tu sĩ chì đóng vai trò cố vấn chính trị cho vua mà thôi,không lệ thuộc vào hệ thống quan cách. Một ví dụ: Khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi năm 968,sau khi bình định xong 12 sứ quân,Thiền sư Ngô chân Lưu (viên tịch năm 1011,thuộc thế hệ thứ 5 thiền phái vô ngôn thông) được vua phong là Khuông VIệt Đại Sư,đây không phải là một chức quan trong triều,mà chỉ là một danh hiệu cố vấn.Tu sĩ cố vấn nầy chỉ trung thành với dân tộc mà không trung với một triều vua. Cho nên khi nhà Đinh mất (980) Thiền sư vẫn đóng vai trò cố vấn cho vua Lê Đại Hành (lên ngôi 981).

Với tôn chỉ trên Sư Vạn Hạnh đã nối tiếp truyền thống ấy khi thấy cái xã hội dưới Triều cuối Lê quá sa suốt nhất là Lê long Đĩnh, một ông vua quá độc ác, lấy cái đau khổ của người khác làm thú vui.Nên Thiền sư đã dựa vào cái triết lý của thiền phái Tỳ Ni Đà Lưu Chi mà mình đã học tập và thu nhận được cái tinh túy từ nó để làm phương châm,đưa vào hành động chính trị giúp chuyển hóa xã hội mà quyết tâm tạo cơ hội để cứu vớt dân tộc ra khỏi cái khổ nạn dưới triều đại cuối thời của nhà tiền Lê.

Thiền sư Vạn Hạnh (sinh khoảng năm 937 và mất khoảng năm 1018) là một tu sĩ Phật Giáo đã từng được sách vở thừa nhận giữ một vai trò chủ chốt trong cuộc “đảo chánh” thật êm ả,không đổ máu,đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua lập nên vương triều nhà Lý kéo dài 216 năm (1010-1226).kế thừa vương triều nhà Lê chỉ tồn tại 29 năm (980-!009).

Mối tương quan giữa Thiền sư Vạn Hạnh và Lý Công Uẩn (vua Lý Thái Tổ),đây là mối quan hệ giữa người thầy giáo dưỡng với người học trò,bên cạnh là sự kết hợp giữa một nhà chiến lược lỗi lạc với một vị quân chủ anh minh.

Vào năm 977,Lý công Uẩn mới lên 3 tuổi,làm con nuôi nhà sư Lý khánh Vân,đến chùa Lục Tổ học. Sư Vạn Hạnh lần đầu trông thấy đã khen là cậu bé khác thường,mà về sau có thể làm một ông vua giỏi.Và từ đó nhà sư đã xin đưa cậu bé họ Lý nầy về mà nuôi dạy, un đúc để trở thành một hiện tượng hiện thực vào sau nầy,Thiền sư sau khi dạy dỗ kỹ lưỡng,Lý Công Uẩn đã trở nên một con người toàn tài cả kiến thức văn chương cùng võ nghệ, nhà Sư đã tiến cử vào cung vua Lê,giữ đến chức Điện tiền chỉ huy sứ dưới thời vua Lê Long Đĩnh,với cái không gian như vậy mà nhà sư đã bố trí,để Lý Công Uẩn thuận lợi trong việc lên giữ ngôi vua,khi Lê long Đĩnh đã vãn cảnh.

Câu chuyện được truyền ngôi giữa nhà Lê sang nhà Lý đã được các bộ sử Việt nói chung,kể cả lịch sử của Phật Giáo nói riêng, đã nhắc tới Sư Van Hạnh trong kỷ nhà Lý như sau: Lần thứ nhất vào năm 977,lần đầu sư Vạn Hạnh nhìn thấy cậu bé Lý Công Uẩn mới 3 tuổi,làm con nuôi của sư Lý khánh Vân,đến chùa Lục Tổ để học. Sư Vạn Hạnh thấy cậu bé đã khen là một con người khác thường, mà đoán rằng sau nầy có thể trở thành một ông vua giỏi. Lần thứ hai, trước khi vua ngọa triều Lê long Đĩnh chết, sư Vạn Hạnh đã khuyên Lý Công Uẩn nên lập chí thay ngôi nhà Lê vì lòng dân đều chán ghét sự tàn án của Lê long Đĩnh và theo lời sấm đang loan truyền trong dân gian thì họ Lý sẽ thay họ Lê. Theo ĐVSKTT bản Việt dịch in năm 2011 tại Hà nội,tr.155).Lần thứ ba khi Sư Vạn Hạnh viên tịch, có lời bàn của sử thần Ngô sĩ Liên: “ Khi Vạn hạnh mới trông thấy Lý Công Uẩn,biết là người phi thường; đến khi sét đánh thành dấu chữ trên cây “Ngô Đồng” thì suy tính biết sự biến chuyển của thời vận,thế thì tri thức hơn người thường” tr. 167.

Trong “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim Chương IV chép về nhà Lý có nói “Bây giờ lòng người đã oán giận nhà tiền Lê lắm lắm.Ở trong triều có bọn Đào Cam Mộc cùng với Sư Vạn Hạnh mưu tôn Lý công Uẩn lên làm vua”.

Trong sách “ Việt Nam Phật Giáo sử luận (xuất bản lần đầu tiên vào năm 1973 tại Sài Gòn,được in lại năm 2000 do nhà xuất bản văn học Hà Nội. Viết tắc( là VNPGSL) Tác giả Nguyễn Lang dẫn hành trạng của Sư Vạn Hạnh trích thuật từ sách “Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục” in vào đời Lý Trần cho biết, Sư từng được vua Lê Đại Hành tham vấn về việc nước, như khi nhà Tống sai Hầu nhân Báo đem quân xâm lược,hoặc khi vua muốn đánh Chiêm Thành. Để cứu sứ giả Đại Cồ Việt bị vua Chiêm bắt giữ “ Vạn Hạnh mà sau nầy nhà Lý tôn xưng là Quốc Sư,rất giỏi về chính trị và đã sử dụng sấm vĩ một cách tài tình,trong cuộc cách mạng bất bạo động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua”… Trong cuộc vận dộng đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua,Vạn Hạnh đã vận động dư luận quần chúng bằng sấm truyền rất hữu hiệu” (trang 141).

Trong sách “ Văn học đời Lý (Bản in năm 1957 tại Sài Gòn,nhà xuất bản Hướng Dương) Tác giả Lê Văn Siêu viết: “cuộc đảo chánh năm 1010 của Vạn Hạnh sau cuộc đảo chánh 980 của Lê Hoàn,không mất một giọt máu, không gây một oán cừu,dầu muốn dầu không cũng đã là một tác phẩm nghệ thuật”( tr 107) Sư Vạn Hạnh khi thành công đã không chịu nhận một chức tước gì trong triều của ông vua vốn là học trò của mình,mà ngai vàng đã do chính tay mình đem đến,tư cách ấy,nào khác gì với tư cách của Phù Đổng Thiên Vương “( tr.111).

Trong sách “ Vạn Hạnh, Kẻ đi qua cầu lịch sử” ( Bản in năm 1997 tại California,trung tâm văn Hóa Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ xuất bản (Viết tắt VH,KĐQCLS) Hòa Thượng Thích Mẫn Giác (1929-2006) viết “ Con đường Vạn Hạnh đi không phải là con đường lên núi làm một nhà tu cô đơn khổ hạnh,cũng không phải là con đường đưa sư đi là con đường hành dộng với con tim vô tư,vô cầu,mà với quyết ý dốc cả tâm can phò trợ những người khoan dung,được lòng dân có hoài bão làm cho dân cho nước thịnh trị.” (tr 28)… “Biến một đứa con rơi sống nhờ cơm chùa,thành một kẻ văn võ toàn tài,thành một vị vua sáng lập triều Lý thạnh trị dài lâu hơn hai trăm năm (tr.31).

Sư Vạn Hạnh đứng trong hậu trường tạo ra thời cuộc.

Con người ấy làm chính trị nhưng không trở thành một ông quan mũ cao,áo rộng,nhận bổng lộc trên chính trường.Đại cuộc thành,ngài chỉ mặc áo nâu sồng,muối dưa hai bửa đạm bạc,Đó là một con người trí thúc đã vượt qua mọi người trong bối cảnh lịch sử vì ngài đã trung thành với học thuyết của giáo phái “Tỳ Ni Đà Lưu Chi” mà nhà sư đã dày công nghiên cứu về triết lý Phật Giáo nhập cuộc theo thiền phái trên.Chính hệ tư tưởng của Thiền phái nầy đã dẫn dắt các môn đồ đem thiền vào hành động chính trị trong xã hội,tức cái mà chúng sinh cần cứu độ”.Chính là lúc dân tộc đang đói,rách vì loạn lạc,ngày đêm sống trong sự sợ hãi.Như Vậy trung thành với giáo lý trên,Thiền sư Vạn Hạnh đã thành công thực hiện đúng theo nguyên lý cứu độ của nhà Phật vậy.

Việc Thiên đô từ Hoa Lư về Thăng Long năm 1010.

Việc thiên đô từ Hoa Lư về Thăng Long đây là một công trình mà Thiền sư Vạn Hạnh đã đóng góp cho dân tộc Đại Việt thật to lớn, ngoài việc đưa Lý công Uẩn lên ngôi vua,lập một vương triều nhà Lý hùng mạnh kéo dài trên 200 năm.

Vào tháng 10 năm 1009.Lý Thái Tổ lên ngôi tại Hoa Lư. Tháng 2 năm 1010 xa giá nhà vua về quê Cổ Pháp ban thưởng tiền và lụa cho bô lão.Tháng 7 năm 1010 ban chiếu dời kinh đô từ Hoa Lư về Đại La. Thuyền đến bên thành lại có rồng vàng hiện lên bên thuyền ngự, bèn nhân đấy đổi tên Đại La thành Thăng Long, đổi châu Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức,đổi tên Hoa Lư thành phủ Trường Yên.Như vậy,cả một quá khứ của hai triều Đinh và Lê 42 năm phải lùi xa vào lòng dân để đón chào một tương lai rực rỡ của Thăng Long.

Việc dời độ thật nhanh chóng trong vòng chỉ mấy tháng,không phải là một việc làm mới mẽ, mà đã được thai nghén từ rất lâu trong tâm thức,trong kế hoạch trăm năm của Thiền sư Vạn Hạnh,mà chờ đến thời điểm nầy là thời điểm thích hợp nhất để thực hiện, và phải thực hiện. Việc dời đô nầy về khoa phong thủy học nhiều tác giả đã bày tỏ sự kính trọng về kiến thức của Thiền sư và đã có những lời bình:

*Trong tác phẩm VHĐL, tác giả Lê văn Siêu đã viết: “ Việc kiến trúc đô thị, thì từ ngày lập quốc cho tới đời Lý,cũng như từ sau đời Lý,cho tới ngày chúng ta đang sống (1957) chưa hề có một công cuộc xây dựng đại qui mô như vậy……..Đứng ở phương diện nghệ thuật thuần túy, thì phải coi thành Thăng Long là một sáng tác phẩm vô cùng cao đẹp”

( xem chi tiết SĐD - Chương IV kiến trúc tinh thần đời Lý – trang 100)

*Tác giả Nguyễn Lang viết: Về phong thủy học các Thiền Sư Định Không (730-808),La quý An (852 – 936), và Thiền sư Vạn Hạnh ( 937- 1018), thầy của Lý Công Uẩn,là người đã thuyết phục nhà vua nầy dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, trong ý nguyện bảo vệ cho nền độc lập được lâu dài……Ta có thể nghĩ rằng: Thiền sư Vạn Hạnh vừa là người thảo chiếu,vừa là người thiết kế họa đồ cho kinh đô Thăng Long vậy. (sđd- VNPGSL).

Một công trình lớn và hữu ích như vậy, nhưng sư Vạn Hạnh không để lại những tác phẩm lý luận triết học dài hàng ngàn trang sách như các triết gia Phương tây.Cái tài tình là luôn dùng những chuỗi khái niệm trừu tượng,dùng chữ nầy để giải thích chữ kia, mà truyền đạt cho người nhận,với một cách ẩn dụ bắt buộc người nhận phải có đầy đủ kiến thức mới lãnh hội được. Bằng một cách không khoa trương bằng hàng ngàn trang triết lý,mà tất cả được ẩn dụ kín đáo,không khoe khoan,nó vượt qua ngôn ngữ siêu việt với khái niệm có..không,mà thầy truyền tâm ấn cho đệ tử bằng cử chỉ hay hành động hơn là bằng ngôn ngữ.Đệ tử phải chứng nghiệm được qua trạng thái tâm giải nào đó,phải bằng cách tu tập thiền chỉ và thiền quán mà không bằng cách tìm hiểu lý giải bằng kinh văn.Đó mới là cái tài tình mà mọi người chúng ta đều phải tôn kính trong học hỏi.

Với cái nhìn vô tâm,vô chấp, vô cầu,dựa trên những điều kiện cụ thể từ thực tế của xã hội: Yếu tố Phong thủy,địa lý, kể cả yếu tố về nhân sự và quần chúng, tất cả đều là các yếu tố quyết định để hình thành một thể chế quân chủ toàn trị,trong tư chủ,và độc lập,trong đó yếu tố lãnh đạo tối cao là ông vua,đó là yếu tố tối thượng, bên cạnh là tầng lớp thừa hành lệnh vua gọi là quần thần,cùng quần chúng tốt ngoài xã hội, tất cả tổng hợp lại thành một khối để hội đủ điều kiện mà thực hiện công trình trên. Trong tất cả các trường hợp đó,Thiền sư Vạn Hạnh đã nhìn thấy và tìm được một nhân tài để huấn luyện, để trở thành một ông vua giỏi,giỏi về cả hai phương diện đức độ và tài năng lãnh đạo, là Lý công Uẩn,bên cạnh có quần thần giỏi là Đào mộc Cam, ngoài ra đã có được quần chúng ủng hộ tốt là tất cả mọi tầng lớp dân chúng đã chịu khổ ải dưới sự cai trị ác độc của vua Lê Long Đĩnh nhà tiền Lê, đó là yếu tố về nhân sự.

Ngoài ra về khoa địa lý,phong thủy tìm một vị trí thích hợp xây dựng thủ độ cũng là yếu tố quan trọng. Thiền sư đã nhìn ra được vùng đất mà địa lý không mấy được tốt lắm cho việc đóng đô là vùng Hoa Lư. Thiên sư đã nhìn ngắm mà tìm ra một địa điểm thuận lợi dể dời đô về đó là vùng có đầy đủ các yếu tố để tạo nên một kinh đô, vì nơi ấy là biểu tượng cho linh hồn của một quốc gia, đó là xứ đất tại Đại La (tức Thăng Long) về sau.Từ đó,sau khi thực hiện xong việc đưa người học trò của mình lên nắm nắm quyền lực tối cao của đất nước rồi, tạo sự thành công bước đầu của việc tu tập và dấn thân vào chính trị,là hành động trực tiếp trong công việc xây dựng đất nước. Việc kế tiếp mà nhà sư phải thực hiện là khuyến khích nhà vua về việc dời đô để nhận lãnh những điểm tốt hơn về mặt địa lý và phong thủy, xây dựng một kinh đô thích hợp, tạo được sự thịnh vượng gây hạnh phúc cho mọi tầng lớp dân chúng trong xã hội, đó lại là điều thiết yếu nữa. Vùng đất Thăng Long là nơi hội đủ các yếu tố trên,là vị trí thật thuận lợi có địa thế tốt, thứ nhất là rộng rãi,rất thuận lợi trong việc xây dựng các tuyến phòng thủ để chống giặc ngoại xâm, giữ vững nền độc lập tự chủ của dân tộc, tạo thế lực hùng mạnh mà sánh vai cùng với các lâng bang.. Thiền sư Vạn Hạnh với cái nhìn thật xa về lâu dài cho đất nước. Ông đã kéo léo nhìn ra một địa điểm tốt để thực hiện một cuộc dời đô. Thiền Sư lại còn kéo léo trong một cuộc chuyển quyền lực thật êm ả,có nghĩa là làm một cuộc đảo chánh mà không đổ máu, không gây oán thù, đó là một hành động thật tài tình đã thành công trước đó, mà ông đã dùng đức độ từ bi từ triết lý tu tập của nhà Phật, đem áp dụng vào chính trường đó là một hành động tài tình thật hiếm thấy. Thiến sư Vạn Hạnh viên tịch vào khoảng 1018,trước vua Lý Thái Tổ băng hà vào năm 1028. Ba triều vua nhà Lý kế tiếp : Lý Thái Tông ( 1028 – 1054) Lý Thánh Tông ( 1054 – 1072) Lý Nhân Tông ( 1072 – 1127) đã củng cố nền độc lập tự chủ của dân tộc Đại Việt một cách vững mạnh.Đưa dân tộc đến đỉnh cao nhất dưới thời Lý nhân Tông (Nguyên phi Ỷ Lan). Vào năm 1075 đã đưa đại quân đi phá Tống trên đất Tống tại Quảng Đông,Quảng Tây. Và về sau đi bình Chiêm Thành. Nhìn lại từ khi vua Thái Tổ dời đô về Thăng Long,và đổi tên nước từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt của vua Lý Thánh Tông,đều không phải là việc ngẫu nhiên,trước khi Lý Nhân Tông mất vào năm 1127, nhà Lý đã tụ hơn cả 100 năm, làm cho đất nước yên bình thạnh trị. Trong lúc còn trị vì Lý nhân Tông đã nhìn nhận cái ảnh hưởng về mặt tinh thần thật to lớn từ sư Vạn Hạnh,trong công cuộc dựng nên vương triều nhà Lý.Nhà vua đã truy tán công lao nhà sư qua bài thơ sau đây:

Vạn Hạnh dung tam thế.

Chơn Phù cố sấm cơ

Hương quan danh Cổ Pháp

Trụ tích trấn vương kỳ.

Có bốn học giả dịch bài thơ nầy ra bốn phiên bản khác nhau chúng ta nên biết qua:

  1. Lê văn Siêu dịch nghĩa: Sư Vạn Hạnh thông cả ba nền học (tam giáo: Nho,Lão,Phật giáo) sự ra đời của ngài thật rất hợp với lờ sấm cổ.Ngài đã làm rạng danh quê nhà ở Cổ Pháp, và đã chống gậy phật để trấn giữ nơi đế đô ( VHĐL – tr. 40).

  2. Giáo sư Nguyễn Đăng Thục dịch nghĩa*: Thiền Sư Vạn Hạnh hợp nhất được ba cỏi : Quá Khư,hiện tại và tương lai.*

Đúng với tinh thần tiên tri thời cổ xưa, quê hương danh tiếng là Cổ Pháp (Kinh đô Phật Giáo Việt Nam, tối xưa), Thiền sư đem gậy thiền học bảo vệ cho lãnh thổ quốc gia ( xem sách: Thiền học Việt Nam in năm 1966 tại Gia Định,Chương “Triết lý tam tế của Thiền sư Vạn Hạnh”).

  1. Nguyễn Lang dịch*: Hành tung thấu triệt ba đời,Ngữ ngôn phù hợp muôn lời sấm xưa. Quê Hương Cổ Pháp bây giờ,Dựng cây tích trượng kinh đô vững bền, (VNPGSL-tr. 144).*

  2. Hòa Thượng Thích Mẫn Giác dịch thành thơ*:*

“Vạn Hạnh thông ba cõi. Thật hợp lời sấm xưa”.

Nghĩa: Quê nhà tên Cổ Pháp. Gậy chống giữ nghiệp vua (VH- KĐ QCLS – tr.13).

Vua Lý Nhân Tông tán thán về tài hiểu biết của Thiền Sư Vạn Hạnh,vì nhà vua đã nhìn thấy được cái kiến thức sâu thẳm từ vị Sư, ngài đã dung hợp được cả ba nền triết lý du nhập vào Việt Nam để làm thành một triết lý thuần Việt dùng làm nền tảng cho nền văn hóa riêng cho nền văn học Việt. Cái đó đã khiến cho nhà Lý được vững vàng cho đến đời vua Lý Nhân Tông trị vì đã được hơn cả trăm năm, và còn trụ được cả trăm năm nữa về sau.Mặc dù sau hai trăm năm nhà Lý phải dứt nghiệp, nhưng nhà Lý đã xây dựng được một nền móng vững chắc cho nền tự chủ, độc lập đối với các thế lực hiếu chiến Phương Bắc, khiến cho các cuộc xâm lăng sau nầy của bọn giặc Nguyên Mông,bọn xâm lăng Minh Triều và Mãn Tộc đều phải nếm mùi thảm bại.

Tất cả những kết quả trên đều chịu ảnh hưởng từ cái nhìn sâu xa của vị Thiền Sư Vạn Hạnh, không những về cái nhìn mà ngài đã chống gậy Phật mà đạp thẳng vào một rừng chông của lịch sử Việt,để tạo nên một sự chuyển mình thật oanh liệt ,tạo nên nền móng cho nền tự chủ của đất nước được trường tồn mãi về sau,kể cả đến ngày nay vẫn còn chịu ảnh hưởng vậy.

_________________________

Tiếp theo sự kiện trên nói về Thiền Sư Vạn Hạnh,chúng ta cần xem xét lại về trường hợp đặc biệt của bà Nguyên Phi Ỷ Lan (tức Linh Nhân Hoàng Thái Hậu).Mẹ đẻ của vua Lý Nhân Tông vị vua thứ 5 của triều đại Nhà Lý.

Bà được xem là người phụ nữ xuất chúng vào thế kỷ 11,với những lời bình mang tính hai mặt tích cực và cả tiêu cực của các sử gia.

  1. Cái nhìn chính xác từ vị vua nhân hậu Lý Thánh Tông

Vua Lý Thánh Tông là vị vua đời thứ tư của triều đại nhà Lý;dưới sự trị vì của ngài,đất nước được thanh bình,người dân có đời sống no đủ.Từ trong triều đình,ra đến ngoài xã hội,ngài được người người khen ngợi là vị vua phúc đức, nhân hậu,làm cho mọi người đều kính phục..Tuy nhiên, có một điều làm cho nhà vua phải đau đầu đó là việc,ngài đã bốn mươi tuổi mà vẫn chưa có một người con trai để nối ngôi,làm cho quần thần trong triều cứ phải bàn tán xôn xao mãi.

Để tìm cho được một người con nói dõi,nhà vua phải thường tổ chức các cuộc đi kinh lý ngoài dân gian, nói là đi kinh lý, nhưng sự thật, nhà vua đi đến khắp các chùa chiền thắp hương để khấn vái làm việc cầu tự. Một hôm ngài đi đến chùa cũng với mục đích trên,lúc trở về đến ngang qua làng Thổ Lỗi,Bắc Ninh. Dân chúng nghe nói,nên đổ ra đường để trông, để nhìn cho tận mắt long Nhan nhà vua.Khung cảnh xảy ra náo nhiệt như vậy. Duy, chỉ riêng có một nàng thiếu nữ tại nương dâu gần sát mép đường đi, cứ làm công việc hái dâu tại vùng đất gần dưới gốc cây lan.Khi xa giá nhà vua đi ngang qua,cô gái hái dâu lại đứng dựa vào gốc cây lan một cách tự nhiên ,không hề mảy may háo hức,ngược lại trong tâm ý, cô xem việc xa giá của vua đi như vậy là một sự xa xỉ không cần thiết,nên cô gái không hề để mắt đến.

Khi đi ngang qua, vua Lý Thánh Tông nhìn thấy,cho là một điềm lạ,vì người người đều đổ ra đường để cố mà nhìn xem long nhan của ngài ,duy cô gái hái dâu lại không. Nhà vua lấy làm lạ,vì mình là vua mà,là người đây quyền uy của một nước, vì vậy mọi người dân đều muốn xem cho biết,bên cạnh đó các cô gái đều mong ước một sự may mắn nữa,nếu được lọt vào mắt xanh của nhà vua ,thì sẽ được đổi đời. Riêng cô gái hái dâu vẫn làm việc bình thường,không hề để ý đến đoàn xa giá của nhà vua đi ngang qua.Vua Lý Thánh Tông nhìn thấy cảnh tượng ấy,lấy làm lạ,bèn cho người gọi cô gái hái dâu đến để hỏi tự sự. Khi đến trước kiệu nhà vua,cô gái không tỏ ra sợ sệt gì cả,mà hầu chuyện với vua trong một trạng thái thật thong dong không phải lo lắng, trong phong thái hầu chuyện với vua,cô cũng coi như là đang nói chuyện với một người quen hàng xóm,trả lời các câu hỏi của vua một cách tự nhiên,đó là thái độ đã làm cho nhà vua chú ý nhất.Nhìn phong cách từ cô gái quê nầy,nhà vua đã nhìn ra cô không phải là một cô gái quê mùa tầm thường,mà đó là một cô gái có niềm tư duy khác biệt mọi người,đó là điềm mà trời đã giáng con người nầy xuống để giúp ông vì đó là một con người tài ba.Từ suy nghĩ ấy,nhà vua cho rước cô gái về cung.Mọi người đều suy nghĩ cô gái nhà quê nầy, đã một bước lên tiên,nhưng,cô gái vào cung rồi,không phải để làm cảnh như một con cá cảnh trong chậu kiễng,mà là để thực thi những điều mình ước muốn,vì cô gái xuất thân từ giới nông dân,biết cái khổ của người dân.

2) Giai thoại về Nguyên Phi Ỷ Lan.

Tuy nhiên,lúc đã vào cung thì làm sao một cô gái nhà quê lại thực hiện được ý muốn của mình, vì tại hậu cung đã có Thượng Dương Hoàng Hậu nắm quyền,bà chỉ là cô gái quê, mà là người đến sau làm sao có quyền hạng gì để làm những điều ước muốn.Nhưng với bộ óc thông minh,cô gái đã tỏ ra rất năng động trong mọi việc,luôn đọc sách,đọc binh thư để tìm những phương pháp trị quốc và chống giặc, đã làm cho tất cả mọi người phải nể phục.Nhất là vua Lý Thánh Tông,đã nhìn thấy hết cái tài ba nơi người phụ nữ trẻ nầy về tất cả mọi phương diện, từ cái đẹp dịu hiền của một thôn nữ,đến tài quản trị,tài điều hành mọi công việc kể cả kế hoạch lo quân lương để cung cấp cho quân lính.

Cái thứ nhất làm cho nhà vua hài lòng nhất là một vài năm sau đó,bà đã sinh hạ cho nhà vua một hoàng tử,làm thỏa mãn được cái mong ước của ngài là có con trai nối giỏi.Nhà vua đặt tên cho đứa con trai ấy là Lý Càn Đức. Sau khi sinh ra được ít hôm nhà vua liền phong cậu con trai nầy làm Hoàng thái Tử ngay.

Lúc bấy giờ về phương nam nước Đại Việt,giặc Chiêm Thành luôn quấy phá cướp bóc nơi biên giới ,dân chúng phải kêu than.Lý Thánh Tông phải thân chinh cầm quân đi chinh phạt. Nhà vua đi đánh giặc,lại giao quyền nhiếp chánh cho Nguyên Phi Ỷ Lan mà không giao cho Thượng Dương Hoàng Hậu,đây là một việc làm cho mọi người sững sờ.Trong lúc Thượng Dương Hoàng Hậu là người xuất thân từ con nhà quyền quý,chung quanh bà có một sự hậu thuẫn rất lớn từ các quan lại trong triều đình,còn bà Nguyên Phi chỉ là một cô gái hái dâu xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo,lấy gì để đấu lại Hoàng Hậu. Nhưng không sao,khi bà đã nhận việc từ người chồng giao, bà bắt tay vào việc ngay, trước tiên là kiểm tra sổ sách chi tiêu,đến kiểm ta các nhà kho, xem xét lại mọi giấy tờ,tính coi tất cả các kho lương thực vơi,đầy ra sao.Bà xắn tay áo để giải quyết mọi việc,về kinh tế bà đề ra chính sách hổ trợ cho người dân,khuyến khích việc tăng năng suất tạo điều kiện cho người dân có đời sống được no đủ hơn.Trong cung bà quản lý các kho lương thực thật chặt chẽ,nhất là quản lý kho bạc rất khéo,không phải bị thất thoát một đồng.

Về an ninh trật tự các thế lực phản động hay các ông quan lại có ý định thừa nước đục thả câu,bà xử lý từng việc một, một cách thật khéo léo,dẹp được tất cả mọi hành vi làm loạn,nhờ vậy ngay tại triều đình đã có được một sự yên bình tuyệt đối. Ngoài tiền tuyến vua Lý Thánh Tông,một ông vua nổi tiếng như một anh hùng,đã đem quân đi chinh phạt Chiêm Thành,nhưng lại gặp một kiếp nạn không may,luôn bị trời đổ mưa,làm cho quân lính chán nản,mà quân Chiêm Thành lại đánh rất hăng,quân nhà vua đánh hòi vẫn không thắng. Lâu quá,đâm ra buồn chán,nhà vua cho lui binh kéo về,nhưng về đến Châu Cư, Nghệ An,vua hỏi dân chúng hai bên đường sống tại đây,ở nhà thế nào rồi, có loạn lạc gì không ? Dân chúng đều trả lời một câu khiến nhà vua sững sờ,thưa bệ hạ ở nhà vui lắm,dưới sự cai quản của Nguyên Phi Ỷ Lan,mọi việc đều trôi chảy,không có một cuộc loạn lạc nào nổi lên cả,dân chúng khắp nơi được yên ổn làm ăn.Bà được dân chúng coi như là một bà Quan âm tái thế, là một vị Phật sống! Nghe dân chúng thưa như vậy,nhà vua lấy làm hổ thẹn,chả lẽ mình là một đấng nam nhi,mà lại thua một người phụ nữ trẻ vợ mình như vậy ư, nó rất là quê!. Từ đấy nhà vua quyết tâm ha lệnh cho ba quân quay thuyền trở lại, mà hạ quyết tâm tấn công thật mạnh, chọc thủng phòng tuyến của quân Chàm, tấn công thẳng đến tận kinh đô nước Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ.

Cuộc chiến kết thúc với một thắng lợi to lớn như vậy,đó là do từ sự hạ quyết tâm với sự kích thích bởi lòng tự ái của một vị quân vương đầy uy quyền xưa nay. Như Vậy chiến thắng ấy,trong đó có sự góp công rất lớn của bà Nguyên Phi ,sự thông minh của bà đã áp dụng trong việc nhiếp chánh tạo nên sự yên bình tại hậu phương, đã làm cho nhà vua phải kinh ngạc, bên cạnh là lòng tự ái của một đấng nam nhi,nên đã hạ quyết tâm để tạo được một chiến thắng oanh liệt. Tại hậu phương, bên cạnh việc xử lý vấn đề hành chánh nhà nước một cách thật khéo léo,song hành là vấn đề quân lương bà lo thật chu toàn, tiếp tế thật đầy đủ cho quân lính,tạo nên một sự khích lệ rất lớn cho binh sĩ, chính vì vậy đã tạo cho mọi người lính phải hạ quyết tâm ,giúp vua tạo nên chiến thắng lẫy lừng,từ sự chiến thắng nầy nước Đại Việt đã được mở rộng bờ cỏi về phương Nam.Vua Champa Chế Cũ đã phải dâng đất các châu Ô, Lý để chuộc thân.

Nguyên Phi Ỷ Lan (Ỷ Lan) tức là người con gái đứng dưới gốc cây Lan.Bà được sinh ra vào năm 1044 tại làng Thổ Lỗi (Bắc Ninh) xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, nhưng là một cô gái lắm tài,tuy nhiên, về sau cũng vướng phải nhiều tội.

Là một cô gái hái dâu được vua Lý Thánh Tông cho rước vào cung,năm 1066 bà sinh Lý Càn Đức,người con trai đầu,đã được nhà vua phong làm Hoàng Thái tử ngay sau khi sinh ít hôm, và bà được phong là Thần Phi,năm 1068 bà lại sinh thêm một hoàng tử nữa bà được phong là Nguyên Phi, một chức vị chỉ đứng sau Thượng Dương Hoàng Thái Hậu mà thôi.

Năm 1069,vua Lý Thánh Tông xuất quân đi chinh phạt Chiêm Thành,bà được nhà vua giao cho công việc cai quản nội chính,bà đã hoàn tất mọi việc một cách thật đẹp,được dân chúng tung hô là Quan Thế Âm tái thế hay là một vị Phật sống.Nhưng mà cây cao thì phải hứng gió to,bà Hoàng Thái Hậu có để yên cho bà không,vì bà là vợ chánh,được sinh ra trong gia tộc quyền thế,mà lúc chồng đi xa lại giao quyền nhiếp chánh cho một cô gái quê trẻ,như vậy có tức không,bắt đầu từ đấy cơn sóng ngầm lại âm ĩ, Nguyên Phi Ỷ Lan phải ra sức chống đỡ để giữ sự sống còn cho mình,vì bà đang phải sống dưới một chế độ quân chủ tập quyền, chuyên chính thời bấy giờ.

Tuy đã sinh cho nhà vua hai người con trai,Ỷ Lan được phong đến chức vị Nguyên Phi.Nhưng rồi bất thần năm 1072,vua Lý Thánh Tông lại đột ngột qua đời,cái chỗ dựa duy nhất bị gãy đổ,Nguyên Phi phải tự đấu tranh để sinh tồn.

Khi vua cha qua đời, Thái tử Lý càn Đức được đưa lên nối ngôi,lúc nầy nhà vua mới chỉ được 6 tuổi,ngồi trên ngai vàng,mà cặp chân còn đang đung đưa nửa vời chưa chấm đến đất. Tất nhiên triều đình phải giao việc buông rèm nhiếp chánh cho bà Thượng Dương Hoàng Hậu,bây giờ được gọi là Thượng Dương Hoàng Thái Hậu.

Tại triều đình từ lâu đã có luồng sóng ngầm âm ĩ giữa bà Hoàng Thái Hậu với Nguyên Phi Ỷ Lan,mà bây giờ bà được ngồi nơi ghế buông rèm nhiếp chánh,đó là điều làm cho Nguyên Phi Ỷ Lan khó chịu nhất,bởi bà Hoàng Thái Hậu sẽ hướng dẫn vị vua trẻ đi chệch hướng, có thể làm cho đất nước suy yếu dần vì bà không đủ tài cán để hướng dẫn việc đào tạo mộ vị vua tốt, mà chống giặc Bắc phương, hơn thế nữa bà không đủ kinh nghiệm để hướng dẫn vị vua trẻ trở thành một vị vua tốt sau nầy.Với cái cảm nghĩ như vậy,đã tạo nên một sự bực bội vì bà là mẹ đẻ ra vua, mà lại mất quyền nuôi dạy nên cảm thấy bức bối trong lòng. Những lần gặp con bà ẵm con vào lòng, bà không than khóc ỉ ôi gì cả, chỉ nhắc con đôi lời than trách mà thôi: “Ta là mẹ sinh ra con,mà lại không có quyền gần con,để dạy dỗ bày biểu” đó là điều quá bất công làm ta khó chịu nhất,, nhiều lần than phiền như vậy,với tình mẫu tử đã làm cho vị vua trẻ cũng phải động lòng.

Rồi một hôm vị vua trẻ ra quyết định phế truất tư cách buông rèm nhiếp chánh của Thượng Dương Hoàng Thái Hậu,được sự hổ trợ ngầm một cách tích cực của Tướng quân Thái Úy Lý Thường Kiệt,nhà vua cho bắt bà Thượng Dương Hoàng Thái hậu cùng với 72 cung nữ của bà nhốt vào lãnh cung, rồi Lập Nguyên phi Ỷ Lan trở thành Hoàng thái Hậu, ngồi thay vào ghế buông rèm nhiếp chánh.Từ đấy bà được toàn quyền dạy dỗ đứa con của mình với tất cả tài năng mà bà có.

Câu chuyện nầy về sau sử sách chép lại:Cùng với bà Thượng Dương 72 cung phi,đến ngày nhập thổ an táng vị vua cha,73 người gồm có Thượng Dương và 72 cung phi đều được chôn sống theo vua.Cũng có sách viết khi bị nhốt vào lãnh cung,73 người đều bị bức tử trước.Bằng dưới hình thức nào thì cũng là một cách giết người thiếu nhân tính.Với cái nhìn của một con người bình thường như chúng ta,thì hẳn thấy là như vậy,nhưng bước vào con đường chính trị chuyện giết chừng đó người không phải là quá ác,nếu ngược lại bà Thượng Dương nhiếp chánh sẽ không bị sự xúi dục của bọn quan lại nhà bà,mà làm hại bà Nguyên Phi sao? Không làm như vậy thì tính mạng bà cũng như chỉ mành treo chuông mà thôi. Đứng trên phương diện đạo Lý,câu chuyện được đào xới,tranh cãi suốt cả ngàn năm nay, nhưng vẫn không đưa đến một kết quả chung cuộc nào về sự phán xét tranh cãi đúng,sai, tốt hay xấu gì cả!.Dù sao thì bà Nguyên Phi Ỷ Lan vẫn phải chịu mang tiếng là giết người một cách vô nhân đạo,bà phải gánh chịu tội lỗi nầy.

Trước hết ta hãy xét xem về trường hợp của Thái Úy Lý Thường Kiệt,tại sao bà Nguyên Phi lại chọn Thái Úy Lý Thường Kiệt mà gởi niềm tin,vì ông là một vị tướng giỏi,đang nắm giữ tất cả binh quyền,là một vị tướng có thể chống với quân nhà Tống không lâu sau nầy.Ngược lại Lý Thường Kiệt cũng là con người có cặp mắt tinh đời,nhìn rõ về tài cán cùng phong thái lãnh đạo, cùng việc trị quốc nơi bà Nguyên Phi,tuy là một người phụ nữ trẻ nhưng có đầy đủ tài năng của một người lãnh đạo đứng trên tầm quốc gia.Vì vậy mà Lý Thường Kiệt ủng hộ việc làm ấy của bà Nguyên Phi,vì ông nhìn thấy được cái tài trị quốc nơi bà,bà sẽ mạnh dạng trong việc chống lại với quân giặc nhà Tống đang cận kề,nếu với bà Thượng Dương ngồi ở ngôi vị nhiếp chánh, cứ theo cách của các quan văn,thì sẽ không đủ lực để chống giặc.Lý Thường Kiệt cũng là người có con mắt tinh đời,nhìn biết chắc từng con người, vì vậy mà ông âm thầm đứng sau ủng hộ cho Nguyên Phi làm cuộc đảo chánh trên,để giữ vững ngai vàng cho nhà Lý.

Cái đêm hôm ấy đã gieo vào lòng Nguyên Phi hai trạng thái,cái vui là được trực tiếp nuôi dạy con mình để trở thành một vị vua tốt sau nầy.Cái buồn là bà đã phạm phải một lỗi lầm đã đưa ra quyết định phải giết người,dù dưới hình thức nào thì cũng làm cho lương tâm bà bị dằn xé, bởi cái tội lỗi một khi bà phải bước vào con đường chính trị,bà không thể nào né tránh được.

Khi đã nắm được quyền ngồi trên đỉnh cao quyền lực,Nguyên phi Ỷ Lan đã hành sử cái quyền lực ấy như thế nào? .Nguyên Phi Ỷ Lan không phải ngồi trên ngai vàng ấy mà hưởng những đặc ân về vật chất,hay ngồi đấy để trang sức sắc đẹp cho riêng mình từng ngày,mà ngược lại Nguyên Phi Ỷ Lan phải gát bỏ những cái quyền lợi riêng tư ấy sang một bên mà ra sức làm việc. Trước tiên trong tận tâm can bà quan niệm là dân giàu thì nước mới mạnh, tức mọi người phải tăng năng suất lao động để làm ra của cải tự nuôi mình và giúp cho xã hội.Bà nhìn rõ muốn sản xuất thì nhà nông phải có đủ sức kéo để làm đất.Quan niệm trong bà hiện tại con trâu phải làm sức kéo giúp cho nông dân,chứ không phải cái quan niệm con trâu là đầu cơ nghiệp như nhiều người lầm tưởng từ trước đến nay, để bảo vệ súc vật làm sức kéo,bà đã cùng với vua,hay nói đúng hơn là chính bà đã ra một đạo luật bảo vệ trâu bò để làm sức kéo,tuyệt đối không được giết trâu,cấm những hành vi ăn trộm trâu,những kẻ bất tuân phải chịu hình phạt thật nặng,trước tiên là bị đánh 80 trượng,sau đó phải làm nô dịch khổ sai,với cách thiết kế luật lệ thật nghiêm minh như vậy,dưới triều đại mà bà nhiếp chánh,mùa màng được bội thu,người dân có đời sống no ấm,các kho thóc nhà nước cũng được đầy ắp, đủ lương thực cung ứng nuôi quân,Thái úy Lý Thường Kiệt yên tâm đem quân đi đánh giặc Tống,ông đã đưa quân sang đánh phủ đầu quân giặc,trên đất giặc tại Quảng Đông và Quảng Tây đã tạo cho quân giặc mất tinh thần, oanh liệt nhất là trận trên sông Như Nguyệt, (Sông Cầu) đã làm cho quân nhà Tống phải đầu hàng mà rút quân về nước,Từ đấy Đại Việt lại trở nên yên bình một thời gian lâu dài.

Về mặt nhân sinh: Nguyên Phi Ỷ lan đã xuất kho lấy tiền để chuộc thân cho các cô gái vì nhà nghèo cha mẹ phải đem bán cho các nhà giàu làm tôi tớ suốt đời. Bà chuộc tất cả,rồi đứng ra gả chồng cho những người đàn ông chưa vợ,hoặc góa vợ để lập một gia đình hoàn chỉnh.Trong quan niệm của bà, một khi con người đã lập được một gia đình tức đã làm tăng thêm hộ sản xuất,như vậy là làm tăng lương thực cho xã hội, họ lại sinh con đẻ cái thì lại làm tăng thêm nhân số để có đủ nhân lực sung vào quân đội để chống với quân thù.

Các cô gái nhà nghèo được hưởng cái ân huệ do chính bà ban cho, họ rất là mừng,trước hết là tiền chuộc thân để họ thoát khỏi kiếp làm tôi tớ suốt đời, đó là một tư duy về nhân quyền mà bà đã thực thi trước thời cuộc là rất hiếm thấy, dưới một chế độ quân chủ chuyên chính thời bây giờ. Tiếp theo việc chuộc thân, họ còn được bà đứng ra là mai dong chung đại diện cho cả quốc dân,làm công việc dựng vợ gả chồng,là việc làm tạo hạnh phúc cho con người, cái hạnh phúc ấy thật thiêng liêng mà con người phải nên được hưởng,ngoài ra họ còn được bà giúp cho một ngôi nhà làm tổ ấm,một số tiền để làm vốn liếng và cả ruộng đất để sản xuất,đó là một ân huệ thật to lớn do chính bà đã ban cho họ. Ngẫm ra đấy cũng là một việc làm rất thông minh của Bà,đã tạo được tiếng vang trong dân gian nên,bà được nổi tiếng là một VUA BÀ nhân hậu, làm cho nhân gian quên đi tất cả cái việc mà bà đã phải nhúng tay vào chàm, là việc giết người trước kia.Nếu coi thời đại trị vì của vua Lý Nhân Tông là một thời đại cực thịnh,rực rỡ nhất của nước Đại Việt,thì phải nói chính bà mới là một kiến trúc sư trưởng đã xây nên ngôi nhà vững chắc ấy.

Nhưng cái gì rồi cũng có cái giá của nó,có vay thì phải có trả, Nguyên Phi Ỷ lan khi đã dạy dỗ, hướng dẫn được một vị vua thật giỏi rồi, những lúc thảnh thơi hơn,bà có được những giấc ngủ yên không? không! Cho dù bà đã tận lực làm những việc thiện bao nhiêu đi nữa, nhưng bà đã gây ra cái quả quá đắng,nên tâm luôn vẫn không yên, những lúc trong giấc mơ bà mườn tượng nhìn thấy lại cảnh 73 mạng người, là 73 cuộc đời của những con người bị bà đã cho bức tử, bà cảm thấy đau khổ vô cùng.Để chuộc cái nợ nần ấy,bà đã cho xây dựng thật nhiều chùa trên khắp cả nước, gọi là làm việc thiện để chuộc tội lỗi,bên cạnh là giúp cho người dân có nơi để đến học tập và tu hành, hướng con người đến việc làm điều thiện, hành động ấy cũng là một cách chuộc tội cùng sám hối chuộc tội lỗi mà bà đã mắc phải. Tuy nhiên, những lúc mơ màng vẫn nhìn thấy hình ảnh của Thượng Dương Hoàng Hậu cùng 72 cung nữ đã bị bà cho bức tử,thì bà phải ăn năng vô cùng.

Việc xây chùa trong dân gian người dân đã phong cho bà là một bà chúa xây chùa, bà đã cho xây đến 72 ngôi chùa trên khắp đất nước,trong đó một ngôi chùa có công trình to lớn nhất đó là ngôi chùa Rạng ở Bắc Ninh,với công trình chạm khắc các hoa văn thật kỳ diệu,nhất là những con rồng có vóc dáng mềm mại rất khác với những con rồng nhiều nơi, đó là nét tượng trưng cho sự riêng biệt của nền văn hóa của thời nhà Lý, mà bây giờ chúng ta vẫn còn được chiêm ngưỡng.Tất cả 73 ngôi chùa là hình ảnh tượng trưng của sự sám hối của bà đối với 73 linh hồn đã bị bà cho bức tử.

Cũng để chuộc lại lỗi lầm cùng việc sám hối cho mình được yên tâm hơn ,Nguyên Phi thường lui tới các chùa và hỏi ý kiến nơi các vị Sư thầy,làm sao để trị nước cho bền vững,các vị sư trả lời,muốn nước yên thì lòng dân phải yên,muốn lòng dân yên thì người cầm quyền phải biết sợ luật nhân quả,Ỷ Lan đã thấm thía điều đó.Và bà đã tích cực làm việc đó,những ngôi chùa bà cho xây là trung tâm văn hóa của làng xã,người dân có nơi để đến để học chữ,học đạo lý làm người.Từ đấy dưới triều đại của vua Lý Nhân Tông đạo Phật được thịnh hành khắp mọi nơi và đã trở thành là quốc giáo.

Nguyên Phi Ỷ Lan,đã làm thật nhiều việc thiện, nhưng cái vết nhơ 72 cung nữ cùng với Thượng Dương Hoàng Hậu bị bà bức tử,không thể nào gọt rửa cho sạch trong tâm bà.Tuy nhiên, nếu hiểu cho thật đúng đã bước vào con đường chính trị,thì cái ác không thể nào tránh khỏi,ở đây Nguyên Phi Ỷ Lan là con người có tâm hướng thiện nên bà vướng phải nổi ân hận như vậy mà thôi.

Nhờ bà đã làm quá nhiều việc thiện giúp cho người dân ngoài xã hội,nên người dân đã xem bà là một con người thánh thiện,quên hết những chuyện cũ mà tôn vinh bà như là một Quan Âm sống, vì bà đã làm cho họ được qua nhiều việc, cho họ có được cuộc sống ấm no,nghiêm cấm việc giết trâu,để giữ làm sức kéo cho nông dân,các cô gái nhà nghèo bị bán làm tôi tớ được bà chuộc thân,rồi gả chồng,cho nhà cửa tiền bạc,ruộng đất để tạo dựng một cuộc sống hạnh phúc.Tất cả những việc làm ấy,đã làm cho người dân nhìn thấy cái công của bà lớn hơn cái tội ngày trước nhiều,nên bà được dân chúng tôn vinh là bà Quan Âm sống,và ngay tại quê bà làng Thổ Lỗi cũng đã được xây dựng một ngôi miếu để thờ bà,họ đặt cho bà một cái tên khác nữa là bà BÀ CHÚA KHO.

Sau khi làm xong cái nghĩa vụ,dạy dỗ và hướng dẫn cho Hoàng Thái Tử Lý Càn Đức trưởng thành,đã trở thành một ông vua phú đức, nhân hậu,đầy đủ năng lực trong việc cai trị quốc gia.Nguyên Phi Ỷ Lan đã vào chùa làm công việc gõ mõ,đánh chuông niệm Phật mà tu hành. Vua Lý Nhân Tông trị vì được 63 năm,một vị vua có thời gian trị vì lâu nhất,đất nước yên bình nhất trong lịch sử nhà Lý. Bà để lại cho đời một nhà Lý hưng thịnh,bà không trốn tránh quá khứ,mà đối mặt với hiện tại,cố xây dựng một đế chế thật huy hoàng lưu lại cho hậu thế..Nếu không có Nguyên Phi Ỷ Lan vào lúc nầy,thì nhà Lý phải chấm dứt thật sớm,các vị vua kế tiếp thiếu người có tài để dạy dỗ,nên không có một vị vua nào lập được một công tích lớn,để rồi phải đưa đến sự sụp đổ hoàn toàn dưới thời Lý chiêu Hoàng phải chuyển quyền mà tạo nên triều đại nhà Trần.

  • Trường hợp thứ hai cần phải ghi lại là các Hoàng tử thuộc triều đại nhà Lý vào các đời vua về sau. Từ sự tranh giành quyền lực trong hoàng tộc,đã đưa đến các cuộc vượt biên lánh nạn sang đất Triều Tiên ( Cao Ly) đã xảy ra do “ Nạn tranh bá đồ vương chốn cung đình nhà Lý,là lý do tạo nên các cuộc vượt biên tỵ nạn của Kiến Hải Vương Lý Dương Côn năm 1150 ,thế kỷ thứ XII. Và Thượng thư tá bộc xạ lĩnh Đại Đô Đốc,tước Kiến Bình Vương là Hoàng Tử Lý Long Tường vào cuối triều nhà Lý,thuộc triều vua Lý Chiều Hoàng,

I .) Cuộc vượt biên tị nạn của Hoàng tử Lý Dương Côn (1150)

Lý Nhân Tông là vị vua được nuôi dạy kỹ lưỡng từ thân Mẫu Nguyên Phi Ỷ Lan,nên ngài đã trở thành một vị vua phúc hậu ,nhân đức,trị vì được 56 năm. Là thời gian trị vì lâu nhất thuộc triều đại Nhà Lý.Nhưng rất tiếc là nhà vua lại không có con đễ nối ngôi trị vì thiên hạ.Nên nhà vua phải tìm con trai thuộc dòng tông thất để nuôi trong cung, nhà vua đã phải xuống chiếu rằng: “ Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có con nối,ngôi báu của thiên hạ biết truyền cho ai? Vậy nên trẫm nuôi con trai của Sùng Hiền Hầu,Thành Khánh,Thành Quảng,Thành Chiêu, Thành Hưng.chọn người nào giỏi thì lập làm thái tử.” Bấy giờ con Sùng Hiền Hầu là Dương Hoán mới lên 2 tuổi mà thông minh lanh lợi,rất được vua yêu mến,bèn lập làm Hoàng Thái Tử. Trong loạt 5 hoàng tử mà nhà vua chọn nuôi,Lý Dương Côn là hoàng tử thứ 3,thân sinh của Lý Dương Côn là Thành Quảng Hầu, em ruột của Lý nhân Tông cùng mẹ tức là con bà Nguyên Phi Ỷ Lan. (Đại Việt sử ký Toàn thư quyển III).

Dương Hoán được tôn lên ngôi Hoàng Đế tức là vua Lý Thần Tông. . Các Hoàng tử khác được phong chức Hoàng tử và được giữ các chức vụ riêng biệt. Năm 1138,vua Lý Thần Tông qua đời lúc mới có 23 tuổi,làm vua được 10 năm Như vậy là Hoàng Thái Tử Thiên Tộ lên nối ngôi chỉ mới 2 tuổi tức vua Lý Anh Tông.Lúc vua còn nhỏ mọi việc đều do bà Lê Thái Hậu, là mẹ đẻ của vua,(lúc nầy có hai bà Thái Hậu là Đỗ Thái Hậu và Lê Thái Hậu) Bà Lê thái Hậu lại là tình nhân của Đỗ anh Vũ,giữ chức Thái Úy phụ chánh,nên mọi việc đều do Đỗ anh Vũ quyết định cả,

Trước tình hình đó,Quan Điện tiền chỉ huy sứ là Vũ Đái cùng các công thần hợp lại bắt Đỗ Anh Vũ, nhưng không giết chết,mà chỉ cho đi cày ruộng nhà nước mà thôi.

Bà Lê Thái Hậu là tình nhân,nên âm mưu cho mở nhiều hội hè lớn,mỗi lần như vậy là giảm án cho tù nhân,một thời gian sau Đỗ anh Vũ được giảm hết án, trở lại giữ chức Thái Úy phụ Chánh như cũ.Lúc nầy Đỗ anh Vũ mặc sức mà tính kế báo thù.

Khi vua Lý Thần Tông qua đời, người em họ cũng là con nuôi của Lý Nhân Tông,cùng thời của Lý Thần Tông là Lý Dương Côn..Triều đình muốn lập ông lên làm vua vì ông đã 22 tuổi,được Lý Thần Tông phong là Kiến Hải vương lãnh chức Đại Đô Đốc Hải quân đóng tại Đồ Sơn, nhưng mẹ của Thiên Tộ là Lê Cảm Thánh Hoàng Hậu,đã dùng tiền đút lót các quan mà liên kết với Đỗ Anh Vũ là tình nhân để đưa thiên Tộ lên ngôi, tức là vua Lý Anh Tông. ( Đỗ anh Vũ là em ruột của Chiêu Hiếu Thái Hậu mẹ của vua Thần Tông). Lúc bấy giờ Đỗ Anh Vũ,đã thẳng tay tàn sát các em nuôi của vua Thần Tông cùng tất cả gia quyến của họ,ngay cả nhà của quan Đại Thần Vũ Đái 20 người cũng đều bị giết chết. Kiến hải Vương Lý Dương Côn đang đóng quân tại Đồ Sơn,thấy tình thế nguy biến, nên đã đem gia quyến vượt biển để thoát nạn. Thuyền của Kiến Hải Vương Lý Dương Côn tấp vào bờ biển Pusan,một tỉnh thuộc vùng cực Đông Nam của nước Cao Ly vào năm 1150.

Hiện tại dòng họ Lý Việt Nam thuộc chi tộc Lý Dương Côn,con cháu rất thành đạt về nhiều lãnh vực dưới chế độ tự do của Nam Hàn,chỉ còn khoảng 200 hộ gia đình,gồm 600 nhân khẩu mà thôi, tất cả đều sống tại Nam Hàn.Ghi lại một thành tích đáng kể thuộc chi tộc dòng Lý Dương Côn: Dưới thời vua Nghị Tông( Ui-Jiong 1146-1170) Lý Nghĩa Mẫn được phong chức biệt tướng,đến đời vua Minh Tông ( Mycong 1170-1179) ông được thăng lên chức Thượng tướng quân.(1174) và Tây Bắc Bộ binh mã sứ. (1178) và chức Tể tướng trong suốt 14 năm (1183-1196). Nhưng cũng vào năm nầy 1196 tướng Thôi chung Hiếu (Cho Chung Heon) làm chính biến đã giết chết cha con Lý Nghĩa Mẫn,sở dĩ dòng họ Lý thuộc chi Tộc Lý Dương Côn còn tồn tại tại Nam hàn đến ngày nay là nhờ người anh của Lý Nghĩa Mẫn cùng gia quyến đã được thoát nạn.Hiện tại tại Nam Hàn dòng họ Lý Việt nam thuộc chi tộc Lý Dương Côn chỉ còn 200 hộ gia đình,khoảng 600 nhân khẩu. Theo danh nhân trong lịch sử Cao Ly Lý nghĩa Mẫn (Lee Unimin) là con trai của Hoàng tử Lý Dương Côn, hậu duệ đời thứ 6 kể từ vua Lý Thái Tổ nhà Lý nước Đại cồ Việt.

( theo sử Việt Lý càn Đức là tên húy của Lý Nhân Tông,con trai trưởng của vua Lý Thánh tông,mà mẹ ông là bà Linh Nhân Thái Hậu Ỷ Lan.)

( ghi theo tài liệu từ Bác Sĩ Trần Đại Sĩ )

II .) Cuộc vượt biên thứ hai của Hoàng Tử Lý Long Tường năm 1226.

Triều đại nhà Lý,các vị vua cuối triều Lý không còn là những minh quân,tỏ ra nhu nhược hoặc bị suy yếu về thế chất nên không còn đủ sáng suốt để cáng đáng việc nước.Đó là lý do đưa đến việc Trần thủ Độ cướp lấy thời cơ dùng mưu lược để lấy thiên hạ từ tay nhà Lý cho nhà Trần, một cách khá êm thắm.Tuy nhiên để trừ hậu hoạn Trần thủ Độ đã ra tay tiêu diệt con cháu thuộc hoàng tộc nhà Lý một cách triệt để,vì vậy mà tạo nên cuộc vượt biên tỵ nạn của Hoàng Tử Lý Long Tường vào năm 1226.

Cái mưu mẹo của Trần Thủ Độ. Lợi dụng lúc các vua nhà Lý nhu nhược không còn đủ sức cáng đáng công việc cai trị đất nước,Trần thủ Độ khi đã bước vào được ngôi vị làm phụ chánh. Đã nhân cơ hội cướp thời cơ mà cướp ngôi vua từ nhà Lý cho nhà Trần,làm cho Hoàng tử Lý Long Tường phải liều lĩnh vượt biển để tị nạn chính trị tại Triều Tiên.

Nguyên nhân: năm Giáp Thân 1224,Lý Huệ Tông lập công chúa Huệ Kim ngôi Thái tử,rồi truyền ngôi cho công chúa,tức Lý Chiêu Hoàng,Sau đó Lý Huệ Tông ra tu ở chùa Chân Giáo.Quyền bính bấy giờ nằm trong tay của Thái Hậu Trần thị Dung và Thái sư Trần thủ Độ. Hai người nầy vốn là anh em họ,nhưng lại tư thông với nhau. Đến tháng 10 năm Ất Dậu 1225,Trần thủ Độ tìm cách cho Lý Chiêu Hoàng thành hôn với cháu ông ta là Trần Cảnh mới lên 8 tuổi.Rồi dàn dựng để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng.Đến đây quyền bính từ Nhà Lý đã chuyển hẳn vào tay nhà Trần. Một hôm thấy Huệ Tông nhổ cỏ trong sân chùa,Trần thủ Độ nói bóng gió “Nhổ cỏ phải nhổ cho tận gốc”, rồi tháng 8 năm Bính Tuất 1226. Trần Thủ Độ bức tử nhà vua tại chùa Chân Giáo.Thái Hậu Trần thị Dung bị giáng xuống làm công chúa Thiên Cực.,để có thể dễ bề lấy Trần thủ Độ làm chồng. Nhằm muốn tận diệt dòng dõi nhà Lý,Trần thủ Độ dùng chính sách thanh trừng tôn thất nhà Lý. Gả các cung nhân và con gái nhà Lý cho các tù trưởng trên miền sơn cước. Theo Việt Nam Sử Lược của Trần trọng Kim,nhà xuất bản Văn Hóa Thông tin năm 1999 trang 126). Một ít năm sau cào năm 1232,nhân dịp con cháu nhà Lý còn sót lại tụ họp ở thôn Thái Đường,xả Hoa Lâm (nay thuộc Huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc ninh, nơi đây là hành cung của nhà Lý trước đó) để làm lễ cúng tổ tiên.Trần thủ Độ đã cho đào sẵn hố sâu,rồi cho xây nhà trên đó, lúc mọi người đang làm lễ,thì cho giựt dây làm sụp hầm mà chôn sống họ.

Dưới bối cảnh bất lợi như vậy,tôn thất nhà Lý nào còn sống sót đều phải cao bay xa chạy để thoát nạn tận diệt của Trần thủ Độ.Hoàng Tử Lý Long Tường là chú của vua Huệ Tông ,là ông chú của vua Lý Chiêu Hoàng.Các con của vua Lý Anh Tông là Lý Long Xưởng (1151-1181) được phong làm Thái Tử,sau bị truất vào năm 1174 vì phạm lỗi trêu ghẹo cung nữ của vua cha,nên bị phế làm thứ dân. Long Minh (1153-1175); Long Đức (1153-1175) Long Hòa ( 1152-1175) Long Ích (1167- 1212) Long Trát (1172-1210); Thái tử Lý Long Trát được phong Đông Cung Thái tử và được nối ngôi tức là Lý Cao Tông. Và Hoàng tử thứ 7 là Lý Long Tường do Hiền Phi Lê Mỹ Nga sinh ngài vào năm Chính Long Bảo Ứng thứ 12 (DL là năm 1174) tức Giáp Ngọ.

Khi đã lên ngôi Hoàng đế đức Thái Tông nhà ta (tức Trần Cảnh) đã phong chức tước như sau: Thái sư Trần thủ Độ là Thượng trụ quốc,khai phủ nghị đồng tam tư. Thượng thư Tá bộc xạ,lĩnh Đại Đô đốc tước Khiến Bình Vương là Hoàng tử Lý long Tường đóng quân ở Đồ Sơn. Năm niên hiệu Kiến Trung thứ nhì đời đức Thái Tông,tháng tám ngày rằm,vương cùng gia thuộc hơn 6.000 người dùng chiến huyền lớn để xuất bôn tỵ nạn.

Hoàng tử Lý Long Tường là vị thân vương duy nhất còn sót lại của triều nhà Lý với các chức tước,địa vị cực cao, lúc ấy ông đang nắm thực lực binh quyền (Đại Đô Đốc Hải quân) cho nên Hoàng Tử phải lo sợ bị Thái sư Trần Thủ Độ sẽ ám hại, nên đã quyết định vượt biên tị nạn chính trị.Trước khi ra đi,Hoàng tử đã bí mật lén về Kinh Bắc,vái lạy tạ biệt tại lăng miếu Đình Bản, thu gôm các bài vị,các đồ tế khí,rồi trở lại Đồ Sơn, đem hết tông tộc,những thân thuộc trong lính tráng hơn 6.000 người xuống chiến hạm để ra đi.Sau hơn một tháng,hạm đội gặp bảo phải ghé vào đảo Đài Loan. Con trai lớn của Hoàng tử là Lý Đăng Hiền bị bịnh nên cùng vợ con ở lại tại đảo nầy ( Đến bây giờ vẫn chưa tìm ra tung tích dòng họ Lý tại Đài Loan).Đoàn chiến hạm vẫn tiếp tục cuộc vượt biên.Cuối cùng đoàn tàu của Hoàng Tử Lý Long Tường đổ bộ được lên cửa Phú Long Giang,thuộc quận Khang Linh ( Ong Jin Gun),tỉnh Hoàng Hải (Hwang Hac) thuộc miền Bắc Cao Ly. Vị trí đổ bộ nầy tên là Nak -nac-Wac (Bến khách phương xa mang theo đồ thờ cúng) Vương được vua Cao Tông (Kojong) cùng quần thần tiếp kiến bằng bút đàm. Sau đó vua ban đồ tiếp tế và cho lập cư ở Ung Tân, Phú Nam Trấn Sơn (Chin sang) Từ đấy Vương cùng thân tộc gắng sức mưu sinh,phát huy văn học và luyện tập binh võ.

Năm 1253,quân Mông Cổ xâm lăng Cao Ly,chiến thuyền và bộ binh Mông Cổ thắng lợi khắp mọi nơi đe dọa kinh đô Cao Ly,nhiều tướng Cao Ly đã phải tử trận,Nhận Thấy tình hình bi đát.Kiến Bình Vương Lý Long Tường tình nguyện tới yết kiến Thái úy Vi Hiến Khoan đang nắm binh quyền để hiến kế sách binh pháp của nước Đại Việt cho ông. Hoàng Tử Lý Long Tường thường cởi con ngựa trắng để đôn đốc binh sĩ giữ thành. Và rồi Cao Ly mừng chiến thắng.Nhà Vua tưởng thưởng hoàng tử Lý Long Tường,phong cho Hoàng Tử là Hoa Sơn tướng quân ghi tên trên núi Hoa Sơn nơi ông đang cư ngụ.Nhà vua còn cho dựng bia trên núi Hoa Sơn,khắc ghi công lao của tướng quân,Đích thân nhà vua đề tặng ba chữ “THỤ HÀNG MÔN” ( cửa tiếp nhận sự đầu hàng của giặc).

Ngày nay lăng mộ Hoàng tử Lý Long Tường cùng con cháu 3 đời sau vẫn còn trên đồi Julbang,xã Đỗ Môn (Tô mơ Ki) cách núi Hoa sơn khoảng 10 cây số về phía tây.Trên Quảng Đại Sơn vẫn còn Vọng quốc Đài.là cái đài mà Hoàng tử thường lên đó để nhìn về phương Nam nơi cố quốc mà ôm mặt khóc. Mõm đá mà Hoàng Tử đặt chân lên đầu tiên có tên là “Việt Thanh Nham” ( tảng đá xanh in dấu vết người Việt).Tại Đại Hàn nằm trên khoảng đường từ Hán Thành đến phi trường của Đại Hàn, du khách có thể chiêm ngưỡng pho tượng Bạch Mã tướng công do chính phủ Đại Hàn xây dựng vào thập niên 1960. Trong chiến tranh Việt Nam, mọi người đều biết quân Đại Hàn đã tham chiến gồm hai sư đoàn là Phi Hổ và Bạch Mã. Sư đoàn Bạch Mã dưới quyền chỉ huy của Trung tướng Kim Yong Hiu,sư đoàn đóng ở Nha Trang và Đèo Cả. Không phải là một việc ngẫu nhiên,mà sư đoàn mang tên Bạch Mã là một bằng chứng,chứng minh là nước Đại Hàn còn nhớ ơn từ Hoàng Tử Lý Long Tường trong trận chiến thắng quân Mông Cổ thế kỷ thứ 13.Nước Đại Hàn Dân quốc cử sư đoàn Bạch Mã sang Việt Nam chiến đấu không ngoài mục đích là chiến đấu cho nền tự do của Miền Nam Việt Nam.

Năm 1958, Tổng Thống quốc gia Nam Hàn là Lý thừa Vãn,đã đến Sài gòn để thăm Tổng Thống Ngô Đình Diệm,cũng là dịp để trả lễ mà trước đó vào năm 1957,Tổng Thống Diệm đã đến thăm Tổng Thống Nam Hàn,nhân chuyến đi nầy Tổng Thống Lý thừa Vãn đã xác nhận,ông là con cháu họ Lý Việt Nam, Ông là cháu đời thứ 25 của Hoàng Tử Lý Long Tường. Hiện tại con cháu nhà Lý có một người về sống luôn tại Hà Nội tên là Lý Xương Căn ( Tên Hàn Quốc là: Lee Chang Kun) đời thứ 26 của Hoàng tử Lý long Tường, là hậu duệ đời thứ 31 của Lý Thái tổ.Ông đã được nhà nước Cộng Hòa Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận quốc tịch Việt,và giữ vai trò Đại sứ Du lịch Việt Nam tại Hàn Quốc.

Tóm lại,trong 9 đời vua nhà Lý,5 đời từ Thái Tổ đến Nhân Tông đều là các vị vua có tài trong việc trị vì đất nước,đã làm cho đất nước giàu mạnh,5 vị vua cuối đời thì yếu hèn đều lên ngôi lúc còn rất nhỏ tuổi,các bà hậu nhiếp chánh không đủ tài năng để hướng dẫn trở thành các vị vua tốt,hoặc là do hạnh kiểm không tốt,hoặc vì bịnh tật đau yếu thể chất không bảo đảm để ngồi trên ngai vàng,do vậy đã làm cho triều đại phải suy vi đưa đến việc mất nước.Gây nên hai cuộc vượt biên tỵ nạn chính trị của các hoàng tử Lý Dương Côn thế kỷ thứ 12 và Hoàng Tử Lý Long Tường vào thế kỷ thứ 13,như chúng ta đã biết, và đã được ghi lại bên trên.Đồng thời cũng là dịp phải chuyển giao quyền lực từ nhà Lý cho nhà Trần,dưới mưu lược của Trần Thủ Độ mà không bị sự tranh chấp nên khá êm thắm,không bị đổ máu.

______________________________

T R I Ề U Đ Ạ I N H À T R Ầ N

( 1126 - 1400 )

PHẦN TỔNG QUÁT

Triều đại Nhà Trần cũng là một triều đại Quân Chủ,cai trị đất nước Đại Việt từ năm 1126 đến năm 1400.Có thể nói đây là một triều đại được lừng danh với những chiến công lớn trong lịch sử Đại Việt. Triều đại nhà Trần được khởi đầu vào năm 1126,lúc Trần Cảnh,khi được vợ là vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi để lên ngôi Hoàng đế,đứng đầu một triều đình mà cai trị đất nước. Ai cũng biết Trần Cảnh lên ngôi mới lúc 8 tuổi,là một ông vua còn rất nhỏ tuổi,nên toàn bộ quyền điều hành việc nước đều do một tay Trần Thủ Độ là một tông thất là vai chú của nhà vua nắm giữ. Chuyện nhường ngôi cho chồng của vua Lý Chiêu Hoàng,cũng là do một tay Trần Thủ Độ dàn dựng và bắt ép,để tạo một cảnh chuyển quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần, lúc mà nhà Lý đã quá suy yếu.

Trong suốt giai đoạn nắm giữ quyền lực cai trị đất nước,các vua nhà Trần vẫn tiếp nối việc đóng đô ở Thăng Long , là kinh đô cũ của nhà Lý.Rút kinh nghiệm từ việc cai trị cùng việc phát triển xã hội của các vua dưới triều nhà Lý tương đối không được mạnh mẽ.Nhà Trần cho xây dựng một bộ máy chính quyền hoàn thiện hơn nhiều so với nhà Lý.Tạo nên một hệ thống cai trị đặc biệt dể tránh mọi sự tranh giành ngôi vua của các hoàng tử như nhà Lý. Chính sách đó là tạo ra một tiền lệ là Hoàng Đế trị vì nhường ngôi sớm cho Hoàng thái tử lên nhiếp chánh mà lui về phía sau làm Thái thượng hoàng. Tuy nhiên không phải về giữ ngôi vị ấy mà hưởng nhàn, trái lại Thái thượng Hoàng cũng song hành với nhà vua trẻ điều hành công việc nước,cho đến một lúc nhà vua trẻ trưởng thành.Chế độ nầy đã tránh được tất cả mọi sự tranh giành ngôi vị,như các triều vua dưới thời nhà Lý,đó là một chính sách xuất sắc nhất mà triều đại nhà Trần đã nghĩ ra và áp dụng.

Tù chính sách đặc biệt nầy,các đời vua nhà Trần đều khá ổn định mà từ đó các sinh hoạt ngoài xã hội đã đồng loạt song hành phát triển mạnh mẽ như : Kinh tế, giáo dục,nghệ thuật,xã hội cũng hoàn chỉnh hơn.Chứng minh được cái triết lý “Tam giáo đồng qui”đã tiếp nối của nhà Lý mà phát triển rực rỡ hơn.Xã hội dưới triều đại nhà Trần đã chịu ảnh hưởng mạnh về triết lý nầy. Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông là một danh nhân nổi tiếng giỏi về văn chương dưới triều đại nhà Trần, cũng là người bảo trợ việc phát huy tinh thần Phật Giáo và Đạo giáo dể thành lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nổi tiếng mà truyền đến ngày nay.Bên cạnh Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông,ông còn có một loạt các danh thần như: Đoàn nhữ Hài, Nguyễn Trung NGạn,Trương Hán Siêu,Nguyễn Hiền ,Chu văn An,Trần quang Triều là những trí thúc nổi danh,giỏi cả về văn chương,thơ phú đã góp phần to lớn trong việc tạo nên một thời kỳ văn hóa dưới triều dại nhà Trần hưng thịnh nhất.

Cái đặc biệt nữa là dưới triều đại nhà Trần,có một quân đội hùng hậu với các lực lượng thiện chiến là Thủy Binh,tiếp theo là Kỵ Binh; Bộ Binh và Tượng Binh.Nhờ lực lượng quân đội được nhà nước trung ương chú trọng nên phát triển đồng đều, tạo được sức mạnh đủ sức đương đầu dẹp tất cả các cuộc nội loạn,nhất là việc chống lại các cuộc xâm lược của các thế lực phương Bắc là nhà Nguyên, Dế quốc Mông Cổ đã ba lần vào xâm lăng nước ta năm 1258, 1285, và 1287.

Nhà Trần đã đào tạo được nhiều tướng giỏi như Chiêu Minh Dại Vương Trần Quang Khải; Chiên văn Đại Vương Trần nhật Duật; Hưng Dạo Vương Trần Quốc Tuấn; Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư tất cả đều là những tướng cầm quân tài ba,giữ một vai tò quan trong trong các chiến thắng oanh liệt vào năm 1285 và 1287.

1) V Ề P H Ầ N L Ị C H S Ử.

Căn cứ theo gia phả của họ Trần ở Lạc Dương,do Thống tôn đời thứ 27 Trần Đình Nhân (con cháu Trần ích Tắc) còn lưu giữ, được ghi lại,gốc tích tổ tiên họ Trần trước sống ở đất Mân Việt ( Phúc Kiến) nay thuộc đất của Trung Quốc. (trước kí thuộc đất Bách Việt).

Tổ tiên nhà họ Trần vốn làm nghề chài lưới,có gốc là người Mân Việt ( nay là Phúc Kiến,Trung Quốc). Họ di cư đến đất Đại Việt đầu tiên ở xã Yên Sinh,huyện Đồng Triều ( Quảng Ninh). Sau di dời đến các vùng ven biển Tức Mặc (phường Nam Định,tỉnh Ninh Bình) và Thái Đường (phường Long Hưng,tỉnh Hưng Yên).Hậu duệ của nhà Trần là con cháu lai giữa dòng dõi nhà Trần và dòng dõi nhà Lý,trừ trường hợp các đời trước như Trần Lý,Trần Thừa và con của Trần Thừa là Trần Cảnh vị vua đầu tiên của nhà Trần.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép rằng: Người Họ Trần đầu tiên đến đất Tức Mặc là Trần Kinh (…) đến định cư tại làng Tức Mặc,sống bằng nghề đánh cá vào đầu thế kỷ thứ XII. Cụ Trần Kinh sinh ra cụ **Trần Hấp,**cụ Trần Hấp sinh ra cụ Trần Lý. Gia đình cụ Trần Hấp chuyển về sinh sống ở làng Thái Đường, Long Hưng.

Trần Hấp có gia sản lớn,kẻ ở,người làm dông dến vài trăm. Anh em Trần Lý cũng bỏ hẳn nghề chài lưới,để chuyển sang quảng lý điền trang. Tuyển mộ người ở,người làm. Gia tộc họ Trần dần dần có địa vị,trở thành tầng lớp trên của xã hội lúc bấy giờ. Họ Trần trở nên giàu có và hùng mạnh dưới thời cụ Trần Lý. Cụ Trần Lý lúc trưởng thành lấy bà Tô thị Hiến ( Bà nầy có người em ruột là Tô trung Từ,giữ chức Thái Úy,Phụ chính,tưới Thuận Lưu Bá,dưới triều Lý Huệ Tông). Họ sinh dược bốn người con: Trần Thừa,Trần Tự Khánh,Trần thị Dung,Trần thị Tam Nương.

Trần Thừa lấy bà họ Lê ( Con gái ông Lê Điện quan Thái phó triều Lý) sau nầy sinh ra ba con trai là :Trần Liễu, Trần Cảnh , Trần nhật Hiệu và hai con gái. Trần Cảnh là con thứ của Trần Thừa, sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, tức Kiến Gia năm thứ 8 triều Lý (9-7-1218) Như vậy Trần Cảnh (vua đầu tiên của nhà Trần) là cháu 4 đời của Trần Kính (tổ họ Trần).

Các nhà lãnh đạo thuộc những thế hệ đầu tiên thường mang tên các loài cá,do từ nguồn gốc xuất thân nghề chài lưới của họ Trần. Tổ họ Trần vốn tên là Chép,được dịch sang tiếng Hán,phiên âm là “Lý”, nghĩa Là cá Chép. Con ông là Trần Thừa vốn có tên là Dưa (cá Dưa).Hai con trai Trần Thừa vốn có tên là Leo ( Cá Leo),được phiên sang chữ Hán là Liễu (Cha của Trần quốc Tuấn),người con thứ hai có tên là Lành Canh (Cá Lành Canh) phiên sang chữ Hán Là Cảnh. Trần thị Dung vốn cũng có tên là Ngừ (Cá Ngừ) Khi làm Hoàng Hậu của Lý Huệ Tông mới đổi gọi là Dung.Về s au dân địa phương lập đền thờ vẫn gọi bà là “Bà chúa Ngừ”

Từ thế hệ thứ hai,nhà Trần nắm quyền cai trị mới đặt tên theo các tên đời sau thường biết tới (Theo Wikipedia nhà Trần tiếng Việt).

  1. Tóm tắc lịch sử các vị vua nhà Trần từ 1226- 1400.

Nhà Trần lên nối ngôi vua từ nhà Lý mà cai trị đất nước Dại Việt kể từ năm 1226, xây dựng nên một đế chế quân chủ toàn trị rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam. Đế chế quân chủ nhà Trần đã ba lần đánh thắng quân Nguyên- Mông.Không những công việc chống được giặc ngoại xâm hùng mạnh phương Bắc., mà cái công trình nổi bậc nhất trong triều đại nhà Trần là đưa đất nước theo khuynh hướng “ triết thuyết tam giáo đồng qui” đã được sư Vạn Hạnh đầu triều nhà Lý tổn hợp,mà dưới triều nhà Lý dẫu thực hiện,nhưng vẫn chưa được hoàn chỉnh. Đến triều Đại nhà Trần đã áp dụng triết thuyết nầy,và đã tạo nên một sự hoàn chỉnh tốt đẹp,đưa và làm tôn chỉ mà thành như một quốc giáo,lấy đó làm cột mốc cho việc xây dựng phát triển xã hội,nhất là vấn dề giáo dục,vấn đề phát triển kinh tế,và cả việc phát triển ngành quân sự nữa.

Trải qua 175 năm trị vì dưới 12 đời vua,cùng 7 năm thời Hậu Trần 2 dời vua. Các vua dưới triều dại nhà Trần hầu hết là những con người tài hoa,anh minh sáng suốt trong chính sách cai trị,nhất là yêu nước và thương dân.Tất cả đã cống hiến rất nhiều trong sự nghiệp dụng nước và giữ nước. cho dân tộc Việt.Dể biết 12 vị vua thuộc triều dại nhà Trần là những ai, chúng ta lần lược tìm hiểu về lịch sử của từng mỗi vị vua thuộc về triều đại nầy, để biết rõ từng mỗi vị dể cái xưng tụng của chúng ta không phải quá lệch.

3)Nhà Trần được thành lập trong hoàn cảnh nào,và vào năm nào:

Vào cuối thế kỷ thứ XII,thế lực nhà Lý quá suy yếu,loạn lạc nổi lên khắp nơi chống lại triều đình,vì vậy mà triều đình phải di tản nhiều lần để lánh nạn.Cuối cùng dưới thời vua Lý Huệ Tông phải dựa vào thế lực của nhà Trần mà chống lại các thế lực nổi loạn.Khi công chúa Huệ Kim được vua Lý Huệ Tông tôn làm Hoàng Thái tử rồi lên nối ngôi vua thay Lý Huệ Tông,lúc nầy nhà vua mới 7 tuổi. Trần thủ Độ đang là quan Điện tiền chỉ huy sứ tại cung vua Lý Chiêu Hoàng.Ông dùng mưu mà để cho Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh là cháu của mình làm chồng,và rồi ép Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1226.Như vậy là Trần Cảnh đã nhân cơ hội ấy mà lên ngôi vua,là thời kỳ mở đầu cho triều đại nhà Trần.

Những năm đầu,lúc Trần Cảnh còn nhỏ tuổi, toàn bộ quyền bính trong triều đình đều do một tay Trấn thủ Độ là một Tông Thất của nhà vua,có vai vế là chú họ của vua.Nắm toàn quyền trong việc điều hành triều đình,chỉ đạo guồng máy nhà nước về mọi phương diện.

Trong suốt triều đại nhà Trần, tất cả các vị vua đều đóng đô tại Thăng Long, là kinh đô cũ dưới triều nhà Lý.Nhưng các vị vua dưới triều nhà Trần đều mở rộng bộ máy hành chánh một cách hoàn thiện hơn so với dưới thời nhà Lý. Cái đặc biệt là các vua nhà Trần rút kinh nghiệm từ nhà Lý ,quyết không để việc tranh giành ngôi vị xảy ra như dưới triều nhà Lý,hay các triều đại trước cũng vậy.Phải triệt để giữ không cho việc ấy xảy ra,làm mất đi năng lực lãnh đạo của các vị vua mới lên ngôi.Các vua nhà Trần chủ trương lui về làm Thái thượng Hoàng sớm, giao quyền cho các vị vua trẻ đã được chọn làm Thái Tử.Nhưng không phải các vị lên giữ chức Thái thượng Hoàng,là để ngồi chơi hưởng lạc,mà cùng đồng hành với vị vua trẻ điều hành công việc nước,cho đến một khi vị vua trẻ được rèn luyện thuần thạo công việc lãnh đạo,tức là đã trưởng thành, thuần thục công việc cai trị mới thôi.Nhờ đó mà tuyệt đối tránh tránh được nạn tranh giành ngôi vị mà tương tà giữa anh em trong gia đình.

Thời gian 175 năm nhà Trần tồn tại trải qua 12 đời vua (1226-1400,) gồm có:

1)-Trần Thái Tông ( 1226-1258) ; 2) -Trần Thánh Tông (1258- 1272); 3) - Trần Nhân Tông ( 1278-1293); 4) – Trần Anh Tông (1293- 1314); 5)- Trần Minh Tông ( 1314- 1329); 6)- Trần Hiến Tông (1329- 1341); 7) - Trần Dụ Tông ( 1341-1369); 8) - Trần Nghệ Tông ( 1370 – 1372); 9) - Trần Duệ Tông ( 1372-1377 ); 10)- Trần Phế Đế (1377- 1388); 11) - Trần Thuận Tông ( 11388 – 1398); 12)- Trần Thiếu Đế (1398- 1400).

Sự nghiệp của các vị vua thuộc triều đại Nhà Trần:

  1. Trần Thái Tông: (1226- 1258)

* Niên hiệu là : Kiến Trung.

* Tên đầy đủ là tên thật Trần Bồ,sau đổi là Trần Cảnh hay Trần Nhật Cảnh.

* Sinh ngày: 9 tháng 7 năm 1218.

* Năm lên ngôi : ngày 10 tháng 1 năm 1226.

* Thời gian trị vì: 32 năm ( 1226- 1258)

* Ngày mất: ngày 5 tháng 5 năm 1277.

Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên của nhà Trần,cũng chính là người đặt nền móng cho một triều đại lừng lẫy trong lịch sử nước Việt. Dưới bàn tay của tướng Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ,nhà vua cuối của Triều Lý, ban chiếu nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh,vào ngày 11 tháng 12 năm Ất Dậu 1225.Trần Cảnh lên ngôi Hoàng Đế tức là Trần Thái Tông,đổi niên hiệu là Kiến Trung.

Như vậy vua Trần thái Tông có tên húy là Trần Cảnh (9-7-1219 – 5-5-1277) là con trai thứ của Trần Thừa.Nhà vua lên ngôi lúc mới được 8 tuổi.Nhưng trong suốt thời kỳ trị vì của ông, Trần Thái Tông đã tạo được một sự nghiệp huy hoàng về cả các lãnh vực mà nhất là quân sự,bên cạnh đó nhà vua cũng đã tạo dược một sự nghiệp to lớn về nền kinh tế và cả nền chính trị làm nền móng cho việc cai trị lúc bấy giờ.

Khi lên ngôi,nhà vua tuổi hãy còn rất nhỏ nên mọi việc triều chính đều do một tay Thái Sư Trần thủ Độ và cha là Thái Thượng Hoàng Trần Thừa (Trần Thái Tổ) quyết định cả.

Việc dẹp nội loạn:

Vào thời cuối nhà Lý,nước Đại Việt đã hình thành nên ba thế lực lớn đó là:

* Họ Đoàn, Đoàn Thượng ( chiếm cứ vùng Hải Phòng).

* Họ Trần,Trần Tự Khánh (vùng Ninh Bình và Nam Hưng Yên).

* Họ Nguyễn, Nguyễn Nộn (vùng Quốc Oai,Hà Nội)

Cuối triều đại nhà Lý chỉ kiểm soát được chung quanh thủ đô Thăng Long. Vì vậy khi lên thay ngôi nhà Lý,nhà Trần phải tiếp tục đối phó với các thế lực các cứ dưới thời nhà Lý còn lại.Do thế lực chưa đủ mạnh để trấn áp các lực lượng nổi dậy nầy,nhà Trần phải dùng chiến thuật khi đánh và khi thì phải hòa,thậm chí dùng cả biện pháp hôn nhân,và tận dụng sự xung đột của chính các thế lực nầy dể tự làm suy yếu nhau.

Sau khi nhà Trần đã được thành lập, Nguyễn Nộn đã đánh bại mà giết chết Đoàn Thượng năm 1228. Nhưng không lâu sau vào cuối năm 1229,Nguyễn Nộn cũng lại chết,thế lực của Nguyễn Nộn tự tan rã, Như vậy cả hai thế lực trên tự biến mất,nhà Trần dã chấm dứt được cục diện chia cắt nhiều năm để tập trung vào việc cũng cố nội chính sau nhiều năm bị nghiêng ngã mà triều Lý còn lưu lại.

Trần thủ Độ bị đánh giá là một người thiếu lễ giáo,thất học,nhưng lại là người mưu lược hơn người,trong việc cai trị đất nước đều rất cẩn thận và chu toàn về mọi mặt. Vào thời Thái Tông đã củng cố được các vấn đề chính dể ổn định chính sách cai trị.

*Mở khoa thi Tam Giáo ( Đạo giáo,Nho Giáo ,Phật Giáo) tức là lý thuyết về Tam giáo đồng qui,mà nhiều năm đã bị gián đoạn dưới triều Ký vì loạn lạc. Định lại luật pháp,soạn ra bộ luật “Quốc Triều Hình Luật” gồm 20 quyển để định tội danh trong nước. (Đáng tiếc bộ sánh nầy đã bị thất lạc).

Lại mở rộng phía ngoài thành Thăng Long,bốn cửa thành,giao cho quân tứ sương thay nhau canh giữ. Sửa đổi quan chức các phủ lộ.

Đặt hai viên An Phủ Sứ và An Phủ Phó Sứ. Trong thành dựng,điện,lầu, và các nhà lang vũ ở hai bên phía Đông và phía Tây. Bên tả là **cung Thánh Từ (là nơi dành cho Thái Thượng Hoàng ở).**Bên hữu là **cung Quan Triều (**nơi Hoàng Đế ở). Ghi chép công việc của quốc triều làm bộ **Quốc triều tường lễ,**10 quyển.

*Về thủy lợ cũng dược coi trọng,Năm 1231,sai hoạn quan Nguyễn bang Cốc,chỉ huy quân lính ở phủ mình,đào vét kênh Trầm và kênh Hào,từ phủ Thanh Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu. Việc xong thăng Bang Cốc lên chức Phụ quốc Thượng Hầu.

*Bắt đầu định luật hành chính. Chia nước ra làm 12 lộ.Đặt các chức quan cai trị. Thiết lập sổ hộ khẩu để định thứ vị những người trong gia đình, con trai lớn được gọi là đại hoàng nam,con trai nhỏ gọi là tiểu hoàng nam,60 tuổi được gọi là lão, người già hơn được gọi là **long lão.**Nhân đinh có ruộng thì nộp tiền thóc,người không có ruộng đất thì miễn cả. Có 1,2 mẫu ruộng thì nộp 1 quan tiền., có 3,4 mẫu thì nộp 2 quan tiền, có từ 5 mẫu trở lên nộp 3 quan tiền. Tô ruộng mỗi mẫu nộp 100 thăng thóc.( Một thăng là bằng 2k5 hay là nửa ang 5 ký,ở nhà tôi có cái thăng đó nên biết).

* Bắt đầu thông thương với biên giới,để có thể giao thương với nhà Tống, sau khi Trần thái Tông mất,thì cửa ải không được thông.Nếu có sứ mệnh thì chỉ có hai viên Chánh, Phó sứ cùng hai bọn người đi theo,còn phẩm vật tiến cống,có bao nhiêu thì gói bọc đưa đến địa đầu biên giới,quan dịa phương nhận giữ và chuyển nộp.Sứ thần đến kinh,chỉ dâng biểu tâu thôi.,các vật tiến cống không dến nơi cùng lược được. Dến bây giờ,sai tướng chống giữ,đánh chiếm mới thông hiếu được với nước Tống.

Mỗi khi có nạn hạn hán, triều đình thường ban hành luật miễn thuế khóa.Mở kho lương phát chẩn và rồi đại xá, cho nên quốc lực mau chóng được phục hồi. Đại Việt trở lại thời kỳ phồn thịnh như triều Lý. Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép : “ Bây giờ quốc gia vô sự,dân chúng yên vui,người làm quan giữ mãi một chức,người ở quân các 10 năm mới được xuất thân,người ở sảnh,cục 15 năm mới dược xuất thân, chức tể tướng thì chọn người hiền năng trong tôn thất,có đạo đức,tài nghệ,thông hiểu thi thư thì cho làm”.

Năm 1252,Thái Tông đổi niên hiệu là Nguyên Phong*.* Sau đó ông lập tức dẫn quân đi đánh Chiêm Thành. Trước đó khi nhà Lý suy, Chiêm Thành thường hay xua quân công phá vùng biên giới Nghệ An.,dân chết vô số,nay vua đã lên ngôi mà vua Chiêm không sang thông hiếu thì rất tức giận,nên vua đích thân dẫn quân đi chinh phạt,bắt được nhiều thần thiếp lấy được nhiều của cải. Uy danh Đại Việt đối với Chiêm Thành mới lại được thiết lập. Giai đoạn nầy gọi là Nguyên Phong chi trị.

Năm 1258,sau khi đánh bại dại quân của Ngột Lương Hợp Thai của Mông Cổ.Vua Trần Thái Tông truyền ngôi cho Thái tử Trần Hoảng,và tự xưng là Thái thượng Hoàng. Từ đấy nhà Trần theo lệ mà truyền ngôi sớm cho Thái tử. Thượng Hoàng tuy nhường ngôi nhưng vẫn quán xuyến mọi việc,giúp vị vua trẻ học nghề để làm quen dần với chính sự.

Trần Hoảng lên ngôi ,gọi là Trần Thánh Tông

Dưới thời của Thánh Tông hoàng đế,mọi việc chính sự đều chu toàn,nhà Trần tiếp tục thạnh trị.Ông xưng là Nhân Hoàng,niên hiệu cải thành là Thiệu Long.

Năm 1264,Thái sư Trần Thủ Độ qua đời,thọ 71.Thái sư công chính nghiêm minh. Nhà Trần có dược ngôi báu cùng sự thạnh trị đời Thái Tông đều là do công sức của ông. Đến đây truy phong ông làm Thượng phu Thái Sư Trung vũ Đại Vương.

  1. Trần Thánh Tông ( 1258 – 1272).
  • Niên hiệu: Thiệu Long.

  • Tên đầy đủ là :Trần Hoảng

  • Ngày sinh: 12 tháng 10 năm 1217.

  • Ngày lên ngôi: ngày 10 tháng 1 năm 1258.

  • Thời gian trị vì: 21 năm ( 1258- 1279)

  • Ngày Mất: ngày 3 tháng 7 năm 1290.

Trần Thánh Tông là vị vua thứ hai trong các vị vua nhà Trần,ông được sử sách ca ngợi là một vị vua nhân hậu,luôn hòa thuận với anh em trong Hoàng Gia,và giữ vững cơ nghiệp của triều đại.

Ông là con trai trưởng của vua Trần Thái Tông và Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng Thái Hậu Lý Thị.Ông sinh ngày 25/9/1240 là năm Canh Tý.Được đặt tên là Trần Hoảng và được vua cha truyền ngôi chính thức để lên ngôi Hoàng Đế vào ngày 10 tháng 1 năm 1258.

Là vị vua yêu nước thương dân:

Vua Trần Thánh Tông được sử sách ca ngợi là vị vua độ lượng nhân từ,thương dân và hết lòng chăm lo việc nước. Nhà vua cho khai hoang lập điền an cư lạc nghiệp. Nhà vua thực hiện nhiều chính sách khuyến học,bằng cách mở các khoa thi để chọn nhân tài.

Nhân sự cũng bắt đầu được thay đổi trong thời kỳ Trần Thánh Tông. Bây giờ ông Đặng Kế làm Hàn Lâm Viện Học Sĩ, Đỗ quốc Tá làm Trung Thư Sảnh Trung Thư Lệnh,tất cả quan chức đều là nho sĩ và văn học,được bắt đầu từ đây,như vậy giới Nho sĩ,văn học mới được nắm giữ quyền bính, thay vì triều trước,nếu không phải là hoạn quan (Nội Nhân) thì không được làm chức hành khiển,chưa bao giờ dùng nho sĩ,văn học giữ các chức hành khiển.Như vậy Nho Giáo đã bắt đầu có ảnh hưởng khá rộng rãi trong bộ máy nhà nước.

Đối với anh em trong hoàng tộc,nhà vua luôn coi là thân thiết,ông xuống chiếu cho các vương hầu,tôn thất. Khi bãi triều thì vào trong điện và lan đình.Vua cùng ăn uống với họ. Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài,trải chăn rộng,kê giường liền cùng ngủ với nhau,để tỏ hết lòng yêu quí nhau. Còn như trong các lễ lớn như triều hạ,tiếp tân,yến tiệc thì phải phân biệt rõ ngôi thứ,cấp bậc cao thấp. Vì thế ,các vương hầu dưới thời Thánh Tông,không ai là không hòa thuận,kính sợ,và cũng không phạm lỗi khinh nhờn,kiêu căng.

Lãnh đạo kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần II.

Trong suốt thời gian ông làm Thái Thượng Hoàng, tức ông đã nhường ngôi cho Thái tử Trần Khâm vào ngày 1 tháng giêng năm Kỷ Mão (1279.) để làm Thái Thượng Hoàng,nhưng trong suốt thời gian làm Thái thượng Hoàng ông đã cùng vua Trần Nhân Tông lãnh đạo quân binh cả nước chống quân Nguyên Mông và đã chiến thắng cả hai lần.

Ngày 25 tháng 5 dưới triều đại Trần Nhân Tông (hiệu là Trùng Hưng). Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông qua đời tại cung điện Nhân Thọ,hưởng thọ được 60 tuổi với 21 năm làm vua và 12 năm là Thái thượng Hoàng.

  1. Trần Nhân Tông ( 1279 -1293)

*Niên hiệu: Thiệu Bảo hay là Trùng Hưng.

*Tên đầy đủ: Trần Khâm.

*Ngày năm sinh: Ngày 7 tháng 12 năm 1258.

*Năm lên ngôi: Ngày 1 tháng giêng năm Kỹ Mão (1279).

*Thời gian trị vì: 15 năm (1279-1293)

*Ngày mất: Ngày 16 tháng 12 năm 1308.

Lịch sử Đại Việt vào thế kỷ thứ XIII,dưới triều vua Trần Nhân Tông, cũng là một thể chế quân chủ tập quyền giống như trước. Vào khoảng thời gian trị vì của ngài ,giặc phương Bắc đã ba lần sang xâm lấn nước ta,lúc bấy giờ đã là giặc Nguyên-Mông, khi mà quân Nguyên đã đánh diệt cả nhà Tống,lúc bấy giờ Tả Thừa Tướng nhà Tống Lục tú Phu,cõng Tống đế nhảy xuống biển chết, Hậu cung và các quan đều chết theo rất nhiều. Qua bảy ngày có hơn 10 vạn xác chết nổi lên mặt biển.Xác Tống đế cũng nằm trong số đó. Toàn đất nước Trung Quốc đã rơi vào tay quân Mông Cổ, nên quân đội đã trở thành đạo quân Nguyên-Mông. Đạo quân nầy trở nên kiêu binh và hung ác,bọn chúng luôn luôn lăm le muốn xâm lăng nước ta,cũng như các chế độ nhà Hán, nhà Tống trước đó. Bởi bọn giặc luôn muốn xâm lăng ,nên trong suốt thời kỳ trị vì của ngài,vua Trần Nhân Tông đã ba lần phải thân chinh đi dẹp giặc, tạo một kỷ lục là vị vua ra trận nhiều nhất.Bên cạnh đó,về phần nội chính,dưới thời Trần Nhân Tông còn để lại một nền văn hóa thật kỳ vĩ, hơn hẳn các triều vua trước.

Trần nhân Tông có tên húy là Trần Khâm,là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông và bà Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu.Ông được sinh vào ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (tức 7 tháng 12 năm 1258).Và được truyền ngôi báu vào ngày 1 tháng giêng năm Kỷ Mão 1279,Lấy niên hiệu là Thiệu Bảo, sau đổi là : Trùng Hưng.

Tham gia lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược.

Trong các vị vua nhà Trần,thì Trần nhân Tông là vị vua phải trải qua hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông,cam go nhất lịch sử. Vào năm 1282,bọn giặc Nguyên- Mông xua quân sang xâm lăng nước ta. Ngài đã đích thân ra trận cùng với các tướng cầm quân để chống giặc.Vua Nhân Tông đã phải chủ trì cuộc hội nghị Bình Than ( tức hội nghị Diên Hồng) để lấy ý kiến toàn quân,toàn dân,tạo sự đoàn kết quân,dân để chống giặc.Từ đó quân Đại Việt đã chiến thắng quân Nguyên-Mông hai lần liên tiếp vào các năm 1285 và 1288.Mà trước đó đã có vài trận bị thua,

Dưới triều đại của vua Trần Nhân Tông, để chuẩn bị cho việc chống quân xâm lược,nhà Trần cho xét duyệt sổ đinh và cho chuẩn bị lương thảo nuôi quân thật chu đáo. Phong cho Hưng Đạo Vương Trần quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế,thống lĩnh quân đội toàn quốc.Ngoài ra còn có nhiều tướng sĩ giỏi như: Trần quang Khải,Phạm ngũ Lão,Trần Nhật Duật,Trần quốc Toản v…v.Trong những lần Nhân Tông ra trận như vậy,tại triều đình nhờ có Thượng Hoàng Trần Thánh Tông giúp điều hành công việc nội trị,nhờ vậy mà Vua Trần Nhân Tông yên lòng trong lúc ra trận.

Nền văn học phát triển chữ viết của người Việt dưới thời vua Trần Nhân Tông.

Nhân Tông là vị vua hòa nhã,nhưng quyết đoán,một lòng vì dân,vì nước. Trong thời gian tại vị,nền văn học nước nhà được hưng thịnh,tiêu biểu như bài hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần quốc Tuấn, thơ của Trần quang Khải,Phạm ngũ Lão.Đặc biệt là quan Hình bộ Thượng Thư Nguyễn Thuyên là người khởi đầu dùng chữ Nôm trong thơ phú. Nguyễn Thuyên người Thanh Lâm,tỉnh Hải Dương, là người có tài làm thơ như ông Hàn Dũ nước Tùy bên Trung Quốc ngày xưa. Vì vậy vua cho ông Nguyễn Thuyên đổi họ là Hàn ( Hàn Thuyên).Về sau,người Việt theo lối ấy mà làm thơ,mà gọi là thơ Hàn luật

Về mặt đối ngoại,lúc bấy giờ nhà Nguyên luôn sang hạch sách nước ta,bắt cống nạp đủ thứ,nhưng nhờ có Thượng Hoàng Thánh tông trông coi mọi việc,bên cạnh là quan lại trong triều,có rất nhiều người tài trí,mà nhà vua lại là người thông minh,quyết đoán,tạo cho cả nước một lòng từ vua đến dân, đã tạo được một sự nhất trí mà làm nên sức mạnh.

Trong nước sau thời kỳ chiến tranh,lại gặp nhiều thiên tai hạn hán,làm cho mùa màn thất bát.Năm 1290 Thượng Hoàng Thánh Tông Băng Hà, trong triều lục đục chuẩn bị việc tang lễ,,nhân dân ngoài thành lại đói to,3 thăng gạo giá một quan tiền,dân chúng nhiều người phải bán ruộng đất,kể cả việc bán con trai, lẫn con gái làm nô tỳ cho người, mỗi người giá một quan tiền.Ngay lập tức nhà vua xuống chiếu phát thóc công chẩn cấp cho dân nghèo,và miễn thuế nhân đinh.Năm sau vẫn còn tiếp tục đói tức là 2 năm bị nạn đói liên tiếp hoành hành,Nhân Tông ban chiếu cho nô dịch,nô lệ có thể mua chuộc lại ruộng đất,để tăng cường việc cải thiện lại vấn đề lương thực, nhờ vậy mà tình hình lương thực đã dần dần được ổn định lại.

Vào năm 1293 vua Nhân Tông nhường ngôi cho Hoàng Thái Tử Trần Thuyên,để làm Thái Thượng Hoàng về ở tại Thiên Trường.Hoàng Thái Tử Trần Thuyên lên nối ngôi được gọi là Trần Anh Tông.Về sau vua Trần Nhân Tông đi tu và trở thành hủy tỔ của phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. Năm 1308 Trần Nhân Tông qua đời tại Am Ngọa Vân núi Yên Tử (Huyện Đông Triều,tỉnh Quảng Ninh) thọ 51 tuổi (1258-1308).

  1. TRẦN ANH TÔNG. 1293- 1314.

*Niên Hiệu là : Trùng Hưng.

* Tên đầy đủ: Trần Thuyên.

* Ngày sinh: Ngày 26 tháng 10 năm 1276.

* Năm lên ngôi: tháng 4 năm 1293.

* Thời gian trị vì: 21 năm (1293 – 1314)

* Ngày Mất: ngày 21 tháng 4 năm 1320.

Vua Trần Anh Tông có tên húy là Trần Thuyên,con trai trưởng của vua Trần Nhân Tông và bà Khâm Từ Bảo Khánh Hoàng Thái hậu.

Năm 1293,vua Trần Nhân Tông truyền ngôi cho Trần Anh Tông. Anh Tông lúc đầu hay uống rượu, về đêm thường lén ra ngoài đi chơi,có khi bị đồ vô lại xâm phạm bằng cách ném đá trúng vào đầu.

Một hôm uống rượu say,say đến nổi Nhân Tông Thượng Hoàng ở Thiên Trường về kinh,các quan đều ra đón rước cả,mà vua vẫn nằm ngủ. Thượng Hoàng giận lắm,truyền xa giá lập tức về lại Thiên trường,đồng thời hạ chiếu cho bách quan về đấy để hội nghị. Khi Anh Tông tỉnh rượu,biết Thượng Hoàng về kinh,sợ hải quá,vội vàng chạy ra ngoài cung, gặp một người học trò tên là Đoàn Nhữ Hài,mượn thảo bài biểu để dâng lên tạ tội, rồi cùng với Nhữ Hài xuống thuyền đi suốt đêm đến phủ thiên trường dâng biểu.Thượng Hoàng xem biểu quở mắng một lúc,rồi tha lỗi cho Anh Tông.

Về đến kinh sư,Anh Tông cho Đoàn Nhữ Hài làm Ngự sử trung tân,và từ đấy không uống rượu nữa.

Cũng từ đấy sử sách về sau đều ca ngợi vua Anh Tông là người biết lắng nghe ý kiến của cha,đó là một người anh minh,biết dùng nhân tài như Đoàn Nhữ Hài,Trương Hán Siêu,Trần Nhật Duật, Phạm ngũ Lão v…v.

Vua Anh Tông là vị vua ưa thích nghề vẽ,ông có hai tập Thủy vân tùy bút,nhưng đến lúc sắp mất đem đốt đi không cho để lại. Sử có chép rằng: khi vua Anh Tông đau nặng,hoàng hậu cho đi gọi thầy tăng về để làm lễ xem sự sinh tử.Anh Tông gạt đi mà bảo rằng “ Thầy tăng đã chết đâu mà biết được sự chết” xem thế đủ biết Anh tông là một ông vua thông minh và hiếu thảo, cho nên việc triều chính lúc bây giờ có kỷ cương lắm.

Dưới thời trị vì của vua Anh Tông,triều – đình có lắm người tài giỏi gánh vác việc nước,văn như ông Trương hán Siêu,võ như Phạm ngũ Lão đều là những người có tài trí. Là một thời mà vua hiền,tôi trung,phép tắc nghiêm minh,thưởng phạt công bình.Chính trị không có điều gì hồ đồ. Việc học hành được mở mang rộng rãi,cho nên người có tài văn học đã được chọn làm quan như Mạc đỉnh Chi,Trần Trung Ngạn, đều là những người đã đem tài học của mình mà thi đỗ.Do vậy mà nhà Trần thật hưng thịnh vào thời giờ nầy.

Hưng Đạo Vương,là một danh tướng thời nhà Trần,ông giữ chức Đại tướng quân chỉ huy quân đội trên cả nước,nhưng đến đời vua Trần Anh Tông thì về hưu để nghỉ dưỡng tại Vạn Kiếp,và mất vì tuổi già vào ngày 20 tháng 8 năm Canh Tí ( 1300). Thượng tướng Trần Quang Khải cũng đã mất năm Giáp Ngọ ( 1294) trước Trần Hưng Đạo Đại Vương, tuy nhiên vẫn còn có nhiều tướng tài gánh vác công việc quốc gia,ví như Phạm ngũ Lão.Dưới triều đại vua Anh Tông,đất nước tương đối yên bình,thạnh trị,có nhiều việc xảy ra đã trở thành lịch sử: Thượng Hoàng Thánh Tông hứa gã công Chúa Huyền Trân sang Chiêm thành cho vua Chế Mân,từ sự giao hảo nầy, biên giới Đại Việt được mở rộng về phương Nam.

Tóm lại,cũng như vua cha,vua Anh Tông là một phật tử mộ đạo,có nhiều đóng góp cho sự phát triển trường phái Trúc Lâm Yên Tử. Các vua nhà Trần trước đó đều hành giả Thiền Tông,nhưng đến đời Anh Tông thì Mật tông đã du nhập nhiều vào giới Phật Tử Đại Việt, kể cả nhà vua.

Năm 1318,nhà vua lại thỉnh cầu Ban Đế Ô Sa Thầy lợi,một văn bản Phật Giáo Mật Tông.Vua Trần Anh Tông cũng là một thi sĩ,thích làm thơ,ông có cả hai tập là hai tác phẩm “Thủy Vân Tùy Bút” có nhiều bài thơ và nhiều bức họa,nhưng trước khi ông mất ông đã cho đốt,chỉ còn lại 12 bài chép trong “Việt âm thi tập”.

Trong thời gian trị vì của vua Anh Tông,đất nước Đại Việt được hưng thịnh, Nhà vua đã có công đánh bại các cuộc xâm chiếm lãnh thổ về phía tây của giặc Ai Lao,thường hay quấy phá vùng Thanh Hóa,Nghệ An, mà nhà vua đã cắt cử tướng Phạm Ngũ Lão đánh dẹp nhiều lần ,vùng nầy mới được yên.Về phía tây thì có giặc Ai Lao,về phía Nam thì Chiêm Thành với Đại Việt đang có sự giao hảo tốt,duy chỉ về phía Bắc giặc Nguyên Mông hùng mạnh,luôn muốn xăm lăng nước ta,nhưng họ đã bị thấm đòn vì bị thua quân tướng của Đại Việt liên tiếp nhiều trận,do vậy mà phương Bắc cũng được tương đối tạm yên.

Trần Anh Tông là vị vua đã bãi bỏ nhiều tục lệ cũ như việc lấy chàm vẽ hình rồng vào đùi.Vua còn cho bỏ tục hôn nhân nội tộc đó là luật của nhà Trần đã tồn tại qua nhiều dời vua trước. Dưới thời Trần Anh Tông, đã tổ chức đám cưới cho gã công chúa Huyền Trân ( là Cô của nhà vua) sang Champa, cho vua Chế Mân,đổi lại Chế Mân lại dâng hai châu Ô và Lí (Rí),về sau vua Trần đặt tên là Thuận Châu và Hóa Châu.

Năm 1314 Trần Anh Tông nhường ngôi cho Thái Tử Trần Mạnh,kết thúc thời gian trị vì 21 năm,làm Thái thượng Hoàng 8 năm và mất năm 1320, hưởng thọ được 44 tuổi.Nhà vua được an táng tại Thái Lăng,Yên Sinh.

V.) Vua T R Ầ N M I N H T Ô N G ( 1314 – 1329 )

* Niên hiệu: Trùng Hưng .

* Tên đầy đủ: Trần Mạnh.

* Ngày sinh: ngày 4 tháng 10 năm 1300.

* Năm lên ngôi: 3 tháng 4 năm 1314.

* Thời gian trị vì: 15 năm ( 1314 – 1329).

* Ngày Mất: ngày 10 tháng 3 năm 1357.

Dưới thời vua Minh Tông Đại Việt có nhiều tướng tài như: Phạm ngũ Lão, Trương hán Siêu Nguyễn văn An, Nguyễn Trung Ngạn, Đoàn nhữ Hài v…v.

Trần Minh Tông là vị vua đời thứ năm của nhà Trần.Ông có tên húy là Trần Mạnh, là con thứ tư của Trần Anh Tông và Chiêu Hiền Hoàng Hậu Trần Thị,Sinh vào năm Canh Tý 1300, lên ngôi lúc được 14 tuổi.Cũng như vua cha,vua Minh Tông cũng là người nhân hậu.có tấm lòng yêu nước và thương dân.

Trần Minh Tông những thành tựu và sự nghiệp.

Dưới thời vua Trần Minh Tông đất nước tương đối yên bình.Nhà vua rất quan tâm về nông nghiệp nhất là chăm lo việc đê điều giúp dân.Năm 1315,nước sông dâng cao,nhà vua thân chinh đi thị sát và thân chinh kiểm tra việc đắp đê chống lụt.Cũng trong năm Ất Mão 1315 nhà vua ra lệnh cấm người trong họ không được thưa kiện nhau. Nhà vua xuống chiếu: Nếu ai tranh nhau về ruộng đất,khám xét ra không phải là của mình,mà lại cố tranh bậy,thì tính giá tiền về số ruộng bắt phải bồi thường lên gấp đôi.Nếu làm văn khế giả mạo thì bị chặt một ngón tay bên trái. Năm Bính Thìn (1316) nhà vua duyệt định cấp bậc cho quan văn võ,rồi cấp cho số hộ khẩu nhiều ít khác nhau.Các Năm Giáp Dần (1314) Quý Hợi (1323) triều đình mở các khoa thi Thái học sinh để chọn nhân tài cho đất nước,nhờ vậy quan lại nhiều người có năng lực, có học vấn cao.

Trần minh Tông là ông vua nhân từ,nhưng đã phạm một lỗi lầm rất lớn là nghe lời nịnh thần mà giết oan Huệ võ vương Trần Quốc Chân,là người có nhiều công với đất nước.Ông đã đi đánh và thắng Chiêm Thành mấy lần. Trần Quốc Chân là thân sinh của Hiển Hoàng Tiên Thánh Hoàng Hậu,chỉ vì Hoàng Hậu chưa sinh được Hoàng tử, lúc mà Trần Minh Tông đã ở ngai vàng được 15 năm. Triều đình phân vân, dẫn đến việc chia ra làm hai phe phái,một nhóm có Văn hiếu Hầu và Trần khắc Chung đề nghị lập Hoàng tử Vượng con bà thứ, làm thái tử. Một nhóm có Trần Quốc Chân thì đề nghị chờ cho Hoàng Hậu sinh con trai rồi sẽ lập thái tử. Văn hiếu Hầu đem đuốc lót cho gia thần của Trần Quốc Chân tên Trần Nhạc một trăm lạng vàng, xúi vu cáo cho Trần Quốc Chân mưu phản.Minh Tông bắt Trần Quốc Chân đem giam ở chùa Từ Phúc.

Trần khắc Chung xin vua trừ Trần Quốc Chân đi,lấy lẽ rằng bắt hổ thì dễ,thả hổ thì khó,. Minh Tông nghe lời ấy,cấm không cho Quốc Chân ăn uống gì cả.đến nổi khát nước quá,Hoàng hậu phải lấy áo nhúng xuống nước,rồi mặc vào để vắt ra cho uống. Trần Quốc Chân uống xong thì chết. Sau có người vợ lẽ của tên Trần Nhạc ghen tuông với vợ cả,đi tố cáo ra Trần Nhạc lấy vàng mà vu cáo cho Trần Quốc Chân.Lúc bấy giờ mới rõ cái tình oan,Minh Tông đã lầm mà đã giết chết một trung thần.

Năm 1329,nhà vua nhường ngôi cho thái tử Trần Vượng (tức là Trần Hiếu Tông và lui về làm Thái Thượng Hoàng.Tuy nhiên việc triều chính ông vẫn chăm lo.Trần Hiếu Tông bị bệnh chết sớm,em trai là Trần Hạo nối ngôi tức là Trần Dụ Tông,Thượng Hoàng Minh Tông vẫn cùng con lo việc nước.,cả việc đi đánh trận dẹp giặc.

Trần Minh Tông mất ngày 19 tháng 5 năm Đinh Dậu (1357) thọ 58 tuổi.Ngoài việc bị nghe lời gièm pha mà giết Trần Quốc Chân,là một trung thần,và là nhạc phụ của vua ra.Trần Minh Tông là vị vua tiếp nối và làm rạng rỡ cơ nghiệp cho dòng họ nhà Trần,giữ cho đất nước được yên bình, giặc giả bên ngoài đều được thu phục.

VI ) Vua T R Ầ N H I Ế N T Ô N G. (1329 – 1341).

*Niên hiệu là: Trùng Hưng

* Tên đầy đủ: Trần Vượng.

* Ngày sinh: sinh ngày 17 tháng 5 năm 1319.

* Năm lên ngôi: ngày 3 tháng 4 năm 1329.

* Thời gian trị vì: 13 năm ( 1329 – 1241.)

* Ngày mất : ngày 11 tháng 6 năm 1341.

Hiến Tông là vị vua thứ VI của triều đại nhà Trần. Ông sinh ngày 17 tháng 5 năm 1319,tức 11 tháng 6 năm 1341. Vua Hiến Tông chỉ trị vì được 13 năm ( 1329 – 1341).

Vua Hiến Tông Hoàng Đế có tên húy là Trần Vượng,là con trưởng của vua Minh Tông Duệ Hiếu Hoàng đế,và mẹ là Minh Từ quí phí Lê Thị. Tuy là con đầu lòng của Minh Tông,nhưng do mẹ là phi tần,nên xét về thứ bậc chính danh ,ông vẫn bị coi là con thứ, Ngày 7 tháng 2 năm 1329, Hoàng Dế Trần Minh Tông xuống chiếu phong Trần Vượng làm Hoàng Thái tử.Ông lên ngôi tự xưng là Triết Hoàng,đặt niên hiệu là Khai Hựu. Ông được cho là vị vua bù nhìn,do vì lên ngôi tuổi còn nhỏ, quyền hành thực tế ở cả trong tay Thượng Hoàng.Cho nên có trị vì 13 năm nhưng Trần Hiến Tông không được tự chủ trong tất cả mọi công việc.

Thành tựu trong sự nghiệp của Trần Hiến Tông.

Trong suốt thời gian mà Hiến Tông ngồi trên ngai Vàng, nhà Trần không tổ chức được một khoa thi nào để chọn nhân tài. Năm Đinh Sửu ( !337) có xuống chiếu cho các quan trong triều cũng như ngoài các lộ,hàng năm xét những thuộc viên do mình quản lý, người nào siêng năng thì giữ lại,người nào không làm được việc thì truất bỏ.

Về mặt an ninh, dưới triều Trần Hiến Tông, biên giới phía Bắc và phía Nam tương đối ổn định.nhà Nguyên có hai lần cử sứ giả sang Đại Việt vào các năm Tân Mùi (1331) Ất Hợi (1335) để thông báo Hoàng Đế mới của nhà Nguyên lên ngôi,nhà Trần đã cho người sang chúc mừng.

Giặc Ngưu Hống, Lúc Thượng Hoàng Minh Tông mới vừa nhường ngôi,thì ở mạng Đà Giang có Mường Ngưu Hống làm loạm. Thượng Hoàng phải thân chinh đi đánh dẹp, Người Ngưu Hống ở trại Chiêm Chiêu đưa thư dến giả hàng. Nhưng khi đạo quân Đại Việt ở Thanh Hóa vừa đi đến nơi, thì bị người ở trại ấy đổ ra đánh,bất thần nên quân ta bị thua chạy, Thượng Hoàng đã đem đại binh tiến lên, thanh thế lừng lẫy, quân Ngưu Hống phải bỏ chạy vào rừng. Quân giặc tuy thua nhưng không trừ hết được, mãi đến năm 1337 tướng nhà Trần Là Hưng Hiếu Vương,chém được thủ lãnh của bọn Ngưu Hống ờ trại Trịnh Kỳ thì bọn giặc nầy mới yên.

Xã hội dưới triều đại vua Hiến Tông,chỉ trong vòng 6 năm từ 1333 đến 1338,đất nước có nhiều thiên tai xảy ra như lụt lội, gió bảo,động đất.Vì vậy vua Hiến Tông phải ra lệnh cho các nơi lập kho lương chứa thóc lúa thu thuế được, để kịp thời cấp cho dân lúc bị đói.

Về văn hóa, một số ngành khoa học như Thiên văn,lịch pháp,y học,các ngành nầy vào thời gian nầy cũng có các thành tựu đáng kể. Dưới triều Trần Hiến Tông có Hậu Nghi Đài Lang,Thứ sử cục lệnh là Đặng Lộ người huyện Sơn Minh ( Ứng Hòa.Hà Nội) đã chế ra một dụng cụ xét nghiệm không việc gì là không đúng.

Năm Khai hựu thứ 13 (1341) ngày 11 tháng 6 ông qua đời,thọ 22 tuổi. Miếu Hiệu là Thái Tông, Thủy hiệu là Thể Nguyên Ngự Cực Duệ Thánh Chi Hiếu Hoàng Đế, Lăng của ông là An Lăng.

Sau khi ông qua đời,Thượng Hoàng Minh Tông chọn người con thứ hai của Hiếu từ Hoàng Hậu,Trần Hạo làm người kế vị mà sử gọi là Trần Dụ Tông.

VII ) Vua T R Ầ N D Ụ T Ô N G. (1341 – 1369.)

  • Niên Hiệu : Thiệu Phong (1341-1357) và ( Đại Trị (1358 – 1369).

  • Tên đầy đủ : Trần Mạnh,hay Trần Hạo.

  • Ngày sinh: ngày 19 tháng 10 năm 1336.

  • Năm lên ngôi : Ngày 3 tháng 4 năm 1314.

  • Thời gian trị vì : 28 năm (1341 -1369).

* Ngày mất: Ngày 25 tháng 5 năm 1369.

Trần dụ Tông, là thời kỳ nhà Trần bắt đầu suy vi.

Trần dụ Tông tuy được đánh giá là một người rất thông minh,sách vở đều thông hiểu ,kiến thức khá rộng rãi, nhưng từ khi Thượng Hoàng Minh Tông băng hà,vua Dụ Tông trở nên bê bối,bỏ bê chính sự,ham mê tửu sắc. Tại nội đình nhà vua ra lệnh cho xây cung điện,tạo nên sưu cao, thuế nặng,làm cho nhân dân vô cùng khổ sở,bởi vậy mà trong nhân gian không ngớt lời ta thán. Cũng bởi vậy trong nước giặc giả nổi lên khắp nơi. Trong khi đó tại triều đình bọn gian thần kết bè kết phái và trở nên lộng hành.

Trong tình thế như vậy,cựu thần Chu văn An là một vị quan thanh liêm đã trải qua các triều vua trước,dâng sớ lên vua đề nghị trảm thủ bảy tên quan tham nhũng,ô lại. Nhưng vua Trần Dụ Tông không nghe,do đó ông từ quan để về nhà dạy học.

Dụ Tông ham mê việc chơi bời,mê đàn hát,thường sai các vương hầu,các công chúa bày tiệc đóng trò hát tuồng để mua vui, ai diễn hay sẽ được thưởng. Phép tắc đời nhà Trần tuy rất nghiêm khắc với tội đánh bạc, nhưng trần Dụ Tông lại mê chơi trò nầy.Nhà vua thường chiêu tập các nhà giàu vào cung để đánh bạc cùng nhà vua. Có người sàm tấu rằng: Thái Úy Cung Tĩnh Đại Vương Trần Nguyên Trác đã yểm bùa hại nhà vua.Nhà vua dự định sát hại Nguyên Trác,nhưng nhờ bà Hiếu từ Hoàng thái hậu kịp thời can ngăn,nên nhà vua không bị phạm phải vào tội sát nhân nầy.

Dụ Tông sai xây cất nhiều cung điện, đào hồ ở vườn hậu cung,mặt trong hồ xây đá núi,mặt hồ trồng nhiều cây cỏ lạ,và nuôi các loại chim, cá lạ, quý hiếm. Trên bề mặt hồ nhà vua cho xây các hồ con,lệnh cho dân chúng ra biển chở nước mặn về đổ vào,để nuôi các loại cá biển và đồi mồi mà làm cảnh.

Nhà vua ham thích việc chơi bời,các quý tộc lại hưởng ứng theo,khiến triều đình nát bấy.Ngoài dân chúng lại bị hạn hán mất mùa nhiều năm gây ra nạn đói kém,khổ sở,nhà vua chỉ dùng biện pháp tạm thời trong việc cứu giúp dân chúng,bằng cách kêu gọi các nhà hào phú bỏ thóc lúa chu cấp cho người dân và thưởng công họ bằng cách ban chức sắc.Tuy vậy công việc cứu trợ chỉ nửa vời, nên bị dân chúng oán thán.nhà vua vì ham chơi bời không lo việc đê điều,thủy lợi giúp dân phát triển nông nghiệp lâu dài,vì vậy mà đất nước vấp phải tình trạng suy vi, là thời kỳ tạo cho triều đại nhà Trần bắt đầu suy yếu. Có lẽ cũng là nguyên tắc, là định luật chung của tất cả các triều đại quân chủ của các nước trên khắp thế giới nói chung,Đại Việt nói riêng cũng đều phải dẫm lên vết xe đổ ấy mà không thoát ra được.

Bởi từ tài năng cùng nhân cách của nhà vua như vậy,nên việc triều chính không mạnh,không phát huy được thế lực do vậy việc ban giao với các nước lâng bang không được nể phục.

Việc giao tiếp với nước Tàu,lúc nầy thanh thế nhà Nguyên bị suy yếu,nhờ vậy mà biên giới phía Bắc tương đối được yên tỉnh, Nội tình nước Tàu lúc nầy,Chu nguyên Chương dấy binh từ đất Từ Châu ( An Huy) chiếm giữ được thành kinh lăng,và trong 15 năm kháng chiến như vậy,đã dứt được nhà Nguyên,dẹp yên thiên hạ mà dựng nên cơ nghiệp nhà Minh. Năm Mậu Thân (1368) Minh Thái Tổ sai sứ đưa thư sang chiêu dụ nước ta,Vua Dụ Tông sai quan Lễ Bộ Thị Lang Đào văn Đích sang cống.

Lúc bấy giờ nước ta tuy đã suy nhược ,nhưng nước Tàu, nhà Minh chưa định xong thiên hạ, còn phải sửa sang việc triều chính nên chưa dòm ngó, do vậy mà biên giới phía Bắc chưa xảy ra việc gì quan trọng cho lắm.

Tuy nhiên, về mặt Nam với Chiêm Thành: Từ khi vua Chiêm Thành là Chế A Nan chết, con là Chế Mộ và con rể là Bồ Đề tranh nhau làm vua. Người champa lại bỏ Chế Mộ mà theo Bồ Đề, năm Nhâm Thìn (1352) Chế Mộ lại chạy qua cầu cứu Đại Việt.

Năm Quí Tỵ,Dụ Tông cho quân đưa Chế Mộ về nước, nhưng vừa đến Cổ Lũy ( Quảng Ngải) bị quân Chiêm đánh,quân Dụ Tông thua phải chạy trở về. Chế Mộ cũng buồn rầu,chẳng bao lâu sau đó cũng chết. Nhà vua sai Trần thế Hưng,Đỗ tử Bình đi đánh Chiêm Thành,nhưng quân Đại Việt mới đến Chiêm Động ( Quảng Nam) liền bị quân Chiêm phục đánh bắt Trần thế Hưng,Đỗ tử Bình phải dẫn quân chạy về.Người Chiêm thấy thế nước Nam suy nhược,có ý khinh,nên vào năm 1368,vua nước Chiêm cho sứ sang đòi đất Hóa Châu,việc đòi đất nầy sử chỉ ghi lại một cách sơ sài mà thôi. Sau nầy quân Chiêm Thành lại có Chế Bồng Nga là một anh Hùng, nên đã có nhiều lần xua quân đánh đến tận Thăng Long , làm cho triều Đình nhà Trần phải kinh sợ.Bởi thế yếu nên bị người hàng xóm ăn hiếp là vậy.

( Ghi chú: Khi quân nhà Trần đánh với quân nhà Nguyên,có bắt được một tên hát bội là Lý Nguyên Cát,sau đó ông ta ở lại nước ta,lấy cổ truyện mà đặt thành bài tuồng,rồi dạy người mình hát. Khi con hát ra làm trò thì mặc áo gấm,áo vóc,theo nhịp đàn, nhịp trống mà hát,Sự hát tuồng của Việt Nam bắt đầu từ đấy. Sau nầy trong ngành hát tuồng,hay gọi là hát bội,có thể nghệ nhân Việt tôn xưng ông là “ Đệ Nhất Tổ Sư,tiếp theo Đệ nhị tổ sư là Ông Đào duy Từ,”và Đệ Tam tổ sư là Bà Phúng Há) ghi lại cho biết tổ của ngành hát bội có ba người là tổ sư và ngành hát bội đã xâm nhập vào nước ta dưới thời nhà Trần.

VIII) T R Ầ N N G H Ệ T Ô N G 1370 - 1372**.**

Năm 1369,Trần dụ Tông băng hà, hưởng thọ 34 tuổi,trị vì được 28 năm.Không có con.

Triều đình định lập Cung Định Vương là anh của Dụ Tông lên làm vua,nhưng mà bà Hoàng Thái Hậu nhất định lập người con nuôi của Cung Túc Vương là Dương Nhật Lễ lên ngôi vua.

Triều đại nầy được mệnh danh là loạn Nhật Lễ.

Trần Nhật Lễ, là con của Cung Tỉnh Vương Trần nguyên Dục được bà Hoàng Thái Hậu chọn đưa lên kế thừa đại thống,nguyên mẹ của Nhật Lễ vốn là cô đào hát,vợ của kép hát Dương Khương. Bà múa vở tuồng Vương Mẫu hiến bàn đào,thân người rất đẹp làm Nguyên Dục si mê,buộc bà phải bỏ Dương Khương mà về làm vợ mình, lúc đó bà đã mang thai với Dương Khương rồi sinh ra Nhật Lễ. Nguyên Dục tự nhận làm con mình,đến năm Dụ Tông bịnh nặng, truyền ngôi cho Nhật Lễ kế thừa. Thật ra triều thần không muốn thế mà muốn lập Cung Định Vương Trần Phú lên thay, nhưng Hiến từ Hoàng Thái Hậu lại nghĩ đó là cháu mình,khăng khăng lập Nhật Lễ lên ngôi vua,lúc đó quần thần đều phải nghe theo. Nhật Lễ lên ngôi tôn Thái Hậu lên Thái Hoàng Thái Hậu, Trần Nguyên Trác làm Thượng Tướng quốc thái tể. Sau nầy Thái Hoàng thái Hậu biết chuyện của Nhật Lễ nên hết sức thất vọng,muốn phế truất Lễ,khi mà Nhật Lễ muốn đổi họ Trần ra họ Dương để dứt ngôi nhà Trần.Nhưng mà quá muộn,Nhật Lễ đã biệt chuyện bà Hoàng Thái hậu muốn phế truất mình nên ra tay trước giết chết bà Hoàng Thái Hậu và Cung Định Vương.

Nhật lễ ở ngôi bỏ bê chính sự,hằng ngày rong chơi,ham tửu sắc cùng các trò hát xướng,việc nầy làm bất bình trong giới hoàng tộc nhà Trần,trong đó có Thái Tể Trần nguyên Trác,ông ngầm mưu bắt Lễ trong cung,cùng con trai là Trần Nguyên Tiết với hai cháu trai là con của Thiên ninh Công Chúa xâm nhập vào cung,nhưng kế hoạch bị thất bại, nên Nguyên Trác cùng đồng đảng cũng đều bi Nhật Lễ giết chết.

Lúc bấy giờ Cung Tỉnh Vương phủ ở nơi kinh sư cũng sợ bị hại,vả lại tính khí cũng nhu nhược, không có ý tranh cạnh,mới bỏ lên mạn Đà Giang.Các quan tôn thất nhà Trần mới hội nhau về bắt Nhật Lễ mà giết đi,lên rước Cung Tỉnh Vương về làm vua tức là Nghệ Tông.

Khi triều thần nhà Trần giết được Nhật Lễ rồi đưa Cung Tỉnh Vương lên ngôi tức Nghệ Tông. Khi Nhật Lễ đã bị giết, mẹ của Nhật Lễ bỏ chạy sang Champa,xin vua nước nầy là Chế Bồng Nga đem quân sang đánh Đại Việt. Quân Chiêm vượt bể vào cửa Đai An,kéo lên đánh Thăng Long. Quan quân nhà Trần đánh không nổi,Nghệ Tông phải lánh mình chạy sang Đông Ngạn (ở Cổ Pháp làng Đình Bảng) Quân Chiêm vào thành bắt đàn bà con gái, lấy hết các đồ báu vật,ngọc nhà,rồi rút quân về,

Nghệ Tông là ông vua nhu nhược,việc gì cũng để cho người ngoại thích Lê quí Ly quyết đoán cả.

Quý Ly là dòng dõi người Chiết Giang bên Tàu.Tổ là Hồ Hưng Dật,từ đời NGũ Quí sang ở nước ta ở làng Bào Đột,huyện Quỳnh Lưu.Sau ông tổ tứ dại là Hồ Liêm dời ra ở Thanh Hóa, làm con nuôi nhà Lê Huấn,cho nên mới đổi họ là LÊ.

Lê quý Ly có hai người cô lấy vua Minh Tông,một người sinh ra vua Nghệ Tông,một người sinh ra vua Duệ Tông,vì thế cho nên Nghệ Tông càng tin dùng lắm, phong cho làm khu mật đại sứ,lại gia tước Trung Tuyên Hầu.

Năm Nhâm Tý (1372) Nghệ Tông truyền ngôi cho em là Kính,rồi trở về phủ Thiên Trường làm Thái Thượng Hoàng. Nghệ Hoàng giữ ngai được hai năm,lên làm Thái Thượng Hoàng và nhường ngôi cho em là Trần Kính lên Thay tức Trần Duệ Tông.

IX ) T R Ầ N D U Ệ T Ô N G ( 1372 -1377)

Khi Trần Kính lên ngôi tức là Trần Duệ Tông. Lập Lê Thị làm Hoàng Hậu ( Lê Thị là em họ Lê quý Ly).

Duệ Tông có tính quyết đoán hơn Nghệ Tông,nhưng mà quyền bính vẫn ở trong ta Thượng Hoàng cả.

Duệ Tông có tên thật là Trần Kính,con thứ mười một của vua Trần Minh Tông.Ông lên ngôi năm 37 tuổi,trở thành vị vua đời thú 9 của nhà Trần.

Trong nước năm Giáp dần (1374),mở khoa thi Tiến sĩ (trước đó là Thái học sinh giờ đổi là Thi Tiến sĩ). Dù chỉ ở ngôi 5 năm,nhưng Duệ Tông đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc về tài năng.thứ nhất là trong sạch, thanh liêm trong đội ngũ quan lại. Và nhất là một vị vua quả cảm.,ý thức việc tự lập tự cường và nhất là thuần phong mỹ tục của dân tộc Đại Việt.

Khi lên ngôi vua Duệ Tông chủ trương chọn người tài phục vụ quốc gia, không coi việc đề cao ý thức tôn thất.Những nho sĩ như Trạng Nguyên Đào sư Tích,Bảng nhãn Lê Hiếu Phủ, Thám Hoa Trần đình Thám v…v đều xuất thân từ bình dân vẫn được nhà vua coi trọng.

Về ngoại giao, lúc bấy giờ Chiêm Thành cứ sang quấy nhiễu mãi,vua Duệ Tông quyết thân chinh ra trận đánh giặc để báo thù, nhà vua bèn hạ chiếu cho luyện tập quân lính,làm chiến thuyền,đồng thời tích trữ lương thảo để phòng việc chinh chiến. Năm 1376 (Bính Thìn) quân Chiêm Thành sang quấy nhiễu ở Hóa Châu, Duệ Tông dự định đích thân, thân chinh đi đánh,quần thần can ngăn không được,nhà Vua đem 12 vạn quân đi đánh Chiêm Thành. Nhà vua sai quân dân Thanh Hóa, Nghệ an tải 5 vạn thạch lương vào Hóa Châu.,đồng thời rước Thượng Hoàng lên duyệt binh ớ Bạch Hạt.

Năm nầy Chế Bồng Nga đem sang cống 15 mâm vàng,quan trấn Hoan Châu là Đỗ tử Bình lấy đi,rồi dâng sớ về dối rằng Chế Bồng Nga vô lễ,ngạo mạn.hối thúc nhà vua cử binh đi đánh.sai Quí Ly đốc vận lương đến cửa bể Di Luân ( nay thuộc huyện Bình Chính,Quảng Bình) Nhà vua đưa 12 vạn quân cả thủy bộ cùng tiến,đi dến cửa bề Nhật Lệ (thuộc làng Đồng Hới,huyện Phong Lộc,Quảng Bình) cho đóng quân lại một tháng để luyện tập sĩ tốt.9

Năm 1377 mới tiến quân vào cửa Thị Nại. ( tức cửa Qui Nhơn) đánh lấy dồn Thạch Kiều và động Kỳ Mang,rồi kéo quân đến thành Đồ Bàn,kinh đô Chiêm Thành.

Chế Bồng Nga cho lập đồn ở ngoài thành,rồi cho người sang dã hàng nói rằng,Chế Bồng Nga đã bỏ thành chạy trốn rồi, xin cứ tiến binh sang lấy ngay, Duệ Tông tin là thật nên cho tiến quân vào thành.Tướng là Đỗ Lễ can ngăn nhưng không được. Quả nhiên quân tiến vào gần tới thành quân Chiêm đổ ra đánh, quan quân ta thua to; Duệ Tông bị chết trận,quân lính mười phần chết hết 7,8.

Lúc bấy giờ Đỗ tử Bình lãnh quân hậu nhưng không đến cứu,Quí Ly cũng bỏ chạy về cung.

Sau cái chết của Duệ Tông,,những người kế vị tiếp theo đều tỏ ra nhu nhược,triều đình ngày càng hổn loạn,Thượng Hoàng Nghệ Tông hoàn toàn dựa vào ông, nay phải dựa vào Lê quý Ly,một kẻ quyền thần ngoại thích nắm quyền thao túng triều chính,và sau đó thì làm sụp đổ nhà Trần.

Cái chết của Duệ Tông lại là một bước ngoặt lớn đối với lịch sử nhà Trần,và cũng là tiến trình của cả lịch sử dân tộc Đại Việt.

Vua Duệ Tông trị vì chỉ được 5 năm,thọ 41 tuổi (1337 – 1377) duy nhất là vị vua bị chết trận.

X) T R Ầ N P H Ế Đ Ế. ( 1377 – 1388).

Trần phế đế có tên là Trần Hiển. Khi vua Duệ Tông chết trận rồi. Thượng Hoàng bèn lập con trưởng của Duệ Tông tên Hiển (tức Trần Hiển) lên nối ngôi, sau bị giáng xuống giữ chức Minh Đức Đại Vương ,nên sử gọi là Trần Phế Đế, đã vậy , sau đó cũng lại bị gièm pha buộc phải thắt cổ mà chết. Nhhững quan tướng cùng phe với Phế Đế ( Đế Hiển) đều bị Lê quý Ly hại cả.

Vua Trần Phế Đế là Trần Hiển là con trai trưởng của vua Duệ Tông, sinh ngày 6 tháng 3 năm 1361. lên ngôi Đế lúc 16 tuổi,là vị vua thứ 10 của nhà Trần. Vào thời kỳ trị vì của vua Trần Phế Đế là giai đoạn lịch sử rối ren nhất của Đại Việt, đất nước gặp nhiều biến động nhất đưa nhà Trần vào con đường suy vi.

Trần Hiển là con trai trưởng của Duệ Tông và Gia Từ Hoàng hậu Lê Thị,sinh ngày 6 tháng 3 năm Tân Sửu (1361) Lên ngôi vua khi vua cha tử trận tại chiến trường phương Nam khi đánh với quân Chiêm Thành của Chế Bồng Nga.

Trong suốt thời gian từ (1378; 1380 – 1382) Chiêm Thành thấy Đại Việt suy yếu,nên đem quân sang cướp phá liên tục.Nhà vua sai Lê quý Ly lĩnh thủy binh,Đỗ tử Bình lãnh bộ binh vào trấn giữ Ngu Giang,huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa) . Lê quý Ly đánh đuổi được quân Chiêm tại mặt trận nầy rồi kéo quân về. Đến năm 1382 thì quân Chiêm lại quấy phá mặt Thanh Hóa. Lê quý Ly cùng với quân của Nguyễn Đa Phương trấn giữ ở bến Thần Đầu (Ninh Bình) tại đây Nguyễn Đa Phương đã đánh đuổi được giặc Chiêm và đuổi chúng chạy đến Nghệ An mới thôi.

Từ khi đánh được trận Ngu Giang,trận Thầu Đầu,thế quân Đại Việt lại khá lên,tinh thần hơi nổi hơn được một chút. Đến năm 1383,Thượng Hoàng sai Quý Ly đem Thủy quân tiến vào đánh Chiêm Thành. Chiến thuyền của quân Quý Ly mới vào đến Lại Bộ Nương loan,thì bị bảo đánh nát mất rất nhiều thuyền,do vậy mà phải rút về.. Thời gian sau đó thì Chế Bồng Nga đem quân vào quấy nhiễu nước Đại Việt thường xuyên hơn,và việc đi lại quá dễ dàng,cho nên quân Chế Bồng Nga đã vào phá kinh thành 3 lần. Thượng Hoàng và Đế Hiển phải bò thành mà chạy.Thế mà đến khi giặc rút đi rồi,cũng không sửa sang gì để đề phòng cho lần sau,thời đại nầy đúng là một thời đại tồi tệ,làm nhục cái tiếng là con cháu nhà Trần,con cháu của Trần Hưng Đạo.

Không những mỗi phương Nam phải lo chống giặc Chiêm Thành,phương Bắc bây giờ nhà Minh đã được ổn định,cũng muốn lăm le dòm ngó Đại Việt,thường cho sứ sang sách cái nầy,đòi cái kia.Năm Giáp Tí ( 1384) Minh Thái Tổ cho sứ sang bắt Đại Việt phải cấp 5.000 thạch lương cho quân nhà Minh đóng ở Vân Nam.Năm sau (1385) lại sai sứ sang đem 20 tăng nhân An Nam về Kim Lăng,rồi lại đòi phải cống cây quí,phải nộp lương thảo,tất cả việc đó đều cốt là để dòm ngó tình thế nước ta như thế nào mà thôi.

Thượng hoàng Nghệ Tông tuy giữ quyền chính trị,nhưng quyền hành bây giờ nằm hẳn trong tay Lê Quý Ly. Triều thần phần lớn là xu nịnh,chỉ lo lấy thân, không một ai nghĩ đến việc nước an nguy thế nào.Những người là tôn thất như Trần Nguyên Đán,thấy quốc chính rã rời xin về trí sĩ. Một hôm Thượng hoàng đến thăm bàn đến việc hậu sự Nguyên Đán thưa rằng :“ Xin Bệ hạ cứ thờ nhà Minh như Cha, yêu nước Chiêm Thành như con,thì quốc gia sẽ không việc gì, mà lão thần chết cũng không hẩm”.Ấy là bàn những chuyện làm tôi tớ,chứ không có chí muốn cho nước mình cường thịnh.Nguyên Đán biết rằng sau nầy Quý Ly sẽ cướp ngôi nhà Trần,bèn kết làm thông gia,về sau khi Quý Ly thật sự cướp ngôi, con cháu nhà Trần đều chết cả,duy chỉ còn mỗi nhà Nguyên Đán là còn sống.

Nghệ Tông thì ú ớ, lú lẩn cứ mù mịt không biết ai trung,ai nịnh.,cứ tưởng Lê quý Ly là người hết lòng với nhà vua,nên lại ban Gươm và cờ có đề chữ: “Văn võ toàn tài,quân thần đồng đức” Quý Ly làm thơ nôm dâng tạ.

Đế Hiển thấy Thượng Hoàng yêu dùng Quý Ly như vậy,nếu không trừ đi thì sau nầy sẽ thành vạ lớn,nên âm thần bàn với các quan,tìm cách mà trừ Quý Ly.Nhưng rồi việc bị lộ Quý Ly biết mưu ấy,đến kêu van với Thượng Hoàng mà nói rằng “ *Cổ lai chỉ bỏ cháu nuôi con, chứ chưa thấy bỏ con nuôi cháu bao giờ”.*Thượng Hoàng nghe lời xuống chiếu trách Đế Hiển còn tính trẻ con,mà lại có ý hại trung thần làm nguy xã tắc,nên giáng xuống làm Minh Đức Đại Vương,rồi lập con là Chiêu Định Vương út con của Nghệ Tông lên ngôi.

Khi tờ chiếu ấy công bố ra ngoài, có một số tướng muốn đưa quân vào điện để cứu Đế Hiển ra,nhưng vua lại viết hai chữ “Giải giáp” và không cho trái mệnh Thượng Hoàng..Sau Đế Hiển bị bắt thắt cổ mà chết,các tướng đều bị Quý Ly giết chết cả.

Tóm lại dưới triều đại trị vì của vua Phế Đế,Phế Đế đã không làm được một việc gì cho nước, vì nhà vua đầu óc mụ mẫm,tất cả quyền bính đều rơi vào một tay Lê Quý Ly cả,Trong nước thì dân tình đói khổ,bên ngoài tứ phía thì đều có giặc ngoại xâm.Vì mụ mẫm nên nhà vua phải bị cái chết thảm khốc.

XI) T R Ầ N T H U Ậ N T Ô N G. (1388 – 1398)

Nhà vua có tên húy là Trần Ngung là con trai út của Trần nghệ Tông,mà là đời vua thứ 11 của nhà Trần. Trần Thuận Tông ở ngôi vua được 10 năm.Tuy ở ngôi vua và kể cả Thượng Hoàng Nghệ Tông cũng vậy, quyền bính lúc nầy đã hoàn toàn nằm trong tay Lê quý Ly. Trong nước bấy giờ dân tình đói khổ,nên rất nhiều nơi nổi lên làm loạn,ở Thanh Hóa có tên Nguyễn Thanh tự xưng là Linh Đức Vương nổi lên làm loạn ở vùng Lương Giang. Nguyễn Kị tự xưng là Lỗ Vương làm loạn ở Nông Cống. Ở Quốc Oai có nhà sư là Phạm Sư Ôn,cũng nổi lên đem quân về đánh kinh sư,Thượng Hoàng và triều đình phải bỏ chạy, do vậy mà Sư Ôn chiếm được kinh thành,đóng quân ở đó 3 ngày thì bị Hoàng Phụng Thế đóng quân ở Hoàng Giang,đem quân về đánh chiếm lại và bắt được Sư Ôn, mà phá tan bọn giặc ấy.

Dưới triều đại Thuận Tông có xảy ra các việc sau: Chế Bồng Nga đem quân ra quấy phá đất Đại Việt liên tục.Nhưng rồi đi đêm lâu ngày cũng gặp ma. Năm 1389 Chế Bồng Nga đem quân ra đánh tận đến Thanh Hóa,quân nhà Trần do Lê Quý Ly chống giữ,nhưng sau đó Lê quý ly bị phục binh của Chế Bông Nga nên quý Ly bị thua,quân lính chết nhiều, Lê quý Ly trốn chạy về kinh,chỉ để lại người Tùy tướng là Phạm khả Vĩnh cùng tướng quân Nguyễn đa Phương ở lại chống giặc. Nguyễn Đa Phương thấy quân mình yếu thế chỉ giã tảng giàn cờ ra, chờ trời tối rút quân về.

Tháng mười một của năm nầy (1389) quân Chiêm lại vào sông Hoàng Giang,Thượng Hoàng sai Đô Tướng Trần khát Chân đem binh chống giữ. Đến năm Canh Ngọ (1390) Chế Bồng Nga đi thuyền đến xem tình hình quân của Khát Chân,nhưng có một điều trớ trêu là,có một tên đầy tớ của Chế Bông Nga bị phạm tội sợ phải giết nên trốn sang đầu hàng với Khát Chân, Nhân khi Chế Bồng Nga đem hàng 100 chiếc thuyền đến gần trại Khát Chân,tên đầy tớ ấy mới chỉ chiếc thuyền của Chế Bồng Nga đi.Khát Chân cho lính dùng súng lớn bắn vào chiếc thuyền ấy, Chế Bồng Nga trúng dạn mà chết.,Quân nhà Trần đổ ra đánh,quân Chiêm bỏ chạy.Trần Khát Chân cho lấy đầu Chế Bồng Nga đem về dâng lên cho Thượng Hoàng,Thượng Hoàng khi thấy đầu Chế Bồng Nga thì cao hứng mà ví mình giống như Hán Cô Tổ thấy đầu Hạng Vũ vậy,rồi sau đó mà luận công tưởng thưởng cho binh sĩ. Tướng Chiêm là La Khái,đem xác Chế Bồng Nga về chôn cất rồi,đem quân về nước và rồi chiếm ngôi mà làm vua. Hai người con của Chế Bồng Nga lại chạy sang Đại Việt xin hàng,được Thượng Hoàng chấp nhận và phong tước hầu cho cả hai..

Lê Quý Lý ra mặt chuyên quyền

. Những trung thần của nhà Trần đã bị Lê quý ly xúi Thượng Hoàng giết đi,Triều đình lúc bấy giờ không còn ai dám nói gì. Quý Ly lại được Thượng hoàng tin cậy mỗi ngày một hơn, Sĩ phu có người dâng sớ tâu với Thượng Hoàng rằng: Quý Ly có ý muốn dòm ngó cơ nghiệp nhà Trần,thì Thượng Hoàng lại đưa cho Quý Ly xem,cho nên những người trung thần không một ai dóm nói năng gì.

Lúc nầy thì uy quyền của Quý Ly một ngày một to,vây cánh mỗi ngày một nhiều thêm. Cho dến một lúc,Thượng Hoàng tỉnh mộng biết lấy làm sợ thì đã châm lắm rồi.Thượng Hoàng cho người vẽ cái tranh Tứ phụ cho Quý Ly.Trong tranh ấy vẽ ông Chu Công giúp vua Thành Vương,ông Hoắc Quang giúp vua Chiêu Đế,ông Gia Cát lượng giúp vua Hậu Chủ,ông Tô hiến Thành giúp vua Lý cao Tông,rồi bảo Quý Ly rằng nhà ngươi giúp con Trẫm cũng nên như thế.

Một hôm Thượng Hoàng gọi Quý Ly vào trong điện mà bảo rằng: “Nhà ngươi là thân tộc,cho nên bao nhiêu việc nước,trẫm đều ủy thác cho cả;nay quốc thế suy nhược,trẫm thì già rồi,ngày sau con trẫm có nên giúp thì giúp,không thì nhà ngươi tự làm lấy” Thượng Hoàng bắt chước câu ấy của ông Lưu Bị nói với Khổng Minh ngày trước,tưởng dễ mua chuộc được Quý Ly.Quý ly cởi mũ khấu đầu mà khóc lóc mà thề thót.

Nhưng dến khi Thượng Hoàng Nghệ Tông mất,thì Quý Ly lại làm thiệt,từ dấy Quý Ly chuyên làm những việc để chực đường thoáng đoạt. Trong triều từ việc cai trị, Quý Ly định lại phẩm phục của các quan; Về tài chánh,Quý ly dặt ra cách làm tiền giấy dể dễ thu tiền của dân; Về Văn Hóa, Quý Ly định lại văn thể,bỏ môn thi ám tả v..v.

Về Kinh Đô,Quý Ly sai người vào xây dựng thành Tây Đô ở Thanh Hóa ,năm Bính Tý (1396) Quý Ly bắt Thuận Tông phải dời đô về Tây Đô ,Thanh Hóa,rồi ép Thuận Tông nhường ngôi cho con,mà đi tu tiên,ở cung Bảo Thanh tại núi Đại Lại,huyện Vĩnh Lộc, Thanh hóa.

Thuận Tông nhường ngôi cho con mới chỉ 3 tuổi dể lập nên triều đại TRần Thiếu Đế,Quý Ly làm phụ chánh,tự xưng là Khâm Đức Hưng LIệt Đại Vương.

XII) T R Ầ N T H I Ế U Đ Ế (1398 - 1400)

Trần Thiếu Đế kế thừa sự nghiệp nhà Trần từ Trần Thái Tông đến Trần Thiếu Đế là 12 đời vua,trị vì được 175 năm.

Trần Thiếu Đế là vị vua cuối cùng của nhà Trần,nhà vua có tên húy là Trần Án, là con trưởng của Trần Thuận Tông và mẹ là Khâm Thánh Hoàng Hậu Thánh Ngâu ( con gái lớn của Lê quý Ly). Thiếu Đế sinh năm 1396, lên ngôi tháng 3 năm Mậu Dần (1398 ) lúc mới 3 tuổi.

Trong khi Thiếu Đế đang ở ngôi,năm 1399,Quý Ly tự xưng là Quốc Tổ Chương Hoàng Đế., ra vào trong cung dùng 12 lọng vàng,con thứ là Hán Thuơng xưng là Nhiếp Thái Phó, con cả là Nguyên Trừng làm Tư Đồ.Tình hình Đại Việt lúc nầy là một mớ hổn độn. Triều đình lúc nầy còn có Thái Bảo Trần Nguyên Hãng; Thượng tướng quân là Trần Khát Chân,lập hội để mưu trừ Quý Ly,sự việc bị lộ,bị giết đến 370 người.

Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn (1400) vua Thiếu Đế bị ép nhường ngôi. Lê Quý Ly sai tông thất nhà Trần ba lần dâng biểu khuyên mới chịu nhận làm vua. Quý Ly lên ngôi đặt niên hiệu là Thánh Nguyên,Quốc Hiệu là Đại Ngu, và đổi lại họ cũ của mình là họ Hồ

Thiếu Đế bị phế,nhưng vì là cháu của Hồ quý Ly nên không bị giết,chỉ bị giáng xuống làm Bảo Ninh Đại Vương.Sau nầy nhà Minh đem quân tiêu diệt nhà Hồ,số phận của Thiếu Đế không rõ, Như vậy các triều đại thuộc nhà Trần được kết thúc vào năm 1400,tức năm Canh Thìn,sau 12 đời vua trị vì.

________________________________________

H Ậ U N H À T R ẦN

Hai vị vua Hậu Nhà Trần và 7 năm khôi phục vương triều.

Tháng 6 năm Đinh Hợi 1407,cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nhà Hồ thất bại. Nhà Minh đặt ách đô hộ lên đất nước ta.Vương triều nhà Hồ thì thất bại,nhưng dân chúng Đại Việt,không chịu sự áp bức bắt làm nô lệ của nhà Minh,do vậy mà nhiều cuộc kháng chiến nổ ra để chống lại quân nhà Minh, Tháng 10 năm 1407,quân nhà Minh tiến lên vùng Cao Bằng bị kháng cự quyết liệt của dân chúng địa phương. Đặc biệt tháng 11 năm đó quân Minh tiến vào Nghệ an,gặp phải sự kháng cự của nhóm Trần Ngỗi, là một người thuộc tông thất nhà trần lãnh đạo.

1)Trần Ngỗi,vừa chỉ huy đánh quân nhà Minh,cũng là con cháu thuộc dòng Tông thất nhà Trần nên tự lập làm vua,sử gọi là nhà Hậu Trần. Và tồn tại được 7 năm,(1407 -1414) truyền nối được hai đời đế vương. Trần Ngỗi xưng là Giản định đế,con vua Trần Nghệ Tông (1321 – 1395).

Giản Định Đế là vị vua duy nhất trong lịch sử,tự mình đánh trống đốc chiến phá giặc. Tại bến Bô Cô ( nay là xã Hiếu Cổ, huyện Ý Yên,Nam Định) trong trận đánh với quân nhà Minh,Giản định Đế đã tự mình cầm dùi đánh trống thúc quân, làm cho sĩ khí quân lính tăng lên,ra sức chiến đấu dành chiến thắng,

2) Trùng Quang Đế tức Trần Quý Khoáng,là vị hoàng đế thứ hai nhà hậu Trần,đồng thời đã tổ chức cuộc kháng chiến chống quân Minh sau năm 1407.Trần quý Khoáng là con của Trang Định Vương Trần Ngạc là cháu ruột Trần Nghệ Tông .Vào cuối đời của Nghệ Tông đã bị Hồ quý Ly nắm hết binh quyền,năm năm sau cướp ngôi nhà Trần mà lên ngôi hoàng đế lập nên nhà Hồ.

Năm 1414,Trùng quang Đế chống với nhà Minh bị thua và bị bắt giải về Yên Kinh, nhưng ông không muốn làm tù binh phương Bắc,nên đã nhảy xuống sông mà tự vẫn.thấy vua chết các quan hạ thần cũng nhảy theo.Vương triều nhà Trần thật sự khép lại,mở ra một cánh cửa đen tối dưới sự đô hộ của nhà Minh trong một thời gian lâu dài cho đến khi Lê Lợi kháng chiến toàn thắng.

Trên đây là tóm lược lịch sử các vị vua đời nhà Trần, là triều đại đã kiến tạo nên một giai đoạn lịch sử huy hoàng với các vị vua đầu đời nhà Trần từ 1226 – 1329 Từ vua Thái Tông đến Trần minh Tông. Dưới triều đại thuộc vào các vi vua trên cai trị, đã ba lần đánh bại quân Nguyên-Mông tạo nên một giai đoạn lịch sử huy hoàng rực rỡ nhất với nhiều danh tướng kiệt xuất Trần Hưng Đạo Đại Vương,Trần Quang –Khải, Trần Nhật Duật, Phạm ngũ Lão,Trần khánh Dư, Lê Phụ Trần và Trần quốc Toản. v…v.Dưới sự lãnh đạo của các vị vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Minh Tông đã đóng vai trò then chốt tạo nên các thắng lợi lịch sử nầy.

Và đến đây là nhà Trần đã kết thúc để chuyển quyền lực sang một triều đại mới là Nhà Hồ.

___________________________________

DƯỚI TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN, NHỮNG CÂU CHUYỆN BÊN LỀ.

  1. Nhân vật Trần Thủ Độ giữa công và tội:

Trần thủ Độ triệt hạ hoàng tộc nhà Lý là một chuỗi các hành động quyết liệt,nhằm củng cố quyền lực tuyệt đối cho nhà Trần,sau cuộc chuyển giao triều chính vào năm 1225.

Các sự kiện được ghi chép trong lịch sử dưới đây:

*Bức tử Lý Huệ Tông (1226).Sau khi ép Lý huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Lý chiêu Hoàng mới 6 tuổi.Trần thủ Độ tiếp tục ép vị cựu Hoàng nầy đi tu tại chùa Chân Giáo.Nhưng vẫn còn sợ hậu họa về sau,nên Trần thủ Độ đã ép Huệ Tông phải tự sát.

*Thảm sát tôn tộc nhà Lý tại thôn Hoa Lâm (1232): Theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi tôn thất nhà Lý tụ họp tại thôn Hoa Lâm ( nay là xã Mai Lâm,Đông Anh,Hà Nội; là nơi tụ hội của dòng tộc nhà Lý ngày trước)Những người trong tôn thất còn lại đã tụ hội tại nơi nầy để cúng tế tổ tiên,Trần thủ Độ cho đào hố sâu,dựng nhà lá lên trên,khi mọi người đang tập trung làm lễ,thì cho dật sập dể chôn sống trên 300 người.Tuy nhiên,về sau các nhà nghiên cứ đang phải đặt lại dấu hỏi về tính xác thực.

*Đổi họ Lý sang họ Nguyễn năm (1232): Dể xóa bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của vương triều nhà Lý,Trần Thủ Độ đã ban lệnh,bắt buộc tất cả những người mang họ Lý,nói chung trong thiên hạ phải đổi sang họ Nguyễn. Lý do ông đưa ra là dể tránh Phạm Húy ( (Trần Lý).nhưng thật sự là khiến giòng giỏi nhà Lý phải biến mất khỏi đời sống chính trị ngoài xã hội.

*Tất cả các hành động trên đã làm cho các thành viên trong hoàng tộc nhà Lý còn lại phải lo sợ mà Lý Ong Tường phải ly hương .

Một số thành viên trong hoàng tộc nhà Lý mang chức tước cao,đang giữ những chức vụ cao trong chế độ, lo sợ phải mang họa như Lý Long Tường Đô Đốc Hải quân đóng tại Đồ Sơn,nhìn thấy gương trước mắt,phải mang gia quyến mà vượt biển chạy sang Cao Ly ( Triều Tiên ngày nay) để xin tị nạn chính trị, để tránh sự truy sát.

Trần Thủ Độ với những mưu kế của ông,về sau một số sử gia nho giáo cho rằng là thiếu nhân đức vì dùng bạo lực để đạt mục đích.

Và như vậy Trần thủ Độ được coi là một “gian hùng” hay là một “kiệt tướng”. Ông là một quyền thần có ảnh hưởng lớn trong việc xây dựng nên triều đại Nhà Trần.Trần Thủ Đô đóng vai trò lớn trong việc đoạt ngôi nhà Lý để tạo nên triều đại nhà Trần và ông đứng mũi chịu sào trong việc xây dựng vững mạnh cho triều đại nhà Trần suốt cả một thời gian dài từ 1226 cho đến khi ông qua đời 1264,là 38 năm. Trong 38 năm ấy Trần thủ Độ nắm giữ quyền bính thật chặt chẽ để xây dựng nhà Trần được vững mạnh, không những về việc nội trị, mà cả về mặt ngoại trị là chống quân xâm lược nhà Nguyên.Đã có lần vua Trần Thái Tông đích thân dốc chiến chồng quân Nguyên,thế giặc quá mạnh,Trần thái Tông dến hỏi ông làm thế nào để chồng giặc Trần thủ Độ trả lời một cách quả quyết “ Dầu thần chưa rơi,Bệ hạ đừng lo” và như vậy là quân lại đánh hăng hơn. Nếu không có ông thì cũng khó có một người nào khác đóng được vai trò nầy.Ông có bị mang tiếng là ác theo cách nhìn thường tình,nhưng bước vào con đường chính trị,ông phải làm như vậy,phải quyết đoán để thực hiện thật nghiêm minh những chính sách cần để tạo cái đủ mà xây dựng vững mạnh triều đại nhà Trần,đã lưu lại tiếng vang là triều đại đã tạo được những thành công huy hoàng nhất trong lịch sử Đại Việt vào thế kỷ thứ XIII.

Lý lịch về Thái sư Trần Thủ Độ: . Trần thủ Độ được sinh tại xứ Tức Mặc,phủ Long Hưng tỉnh Thái Bình Việt Nam. Ông chỉ là một thành viên trong hoàng tộc nhà Trần,quyền lực nhiều nhưng không tranh ngôi vị tối cao.Tuy nhiên quyền hành đều một tay ông nắm giữ trong suốt thời gian dài ông còn sống.

Sau khi qua đời vào năm 1264,ông được Trần Thái Tông tôn Thụy hiệu là: Thượng Phu Thái Sư Trung vũ Đại Vương.

Công Tích đầu tiên cùng mưu kế đoạt ngôi vua:

Công tích đầu tiên là dẹp loạn Quách Bốc, dòng họ Trần dưới triều đại cuối nhà Lý,ông cùng với Đại Tướng Quân Trần tự Khánh người anh em cùng họ, đã dẹp yên loạn Quách Bốc nên uy tín rất cao. Sau khi Trần tự Khánh qua đời (1223). Trần Thủ Độ là người thực sự thay thế nắm quyền bính trong triều.Đối với nhà Lý,ông còn cứng rắn hơi Trần tự Khánh nữa.Năm 1224 ông được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ. Lý huệ Tông và Hoàng Hậu Trần thị Dung có hai con gái, người em có tên là Lý thiên Hinh,được phong là Chiêu Thánh công chúa. Trần Hoàng Hậu là chị họ của ông ,người ta cho rằng hồi trẻ hai người đã phải lòng nhau,nhưng vì dòng họ nên Trần Thị phải lấy Huệ Tông,khi đó Huệ Tông mới chỉ là Thái Tử đang chạy loạn trong sự biến Quách Bốc.

Trần thủ Độ đã ra sức ép Huệ Tông bỏ ngôi lên làm Thái Thượng Hoàng và rồi phải đi tu ở chùa Chân Gáo trong Hoàng Thành,mà nhường ngôi cho cô công chúa thứ hai là Chiêu Thánh mới lên 7 tuổi. Khi lên ngôi lấy hiệu là Lý Chiêu Hoàng, trở thành vị nữ Hoàng thứ hai của Đại Việt,trước đó vào thế kỷ thứ nhất công Nguyên đã có Trưng Trắc nữ Vương. Lúc lên ngôi Lý Chiêu Hoàng mới vừa 7 tuổi,quyền hành đều nằm trong ta Trần Thủ Độ Thái sư Phụ Chánh.

Đây là âm mưu mà Trần thủ Độ muốn đoạt ngôi nhà Lý về tay nhà Trần một cách êm thắm.Trần thủ Độ dàn xếp cho Trần Cảnh là con trai thứ hai của trần Thừa 8 tuổi vào hầu Lý Chiêu Hoàng (tức là chơi với Lý chiêu Hoàng dể làm quen) Khi hai người đã gây được cảm tình với nhau. Trần thủ Độ dàn xếp cho Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh Làm chồng,đến cuối năm 1225 đầu năm 1226 Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, như vậy là Trần Cảnh lên ngôi vua, tức ngôi vua từ nhà Lý đã chuyển sang nhà Trần một cách thật êm thắm. Thượng Hoàng Huệ Tông đã đi tu,chỉ còn mang danh là Huệ Quang Đại Sư.và sau nầy Trần Thủ Độ cũng dùng cách nói bóng gió mà bức ông phải tự tử mà chết.

Trần Cảnh lên ngôi tức Thái Tông Hoàng Đế, là vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần,và ông được phong chức Thái Sư,tước Quốc Thượng Phụ,mọi việc triều đình đều một tay ông nắm giữ mà thi hành.Dến bây giờ Trần thủ Độ phải ra tay diệt mọi mầm mống của nhà Lý để đề phòng hậu hoạn,và ông đã làm mọi việc mà đã nêu lên bên trên.

Sau khi ngôi vua nhà Lý chấm dứt Linh Từ Thái Hậu cũng bị truất,đây cũng là mưu của Trần Thủ Độ,Thái Hậu Thiên Từ bị truất xuống làm công chúa Thiên cực,để sau nầy ông tiện bề lấy Thiên cực công chúa làm vợ,không phải động đến ngôi Thái Hậu.

Như vậy ta hiểu rằng mọi việc từ việc phế bỏ Thái hậu chỉ còn lại là Công Chúa để lấy làm vợ,vốn bà là Hoàng Hậu của Lý huệ Tông, Tất cả mọi việc từ ép Huệ Tông, sắp đặt việc Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh là Thái Tông Hoàng Đế sau đó,đều nhất nhất có vai trò lớn của ông và Quốc Mẫu Linh Từ.

Trần Thủ Độ làm quan thật nghiêm minh:

Trần thủ Độ làm quan thật nghiêm minh, khi vợ ông là Linh từ Quốc Mẫu có xin riêng cho một người làm Câu Đường,ông nhận lời. Đến lúc xét,ông gọi người ấy lên mà bảo. “Người vì có công chúa xin cho được làm Câu Đường,nên không thể so sánh với người khác được,phải chặt một ngón chân dể phân biệt”Người ấy sợ quá nên xin mãi mới được tha.Từ ấy không a dám dến nhà riêng dể xin xỏ việc gì nữa.

Một hôm Thiên Cực Công Chúa đi ngang qua cung cấm,thì bị một người lính chạy cờ ngăn lại,Bà trở về nhà thuật lại và khóc: “ Mụ nầy là vợ ông mà bị bọn quan khinh nhờn như vậy!” Trần thủ Độ tức giận sai bắt người lính chạy cờ về trị tội,Nhưng sau khi nghe người nầy trình bày nguyên do thì ông cười và nói: “ Ngươi ở cấp thấp mà biết giữ phép nước,ta còn trách gì nữa”s au đó ban thưởng cho người nầy.

Lại có người thấy ông có nhiều quyền uy trong triều, và gặp Thái tông tâu rằng: “ Tâu Bệ Hạ, bệ hạ còn thơ ấu mà Thủ Độ quyền át cả vua,xã tắc rồi sẽ ra sao?” Thái Tông lập tức đưa người ấy dến dinh thủ Độ mà nói hết những lời người ấy nói cho Thủ Độ nghe. Thủ Độ trả lời “Đúng như lời hắn nói” Rồi lấy tiền,lụa thưởng cho người ấy.

Việc phế lập Lý Hoàng hậu:

Thái Tông Hoàng Đế và Lý Hoàng Hậu lấy nhau đã lâu,sau khi Hoàng thái tử Trần Trịnh chết yểu vào năm 1233, Lý Hoàng Hậu không sinh thêm được người con nào nữa. Vì lo sợ dòng máu Hoàng thất không truyền được. Thái Sư cùng Quốc Mẫu bàn cách giải quyết.

Năm 1236, Thái sư ép Thái Tông hoàng đế phế Lý Hoàng Hậu,rồi ép ông lấy chị dâu là Thuận thiên Công chúa- vợ của Hoài vương Trần Liễu, chính là chị ruột của Lý Chiếu Hoàng,lúc nầy Thuận thiên công chúa dã có mang sẵn với Trần Liễu được 3 tháng. Việc đó khiến Trần Liễu thù hận cất quân nổi loạn và Thái Tông phải bỏ đi lên chùa.nhưng trước sức ép cứng rắn của Trần thủ Độ, Thái Tông phải quay về kinh sư,còn Hoài vương Trần Liễu sau khi thất bại cũng phải hàng phục và được phong làm An sinh Vương ở Kinh Môn ( Hải Dương).

Tuy nhiên,người con của An sinh Vương mà Trần thủ Độ sắp đặt dể làm con Trần Thái Tông hoàng đế, tức Tinh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang,cũng không được làm Hoàng Thái Tử dù là con trưởng. Năm 1240 Lý kế hậu sinh được Trần Hoảng ,được lập làm Hoàng thái Tử, là vua Trần Thánh Tông sau nầy.

*Chống giặc Mông Cổ:

Ngày 12 tháng 12 năm 1257,Ngột Lương Hợp Thai đưa quân sang xâm phạm Bình lệ Nguyên, Trần Thái Tông đích thân đốc chiến,thế giặc mạnh,nhà vua phải cho quân lui về sông Lô,rồi lui về sông Thiên Mạc. Nhà vua ngự thuyền dến hỏi Thái Úy Trần nhật Hiệu,kế sách chống quân Mông Cổ,Nhật Hiệu chấm nước miếng viết lên hai chữ “ Nhập Tống”.Nhà vua lại hỏi Tinh Cương,quân do Nhật hiệu chỉ huy,Nhật Hiệu nói rằng không gọi được chúng đến. Nhà vua lại dời thuyền dến hỏi Trần Thủ Độ. Thủ Độ trả lời: “Đầu thần chưa rơi xuống đất,bệ hạ đừng lo gì khác”.

Ngày 24 tháng 12 năm 1257,Trần Thái Tông tiến quân dến Đông Bộ Đầu, đánh bị quân Nguyên,khiến đội quân nầy phải rút chạy về nước.

Tháng giêng,mùa xuân năm 1264, Thái sư Trần Thủ Độ qua đời thọ dược 71 tuổi. Và được Trần Thái Tông truy tặng là Thượng phụ Thái Sư Trung vũ Đại vương.

“ Trần Thủ Độ tuy làm Tể Tướng,nhưng mọi việc là không gì là không để ý tới,nhờ thế đã giúp Vương nghiệp nhà Trần giữ được tiếng tốt cho đến khi ông qua đời. Thái Tông Hoàng Đế có làm bài văn bia ở Sinh từ để tỏ lòng đặc biệt quý mến ông. Tuy nhiên cái tội giết “Lý Huệ Tông” thì khó tránh cái tội với đời sau. (Đại Việt sử ký toàn thư – Trần Thái Tông bản Kỷ).

Sử chép Trần Thái Tông lấy được thiên hạ đều là do từ mưu sức của Trần Thủ Độ,cho nên nước nhà phải nhờ cậy,quyền hơn cả vua.

Trần thủ Độ quan niệm“ chết cả họ hoặc được cả thiên hạ”nên bất cứ việc gì có lợi cho dòng tộc nhà Trần thì ông quyết phải làm cho bằng được.

Kết luận: Trần thủ Độ là Anh Hùng hay là một Gian Hùng;

Trần thủ Độ không đỗ đạt khoa cử,nhưng mưu lược hơn người,không những là quyền thần nhà Lý,khi ông còn làm quan dưới triều nhà Lý,đều được mọi người nể phục. Với nhà Trần thì còn hơn thế nữa, vì chính ông là người đã dựng nên triều đại nhà Trần. Đối với dân Đại Việt nói chung vào thời kỳ đó,và cho cả cái nhìn bây giờ,việc làm của ông đóng một vai trò tích cực. Ông đã giúp nhà Trần bình được loạn lạc trong nước cùng giặc giã ngoại xâm,làm cho Đại Việt cường thịnh trở lại sau một thời kỳ suy yếu cuối thời nhà Lý.Chính đó là cơ sở đủ,tạo nên được tinh thần mạnh mẽ mà chông giặc ngoại xâm Mông Cổ.

Với cái nhìn bình thường người ta phê phán Trần Thủ Độ là một con người ác đức,nhưng ông đã bước vào con đường chính trị,không quả quyết tức là “không ác”một chút thì không bao giờ thành công,đó là tất cả kinh nghiệm từ nhiều thế kỷ qua đã cho chúng ta thấy điều đó. Hành động mà Trần Thủ Độ áp dụng vào thời điểm chuyển quyền từ nhà Lý sang nhà Trần ông đã áp dụng những phương pháp như vậy được gọi là “ắt có” tạo nên cái “ắt đủ” áp dụng thích hợp cho thời thế,thì không thể cho ông là người quá ác đức,hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ đã đẩy ông vào cái thế phải làm như vậy.Làm thế ông đã cứu được dân tộc Đại Việt thoát được cảnh “nô lệ:” của người phương Bắc một bọn giặc bạo tàn, coi ra công của ông nhiều hơn tội.Bằng chứng là người dân Việt mới đây tại thôn Đình Bảng,xã Mai Lâm đã xây dựng một đền miếu để thờ, và đã thiết trí một bàn thờ gồm Lý chiêu Hoàng ngồi chính giữa,hai bên là Trần Cảnh (Thái Tông) với Trần thủ Độ. Mai Hậu,các thế hệ hậu bối chắc chắn luôn ghi nhớ lời nói khẳng khái đầy quyết đoán của ông để học tập,dùng trong việc trao dồi tư cách làm người “ Đầu thần chưa rơi xuống đất,Bệ hạ đừng lo gì khác”. một câu nói khẳng khái để đời.**

  1. Câu chuyện thứ hai cần xét đến về Triều Đại Nhà Trần: là Hôn nhân nội tộc:**

Nhà Trần đã tạo nên một luật lê riêng biệt khác hẳn với phong tục trong xã hội của dân Việt từ xưa là luật Hôn nhân nội tộc.

Sau khi Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng,và Lý chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh để lên ngôi vua, (tức vua Thái Tông),tức dùng phương pháp ngoại thích để cướp ngôi nhà Lý. Nhà Lý mất ngôi vì ngoại thích.Để tránh tình trạng trên xảy ra dưới triều đại nhà Trần,có lẽ cũng do Trần Thủ Độ,vì ông đã nhìn thấy và nghĩ ra phương pháp phải dùng “Hôn nhân nội tộc”có làm vậy mới tránh được tình trạng ngoại thích cướp ngôi,mà chính ông là người đã thực hiện việc cướp ngôi nhà Lý bằng phương pháp “Ngoại Thích” nầy. (tuy rằng các nhà viết sử không chỉ đích danh phương pháp nầy là do ông Trần Thủ Độ nghĩ ra rồi áp dụng để tránh mất ngôi vì ngoại thích) Nhưng về cuối triều nhà Trần vẫn mất ngôi vì ngoại thích nhà “Hồ” “Lê quý Ly”.Các nhà viết sử họ bàn lanh quanh luật nội hôn như thế có phạm phải tội loạn luân không? Vậy thôi . Phạm hay không phạm đó là cách xét riêng lẽ của cá nhân.Còn cái chung thì chỉ có mỗi nhà Trần thực hiện cái luật ấy,nó trái với đạo lý của người Việt ta có thể tính từ đời Hồng Bàn đến nay, chưa có ai làm cái chuyện ấy bao giờ vì nó trái với luân thường,do vậy mà tuyệt đối không nên học theo.

Ngày nay khoa học đã chứng minh được rằng những cặp vợ chồng có quan hệ gần gũi về huyết thống,thì sinh con bị dị dạng,trí tuệ không phát triển bình thường,thể chất yếu đuối,nghĩa là không bảo đảm được sự lành mạnh của nòi giống.Lịch sử hôn nhân của loài người,đều bắt đầu bằng hình thái hôn nhân ngoại tộc,nghĩa là trong nội bộ một nhóm người,còn phải cấm chỉ mọi tính giao.

Hôn nhân là sự trao đổi nam - nữ thuộc hai nhóm người. Từ đó mà có thuật ngữ ngoại tộc hôn nhân (exogamy).Lúc đầu là ngoại hôn thị tộc,bào tộc ( trong xã hội nguyên thủy) về sau trong xã hội có giai cấp là hôn nhân dòng họ.Người trong một họ không được lấy nhau.Ở nước ta,họ Bùi ở dân tộc Mường,sở dĩ có trường hợp hai vợ chồng cùng họ Bùi,là do không cùng chung huyết tộc.

Ngay tại làng chúng tôi “Thanh Ly”nhiều tộc Phan quá,nên làm sui với nhau tạo nên những cặp vợ chồng cùng mang là họ phan,nhưng khoảng 6 thập niên trở lại đây,các tộc Phan cũng thống nhất một quy định,hạn chế việc làm sui gia giữa các tộc phan với nhau,mọi người đều suy luận,vì có sự nghi ngờ. Họ đã tự đặt ra câu hỏi: có phải trước khi vào lập nghiệp tại xứ nầy,các tộc Phan nầy có cùng một tổ không? Vì cùng xuất phát từ Nghệ An mà thời gian di dân vào theo gia phả của các tộc cũng đều xấp xỉ nhau.Hy vọng tất cả sẽ thực hiện tốt điều mà mọi người đã nghĩ..

Dưới dây là một số trường hợp mà nhà Trần đã áp dụng luật nầy tạo nên những cuộc hôn nhân tuy nó chưa bị ảnh hưởng bởi huyết thống theo như các nhà sử học luận bàn, nhưng nhìn chung thì nó rất là khó nhìn.

1)Hôn nhân con bác –con chú ; chị gái con bác lấy em trai con chú.

- Anh Sinh Vương Trần Liễu và Thái Tông Trần Cảnh là hai anh em trai. Con gái của Anh Sinh Liễu là Thiên Cảm Hoàng Hậu lấy con trai Thái Tông Cảnh là Thánh Tông Hoàng.

-Nhân Tông Khâm là con Thánh Tông Hoàng. Khâm Từ Hoàng Hậu là con gái của Tỉnh quốc Vương Quốc Khang. Quốc Khang và Thánh Tông là hai anh em trai.

2) Hôn nhân con Bác - con Chú: Anh trai con bác lấy em gái con chú.

- Minh Tông Mạnh là con Anh Tông Thuyên; Lệ Thánh Hoàng Hậu là con gái Huệ vũ Vương Quốc Chân. Anh Tông và Quốc Chân là hai anh em trai.

3) Hôn nhân con bác lại - con chú lại. Anh trai con bác lại, em gái con chú lại lấy nhau.

- Hưng vương Hiến là cháu của Anh Sinh Vương Liễu; Thiên thụy công chúa là cháu của Thái Tông Cảnh. Anh sinh Vương Liễu và Thái Tông Cảnh là hai anh em trai.

4) Hôn nhân con chú,con bác họ Em trai con chú lấy chị gái con bác họ.

- Anh Tông Thuyên lấy Thuận Thánh Hoàng Hậu. Anh Tông Thuyên là con của Nhân Tông Khâm; Thuận Thánh Hoàng hậu là con của Hưng Nhượng Vương Tảng..

5) Hai chị em họ lấy nhau.

- Trần thủ Độ lấy Thiên cực công chúa,(hay là Hoàng hậu của Lý huệ vương).

6) Cháu gái lấy chú họ.

- Anh Tông Thuyên ,con trưởng của Nhân Tông gả công chú Thiên Trân cho Uy Túc Công Văn Bích.Văn Bích là con của Dạo Tái, cháu Trần quang Khải.

7) Lại còn trường hợp: Cháu trai lấy cô ( Cháu trai lấy em gái bố).

Nhận xét của các sử gia: Họ Trần …chốn buồng the cũng có nhiều điều hổ thẹn (tr.15) Theo ĐVSKTT.

-Phan phú Tiên nói: Thái Tông cướp vợ của anh,tội ác quá rõ ràng (tr.14).

- Sử thần Ngô sĩ Liên nói: Hôn nhân không lấy người khác họ,mà lấy người cùng họ,thì chỉ có nhà Trần làm thế.Trong việc trả lễ,lại trái lẽ nữa (tr.22) Việc hôn nhân rất là bất chính.

Trên dây chỉ là một số dẫn chứng cụ thể nhưng cũng chỉ tượng trưng,còn trong suốt 217 năm dưới triều đại nhà Trần,thì chuyện hôn nhân ấy chắc là vô số.

3) Hưng Đạo Vương Trần quốc Tuấn thực hiện việc cướp dâu Chấn động Lịch sử Đại Việt.:

Câu chuyện có thật đã được ghi lại trong Đại Việt Sử ký Toàn Thư,chuyện xảy ra vào nắm 1251. Đây là màn “phá đám cưới” chấn động Đại Việt thời bấy giờ.

-Bối cảnh: Công chúa Thiên Thành (con gái lớn vua Trần Thái Tông) đã được hứa gã cho Trung Thành Vương,sính lễ đã được trao và công chúa đang ở phủ Nhân Đạo Vương (Cha của Trung Thành Vương) để chờ ngày ăn cưới.

Trước đó Trần Quốc Tuấn với công chúa Thiên Thành đã có thời gian học chung trường lớp, nên hai người đã có tình cảm với nhau. Nên trước đêm cưới,Trấn quốc Tuấn tréo rào lẻn vào phủ Nhân Đạo Vương,vượt qua lính canh mà vào phòng riêng của công chúa để “tư thông”với công chúa Thiên Thành.

Kế hoạch của Thụy bà Công Chúa: Thụy bà công chúa là cô ruột (và cũng là mẹ nuôi của Trần quốc Tuấn) bà biết chuyện đã xảy ra nên lập tức vào cung than khóc với vua Trần Thái Tông. Bà nói dối rằng Nhân Đạo Vương đã bắt giữ Trần quốc Tuấn và xin nhà vua cứu mạng cháu mình.

Vua Trần Thái Tông rơi vào tình thế khó xử,hủy hôn không được mà xử Trần quốc Tuấn cũng không xong,nhưng mà chuyện đã rồi,cuối cùng nhà vua đành phải phái người đến phủ Nhân Đạo Vương dẫn Trần quốc Tuấn về cung một cách an toàn.Sáng hôm sau Thụy bà Công Chúa mang sính lễ gồm 10 mâm vàng đến hỏi cưới Thiên Thành công chúa cho cháu mình, lấy lý do “ vội vàng quá nên không sắm đủ lễ vật”. Trước sự đã rồi,nhà vua đành hạ chiếu gả công chúa Thiên Thành cho Trần quốc Tuấn.

Để xoa dịu Nhân Đạo Vương,vua Trần Thái Tông đã cắt 2.000 khoảnh ruộng tốt ở Ứng Thiên ban cho ông nầy làm quà đền bù.

Sau vụ “cướp dâu” nầy, Trần quốc Tuấn và Thiên Thành công chúa sống rất hạnh phúc,sinh hạ được nhiều người con tài giỏi,góp công lớn cho sự nghiệp nhà Trần.

_____________________________

4) Phạm ngũ Lão chàng trai đan sọt trở thành Đại Tướng quân của Trần Hưng Đạo

Là một chàng trai nghèo,làm nghề đan sọt bán để nuôi mẹ tại làng Phù Ủng,đã trở thành danh tướng của Hưng Đạo Vương Trần quốc Tuấn mà là người văn võ song toàn, có công lớn trong việc chống quân Nguyên Mông,được vua tin yêu.

Vài nét về tiểu sử người thanh niên Phạm Ngũ Lão (1255- 1320). Là người làng Phù Ủng,huyện Đường Hào,Hải Dương (nay thuộc huyện Ân Thi,tỉnh Hưng Yên Việt Nam).Theo sách Tông phả kỷ yếu tân biên của Phạm công Sơn đã dẫn gia phả họ Phạm như sau: Phạm ngũ Lão là cháu tám đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh.

Ngay từ thuở nhỏ cậu bé Phạm Ngũ Lão đã tỏ ra khác thường,tính tình khẳng khái.Khi ở trong làng có người đỗ Tiến sĩ (Bùi công Tiến) tổ chức ăn mừng,cả làng kéo đến,riêng Ngũ Lão thì không. Người mẹ hỏi con trai tại sao không đến,Ngũ Lão thưa với mẹ: Chí làm trai phải lập công danh rạn rỡ non sông mà con chưa lập được bằng người,đi mừng người ta thì nhục lắm. Cùng thời gian ấy Hưng Đạo Vương có việc quân qua vùng đất Phù Ủng. Phạm ngũ Lão đang ngồi đan sọt ngoài đường,mãi nghĩ về cuốn sách binh thư nên không biết quan quân trẩy đến.

Một người lính dẹp đường quát mãi,chàng trai đan sọt vẫn cứ ngồi yên,người lính dùng giáo đâm vào đùi kẻ cản đường,vậy mà người đan sọt cứ như không,Tướng Công thấy vậy bèn ra nói chuyện với chàng trai.Qua đối đáp trôi chảy của chàng trai nông dân,Tướng công thầm hiểu đây sẽ là một vị lương tướng của triều đình.Ông sai lính lấy thuốc trị vết thương rồi cho mời về triều.Phạm Ngũ Lão xin phép về nhà thưa với mẹ sự việc vừa xảy ra,đồng thời xin phép mẹ cho ông đi cùng với tướng quân về triều.

Sau khi về kinh đô,Hưng Đạo Vương,tiến cử Phạm ngũ Lão lên triều đình với chức cai quản quân cấm vệ. Vệ sĩ biết ông là nông dân thì không phục, bèn xin tâu được cùng ông thử sức. Phạm ngũ Lão bằng lòng, nhưng trước khi vào đấu sức,ông xin về quê 3 tháng. Về quê,ngày nào Phạm Ngũ Lão cũng ra cái gò lớn ngoài đồng,đứng cách một tầm mà nhảy lên,nhảy mãi cho đến khi cái gò bị sạt mất một nửa.Hết hạn,ông trở về cấm thành,cùng các vệ sĩ so tài. Thấy ông tiến thoái như bay,tay đấm,chân đá thoăn thoắt,xem ra sức có thể địch nổi cả vài chục người.Từ đó quân sĩ bái phục ông.

Về Quân Sự: Trong cuộc chiến chống nhà Nguyên xâm lược (1285 – 1288) Phạm ngũ Lão lập được nhiều chiến công,Năm 1285 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai, ông cùng với Trần quang Khải tiến đánh Chương Dương,Hàm Tử,đập tan đội binh truyền thống khổng lồ của giặc và diệt quân Nguyên chiếm đóng Thăng Long.(Trong lần nầy Thăng long đã được nhà vua cho di tản,làng xóm chung quanh cho đốt sạch,để trở thành vườn không nhà trống cắt nguồn sống của địch.) Sau đó Phạm Ngũ Lão đươc lệnh mang ba vạn quân phục kích đánh địch ở Vạn Kiếp,chặn đường địch rút chạy lên biên giới phía bắc và diệt được hai phó tướng địch là Lý Quán và Lý Hằng.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba (12/ 1287) Phạm ngũ Lão cùng các tướng bày trận phục kích đường rút lui của giặc trên sông Bạch Đằng,trong trận nầy quân nhà Trần bắt sống được tướng nhà Nguyên là Phàn Tiếp,Áo Lão Xích,Ô Mã Nhi,Phạm ngũ Lão tiếp tục truy kích cánh quân của Thoát Hoan trên đường bộ.

Năm 1290,vua Trần Nhân Tông giao cho ông cai quản quân Thánh Dực.phong chức Hữu Kim Ngô Đại Tướng Quân.Năm Giáp Ngọ (1294) nhờ lập công khi đi đánh ở Ai Lao,ông được ban Kim Phù (tức Binh phù bằng vàng) Năm Đinh Dậu 1297 cũng nhờ lập công khi đi đánh Ai Lao,ông được ban Binh Phù ( tức binh phù có khắc chạm hình mây). Năm Tân Sửu (1301) Ông được phong làm Thân vệ Đại tướng quân và được ban Quy Phù ( tức binh phù có khắc chạm hình con rùa) . Đến đời vua Trần Anh Tông,ông được thăng tới chức Điện Úy Thượng tướng quân,tước quan nội hầu.. Một người con gái của Phạm ngũ Lão là Tinh Huệ,là thứ phi của vua Anh Tông.

Phạm ngũ Lão đã ba lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm,quấy nhiễu của quân Ai Lao vào các năm 1294,1297 và 1301; hai lần Nam Chinh đánh thắng quân Chiêm Thành vào năm 1312,buộc vua Chiêm là Chế Chí phải xin hàng và 1318 vua Chế Năng phải bỏ chạy sang Java.

Không những có tài về quân sự,ông còn là một nhà thơ,ông có rất nhiều bài thơ hay, nhưng rất tiếc đã bị thất lạc, chỉ còn lưu lại được hai bài là Thuật Hoài (Tỏ lòng) và Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại vương ( Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại vương).

Ông được Trần Hưng Đạo gả con gái cho tức là Quận Chúa Anh Nguyên.Câu chuyện gả con gái,Hưng Đạo Vương phải dùng mưu lách luật nhà Trần.

Phạm Ngũ Lão mất ngày 1 tháng 11 năm thọ 66 tuổi. Vua Trần Minh Tông cho nghỉ chầu 5 ngày,đây là một đặc ân mà nhà vua dành cho ông.

Người dân xã Phù Ủng dựng đền thờ ngay trên nền nhà cũ của ông để thờ ông. Ông cũng được phối thờ tại đền Kiếp Bạc,tại Chí Linh, Hải Dương và ngay tại đền thờ Trần Hưng Đạo.

___________________________

5) CÂU CHUYỆN TRẦN HƯNG ĐẠO LÁCH LUẬT ĐỂ GẢ CON

Với con mắt tinh đời,Trần Hưng Đạo đã nhìn thấy được một kiện tướng là Phạm Ngũ Lão,tuy rằng Phạm ngũ Lão xuất thân từ giới bình dân,nhưng là một người có chí khí và nhất là giỏi võ nghệ và tinh thông binh pháp.Vì vậy mà Trần Hưng Đạo muốn kết nạp Phạm Ngũ Lão để trở thành một thành viên thân cận của gia đình,Trần Hưng Đạo phải quyết gả con gái cho Phạm ngũ Lão để kết thân một danh tướng.Nhưng nghiệt một nỗi,luật lệ tôn thất nhà Trần bắt buộc chỉ gả con gái trong dòng tộc,không được gả ra ngoại tộc. Để vượt qua rào cản giai cấp nầy, quyết thực hiện ý định của mình,ngoài việc với con mắt tinh đời nhìn thấy tướng mạo một lương tướng,bên cạnh là sự mến mộ nữa, Trần Hưng Đạo quyết phải lách luật nhà Trần để thực hiện ý định của mình bằng cách: Chuyển đổi danh phận cô con gái thứ hai của mình là Anh Nguyên xuống mang danh phận là con nuôi,để không phạm quy tắc hoàng tộc,có đủ điều kiện mà tác hợp cho đôi trai tài gái sắc nầy.

Không phải quyết định riêng của người cha, mà ngay cô con gái cũng tán thành việc làm nầy. Từ khi nhìn thấy người con trai Phạm ngũ Lão, cô con gái đã đem lòng mến mộ ngay,do vậy khi người cha Trần Hưng Đạo đưa ra gợi ý với con gái, là gả con gái cho tướng quân Phạm ngũ Lão,thì người con gái không một chút do dự mà bằng lòng ngay.Từ hành động ấy đã giúp Trần Hưng Đạo có một sự quyết tâm hơn trong việc lách luật nhà Trần,mà không sợ bị tố là phạm luật.

Việc chuyển đổi danh phận cho cô con gái thành con gái nuôi,đã giúp cho Phạm ngũ Lão có đủ điều kiện kết hôn.

Hành động trên đã cho mọi người nhìn thấy sự nhìn xa,trông rộng của Quốc Công Tiết chế Trần Hưng Đạo trong việc trọng dụng hiền tài ( Phạm ngũ Lão la một lương tướng) không quan trọng việc xuất thân, mà cái quan trọng là góp phần tích cực vào việc giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến, điều đó mới là quan trọng.

Người con gái được gả cho tướng quân Phạm ngũ Lão hôm nay là Anh Nguyên Quận Chúa,và quả đúng như vậy Phạm ngũ Lão đã trở thành một trong bốn vị tướng xuất sắc nhất triều đại nhà Trần là : Trần Quốc Tuấn,Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, và Phạm ngũ Lão. Ông đã 3 lần tham gia chống giặc Nguyên Mông thắng lợi, 2 lần đánh dẹp giặc Ai Lao và Chiêm Thành, được nhà vua phong đến chức Điện Súy Thượng Tướng Quân, được lập phủ đệ trong kinh thành.

__________________________

6) VƯƠNG CÔ ĐỆ NHỊ “NỮ TƯỚNG QUYỀN LỰC ĐỨNG SAU ĐỨC THÁNH TRẦN

Quận chúa Anh Nguyên (con gái thứ hai của Trần Hưng Đạo Đại Vương và là vợ của danh tướng Phạm Ngũ Lão),đã được lịch sử ghi nhận là người có công đóng góp thầm lặng,nhưng rất quan trọng trong việc hổ trợ cho cha và chồng xây dựng nên một quân đội tinh nhuệ và hùng mạnh.

Xuất thân từ một gia đình cao quý,nhưng được gả cho một vị tướng đi lên từ lớp bình dân. Lúc chưa lấy chồng bà đã cùng cha là danh tướng Trấn quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) ra trận chống giặc thường xuyên,vì bà rất giỏi võ nghệ,nhiều lúc bà đã thay cha trong việc điều binh khiển binh tướng ngoài mặt trận. Tuy là một nữ nhi có thân hình ủy mị,với tính tình rất là hiền hậu,nhưng lúc ra trận bà mặc y phục con trai,bà có tác phong là một dũng tướng,nên quân lính đều kính mến và tuân phục.

Vì vậy mà bà được gọi với danh xưng là “ Vương Cô Đệ Nhị Nữ Tướng Quyền Lực sau Đức Thánh Trần”.

Từ lúc lấy Phạm Ngũ Lão làm chồng,bà không còn ra trận nữa,bà phải ở nhà lo quán xuyến việc nhà. Bà là người có tài quán xuyến việc quản lý công việc nhà, cũng như công việc tích lũy lương thảo là công việc hậu cần lo việc quân lương rất giỏi, giúp chồng bà yên tâm trong việc chinh chiến.

Bà trực tiếp tham gia vào việc chỉ đạo canh tác trong công tác sản xuất nông nghiệp của dân chúng trong vùng,tích trữ lương thực ,quân nhu để hổ trợ trong những giai đoạn khó khăn,giúp quân lính yên tâm,không phải lo việc thiếu thốn mà xao lãng việc binh.

Mặt khác bà còn được biết đến là một người nhân hậu,thường xuyên quan tâm đến đời sống của gia quyến binh lính dưới quyền chồng mình.Điều nầy giúp thắt chặt tình cảm “Phụ tử chi binh” (tình cha con trong quân đội) mà Phạm ngũ Lão là người thường để tâm đến công việc xây dựng quân đội hùng mạnh.

Ngoài ra bà còn hổ trợ trong công việc tuyển mộ và huấn luyện; một số giai thoại trong dân gian được kể lại rằng: Tại quê hương Phù Ủng( Hưng Yên) nơi quê chồng,bà đã cùng chồng tổ chức các hoạt động rèn luyện thể lực và tinh thần cho thân niên trong vùng,trước khi họ gia nhập vào quân đội nhà Trần.

  • Cách hành xử mẫu mực của một Quận chúa trong doanh trại/trong gia phủ đã góp phần giữ vững gia phong và quân kỷ,tạo nên hình ảnh một đội quân kỹ luật cao,trong việc xây dựng một quân đội hùng mạnh và chính nghĩa.

  • Dù là bậc Quận chúa cành vàng lá ngọc,là một tướng quân phu nhân cao quý. Nhưng Anh Nguyên Quận Chúa vẫn gắn bó với quê hương chồng,bà đã làm nhiều việc có ích cho dân ở quê,ở làng xóm. Bà cùng chồng bỏ tiền ra để hưng công tu bổ đình,chùa,đền miếu trong vùng.Ân đức ấy được người đời nhớ mãi,. Mà nay muốn biết đến bà,chúng ta hãy nghe câu hát văn,xưng tụng bà Thánh mẫu Anh Nguyên, là hiểu được công đức của bà ngay:

  • Lời hát rằng:

  • Nhà phúc sinh trang quốc sắc,

  • Đất thiêng đón khách anh hùng.

  • Đầm bà nhắc chuyện muôn xưa

  • Sông vật nhớ thời trận mạc.

  • Nay Quận chúa xa chơi cõi hạc.

  • Quan điện tiền về chốn tiên nga

  • Ơn đức chan chan sáng mãi không mờ,

  • Nén hương thơm dâng người thiên cổ.

Anh Nguyên Quận Chúa ( còn dược gọi là Đệ nhị vương cô Thủy tiên công chúa) con gái thứ của Đức Trần Hưng Đạo, là vợ danh tướng Phạm ngũ Lão,được thờ phượng linh thiêng tại nhiều nơi,nổi bật là Miếu Thờ bên cửa Tuần VườngĐền Bản Tỉnh.(Đền Cột Cờ),tại phường Ngô Quyền,thành phố Nam Định (Nơi thờ phối hợp với Bạch Hoa công chúa).

Và đến đây xin kết lại thiên ghi lại giai đoạn lịch sử về Triều Đại nhà Trần,từ các nét chính dựa vào chính sử và các việc xảy ra chung quanh triều đại nhà Trần được gọi “Bàn Sử” để giúp mọi người hiểu đầy đủ về đoạn lịch sử nầy.

____________ __________________________

N H À H Ồ

ANH HÙNG “DI HẬN” HỒ QUÝ LY VÀ TRIỀU ĐẠI 7 NĂM

Từ khi được phong làm Thái sư Phụ Chính dưới triều đại nhà Trần.Hồ quý Ly càng rốt ráo thực hiện mưu đồ chiếm ngôi nhà Trần.Đến một lúc thấy không cần núp dưới danh nghĩa phò tá nữa. Hồ quý Ly đã truất ngôi cháu ngoại,tự lên làm vua vào năm 1400,mở ra một triều đại mới với việc thực hiện một số cải cách tiến bộ,đi trước thời đại,nhưng tiếc rằng chưa đem lại được kết quả gì và chỉ sau 7 năm tồn tại,triều đại nầy đã phải chấm dứt sứ mệnh lịch sử và Hồ Quý Ly nói chung như Nguyễn Trãi đã nói “Anh hùng di hận thiên niên kỷ” (Đất nước ngàn năm ……………).

Hồ Quý Ly.

Gốc tích: Hồ quý Ly là cháu đời thứ 16 của Trạng Nguyên Hồ hưng Dật,vốn gốc thuộc tộc Việt ngụ tại Chiết Giang,nam Trung Quốc. vào đời hậu Hán ( Đời Ngũ Quý) ông sang làm Thái Thú Diễn Châu,sau định cư ở Hương Bào Đột (Nghĩa Đàn,Nghệ An).

Là một nhân vật được đánh giá là thông minh lỗi lạc.Nhưng ông lại có quá nhiều tham vọng,nhưng tất cả đều nằm trong tình trạng bất cập,do vậy mà mang phải cái thất bại khá đắng cay.

Hồ Quý Ly (1336 – 1407) có tên chữ là Nhất Nguyên,là vị Hoàng Đế đầu tiên của nhà nước Đại Ngu (lấy lại tên từ nhà Ngu ngày trước bên Tàu). Trong lịch sử Đại Việt.Ông chỉ ở ngôi từ 1400 đến 1401 tự xưng là Quốc Tổ Chương Hoàng,truyền ngôi cho con trai thứ là Hồ Hán Thương, học theo cách nhà Trần nhường ngôi cho con để lên làm Thái Thượng Hoàng, từ năm 1401 – 1407),thời gian sau khi bị nhà Minh bắt đưa sang Tàu,thì không rõ.

Hồ Quý Ly, ông là một nhà cải cách mạnh dạn trong lịch sử Đại Việt,cũng là một nhân vật gây ra nhiều tranh cãi từ nhiều luồng ý kiến khác nhau, khen và chê.Thời thế vào thời cuối nhà Trần đang trong vòng xoay chuyển,lòng dân bị ly tán,nhà Hồ thì lại không có một chủ trương nào thu phục lại lòng dân,do vậy mà khi thực hiện các chính sách tuy rất chính đáng nhưng vấp phải cái sai lầm là trong lúc đang bị mất lòng dân, từ cái bị mất lòng dân đưa đến cái mất nước vì thiếu sự hưởng ứng của dân chúng.Vì vậy chúng ta thấy Hồ Quý Ly đã để lại cho lịch sử nhiều bài học hơn là những thành công trong công việc mà ông đã làm để lại cho lịch sử.

Thời niên thiếu Hồ quý Ly theo học võ nghệ.Sau khi thi đỗ khoa Hoành Từ của khoa thi Hương dưới triều Trần,Hồ quý Ly gia nhập chốn quan trường nhà Trần. Ông có hai người cô ruột là vợ của vua Trần Minh Tông,một người sinh ra vua Trần Nghệ Tông,còn người thứ hai sinh ra Trần Duệ Tông.Nhờ đó mà Hồ Quý Ly dưới triều đại nhà Trần,ông được tín nhiệm ngay sau khi vua Trần Nghệ Tông lên ngôi vua. Năm 1372 ông bắt đầu được phong chức Tham Mưu Quân sự.

Năm 1377,vua Trần Duệ Tông thân chinh đánh Chiêm Thành,bị thất bại mà tử trận, Hồ Quý Ly kinh hải bỏ chạy về trước,nhưng vẫn được tha tội. Năm 1380.Hồ quý Ly làm thống lãnh quân Đại Việt, để chống lại các cuộc tấn công của quân Chiêm. Năm 1387 ông được phong làm Tể Tướng,từ đó quyền lực trong tay ông hầu như tuyệt đối.Các tông tộc ,quan lại trung thành với nhà Trần đã hai lần làm chính biến để lật đổ sự thống trị của Hồ Quý Ly,nhưng đều thất bại,tất cả đều bị Hồ quý Ly hành quyết sau đó.

Năm 1400,Hồ Quý Ly chiếm ngôi nhà Trần,từ ngôi Trần Thiếu Đế,là cháu ngoại của ông là Trần Hiện 16 tuổi .Vì là cháu ngoại nên Thiếu Đế không bị giết chết mà chỉ giáng xuống làm Bảo Ninh Đại Vương,rồi tự xưng lên làm Đế,và đổi lại họ Hồ.(trước mang họ Lê) ông tự nhận mình là con cháu thuộc dòng dõi nhà Ngu bên Tàu trước kia..Đồng thời đặt quốc hiệu la Đại Ngu.để tưởng nhớ triều đại ấy.

Về đối ngoại: Mặt Phương Nam với Chiêm Thành, lúc bấy giờ vua Chiêm Thành là Khải mới mất,con là Ba Đích Lại nối ngôi,Hồ Quý Ly nhân dịp Chiêm Thành còn rối ren bởi tang ma, lại sai Đỗ Mãn làm Đô tướng thủy quân,Trần Tùng làm Đô tướng bộ binh lĩnh 15 vạn quân đi đánh Chiêm Thành,nhưng Trần Tùng đem quân đi đường núi sang nên gần đất Chiêm Thành hơn,cánh thủy quân xa,hai bên không tiếp ứng được nhau,bộ binh bị thiếu lương thực nên phải rút về,Trần Tùng về bị Phải tội,bị đày ra làm lính.

Hồ Quý Ly chỉ làm vua được 10 tháng rồi nhường ngôi cho con trai là Hồ Hán Thương,để làm Thái thượng Hoàng,tuy rằng Hồ Hán thương đã giữ ngôi Hoàng Đế.nhưng quyền hành vẫn nằm trong tay Hồ Quý Ly. Năm 1402,tướng nhà Hồ là Đỗ Mãn đem quân sang đánh Chiêm Thành,vua Chiêm là Ba Đích Lại,sai cậu là Bồ Điền sang dâng đất Chiêm Động (tức phủ Thăng Bình,tỉnh Quảng nam).Quý Ly bắt phải dâng đất Cổ Lũy (Quảng Ngãi) Chiếm thêm được vùng đất nầy, Hồ Quý Ly mới phân thành Châu Thăng,Châu Hoa,(Quảng nam) Châu Tư,Châu Nghĩa ( Quảng Ngãi) và đặt Quan phủ sứ cai trị bốn chấu ấy,rồi lệnh cho các người dân không có ruộng đất ở các châu khác,đem vợ con đến khai khẩn đất ở các châu ấy.Khi vua Chiêm nhường đất thì dân Chiêm đã kéo đi hết bỏ lại đất đai .Năm Sau,1403 nhà Hồ còn đưa đại quân vào bao vậy kinh thành Đồ Bàn,hơn một tháng mà không chiếm được,lần nầy bị hao quân tổn tướng mà không thu đạt được kết quả gì.

Ngoại giao với nhà Minh: Khi Hồ Hán Thương vừa lên ngôi,thì cho sứ sang nhà Minh nói dối rằng: Vì chưng dòng dõi nhà Trần không còn người nào nữa,cho nên cháu ngoại lên thay để xử lý việc nước. Đến khi Thái Tổ nhà Minh mất (Chu nguyên Chương) Hoàng thái tôn lên ngôi tức là vua Huệ Đế.Bây giờ Hoàng Thúc là Yên vương Lệ,đóng đô ở Yên Kinh,quyền to thế mạnh,có ý tranh ngôi của cháu, bèn khởi binh đánh Kim Lăng,rồi lên làm vua.tức là vua Minh Thành Tổ,đóng đô ở Yên Kinh.

Khi Minh Thành Tổ dẹp yên dư đảng nhà Nguyên ở phía bắc,rồi có ý sang lấy đất Đại Việt,cho nên khi Hồ Hán thương cho sứ sang xin phong,vua Thành tổ sai quan là Dương Bột sang xem hư thực thế nào.Hồ Quý Ly bèn bắt quan viên, phụ lão làm tờ khai nói y lời như sứ nam đã nói khi sang, vì thế mà Thành Tổ không có cớ gì mà từ chối,phải phong cho Hồ Hán Thương làm An Nam Quốc Vương.

Đến năm 1404 có Trần Khang ở mạn Lão Qua,đi đường Vân Nam sang Yên Kinh, xưng là con vua Nghệ Tông,rồi kể rõ sư tình Hồ Quý Ly tiếm nghịch.Vua Thành Tổ nhà Minh lại sai Lý Ỷ sang xem xét việc ấy,Lý Ỷ về tâu quả thực họ Hồ làm điều thoáng đoạt.

Nhà Minh mượn cớ ấy mà xua quân sang tấn công nước Đại Ngu.Do là không được lòng dân,binh sĩ bất mãn, nên quân nhà Hồ thất bại nhanh chóng,cứ lui dần về phía nam và rồi thất bại toàn cuộc vào năm 1407,cả nhà Hồ Quý Ly gồm cà cha con Hồ Hán Thương và anh Là Hồ Nguyên Trừng cùng cả nhà và quần thần đều bị bắt đưa về Yên Kinh.

Từ khi mới lên ngôi,Hồ Quý Ly đã bỏ kinh đô Đại La (Thăng Long) và đời đô vào Thanh Hóa, việc di dời nầy đã làm cho dân chúng cực khổ vô cùng,cũng vì vậy mà dân chúng không mấy ủng hộ nhà Hồ,phần khác, tất cả đều biết Họ Hồ tiếm Ngôi nhà Trần,đây là một tội lớn mà dân chúng không đồng tình nên không ủng hộ nhà Hồ. Mặc dầu Hồ Quý Ly là người rất thông minh có nhiều sáng kiến trong việc cải tổ nhiều mặt từ tài chánh (Đổi tiền đồng thành tiền giấy cho dễ thông dụng) cải cách ruộng đất,quy định lại thuế khóa,định đặt lại luật lệ thi cử để chọn nhân tài.

Lượt qua một số chi tiết về triều đại nhà Hồ để được rõ hơn.

Sự hình thành nên nhà Hồ.Từ năm 1371,lúc bấy giờ Quý Ly mang họ Lê (ông Tổ tứ đại Hồ Liêm định cư tại Thanh Hóa,làm con nuôi ông Lê Huấn) được tham gia việc triều chính nhà Trần dưới thời vua Trần dụ Tông với chức Trưởng Cục Chi Hậu.Đến đời Trần Nghệ Tông,Hồ quý Ly được sung vào làm Khu Mật Đại Sứ. Sau biến cố Dương Nhật Lễ và sau cái chết của Trần Duệ Tông,cùng sự cướp phá của quân Chiêm Thành,nhà Trần mỗi ngày càng suy sụp, thời hậu kỳ nhà Trần mọi việc đều do Thượng Hoàng Trần nghệ Tông quyết định. Nghệ Tông lại rất tín nhiệm Lê quý Ly,nên mọi việc hầu như đều do Lê Quý Ly quyết định thay. Dần dần quyền bính rơi vào tay Lê Quý Ly mỗi ngày một lớn,Nghệ Tông không còn sức kèm chế được,cho đến lúc Nghệ Tông mất,Lê quý Ly được phong làm phụ chính Thái sư nhiếp chính,tước Trung tuyên Vệ quốc Đại Vương,thì quyền hành coi như nằm trọn trong tay,và đó là nguyên nhân hình thành nên Triều đại nhà Hồ sau đó, khi Quý Ly thoáng đoạt ngôi báu của cháu ngoại là Thiếu đế.,

Đoạt ngôi của Thiếu Đế, Lê quý Ly tự xưng lên làm vua, rồi dời đô từ Thăng Long vào Thanh Hóa,những trung thần của nhà Trần bị ông giết hàng loạt mà thâu tóm quyền lực,nhưng lại càng làm mất lòng dân.

Về luật pháp:

Ban hành vào cuối năm 1401 các luật lệ như thời còn nhà Trần.

Về kinh tế, việc phát hành tiền giấy thay tiền đồng,là tiếp nối chính sách đã được tổ chức ngay dưới thời nhà Trần vào năm 1396, Thông báo Hội Sao.Cứ một quan tiền đồng đổi lấy một quan hai tiền giấy. Và cấm tuyệt tiền đồng, Thể thức tiền giấy: Tờ 10 đồng được vẽ sóng, Tờ một tiền vẽ mây,tờ hai tiền vẽ rùa, tờ 3 tiền vẽ Lân,Tờ 5 tiền vẽ Phượng. Tờ một quan vẽ Rồng, Kẻ làm tiền giả bị tội chết,ruộng đất,tài sản bị tịch thu.

Tuy nhiên,việc dùng tiền giấy không mấy được ủng hộ của dân chúng vì có nhiều điều bất cập,giấy in và phẩm in không tinh xảo,nên đồng tiền dễ bị hư hại,dễ thấm nước và dễ bị nhòa.Đến năm 1403,tức sau 7 năm đồng tiền giấy vẫn không được ưa dùng,mà do nhà nước cấm tiền đồng,nên người dân lại dùng hình thức hàng đổi hàng,và như vậy coi như việc chuyển đổi tiền giấy, nhà Hồ bị coi như thất bại.

Phan huy Chú trong sách Lịch Triều hiến Chương loại chí đã bình như sau:

Tiền giấy chẳng qua là mãnh giấy vuông, phí tổn chỉ đáng 5,3 đồng tiền mà đổi lấy vật đáng 5,6 ngàn đồng của người ta,cố nhiên là không phải cái đạo đúng mức.Vả lại,người có tiến giấy cất giữ cũng dễ nát rách,mà kẻ làm giả mạo sinh ra không cùng,thực không phải là cách bình ổn vật giá mà lưu thông của cải vậy. Quý Ly không xét kỹ đến cái gốc lợi hại,chỉ ham chuộng cái danh sáng chế, để cho tiền của hàng hóa thường vẫn lưu thông tức là sinh ra ứ đọng khiến dân nghe thấy đã sợ,thêm mối xôn xao,thế có phải chế độ bình trị dâu!.

Năm 1400,đánh thuế thuyền buôn,định ba mức thượng,trung,hạ.Mức thượng đánh thuế mỗi thuyền 5 quan, mức trung 4 quan,mức hạ 3 quan. Năm 1402 định lại các lệ thuế và tô ruộng..Trước đây mỗi mẫu thu 3 thăng thóc,nay thu 5 thăng.Bãi dâu,trước thu mỗi mẫu 9 quan hoặc 7 quan tiền,nay thu hạng thượng đẳng mỗi mẫu 5 quan tiền giấy, hạng trung đẳng một mẫu 4 quan tiền giấy,hạng hạ đẳng 3 quan tiền giấy. Tiền nộp hằng năn của nam đinh trước thu 3 quan,nay chiếu theo số ruộng ,người nào chỉ có 5 sào ruộng thì dến 2,5 mẫu thu 2 quan 6 tiền.Từ 2 mẫu 6 trở lên thu 3 quan tiền. Đinh nam không có ruộng hay trẻ mồ côi,đàn bà góa dẫu có ruộng thì cũng không thu.

Như vậy,có thể nói việc đánh thuế dưới triều nhà Hồ có sự phân biệt ,phân loại rõ hơn so với thời trước đây. Năm 1401,lập kho thường binh dự trữ thóc để ổn định kinh tế.

Năm 1403, ban hành cân, thước,thăng,đấu,định giá tiền giấy,cho dân mua bán với nhau.

Về ngoại giao:

Quan hệ giữa nhà Hồ với nhà Minh và Chiêm Thành lúc bấy giờ khá phức tạp.Nhà Minh sau khi thống nhất Trung Quốc,năm 1368 bắt đầu có ý định dòm ngó xuống phương Nam. Trên mặt trận nầy nhà Hồ phải nhún nhường hết mức,thậm chí năm 1405 đã phải cắt 59 thôn ở Lộc Châu (Lạng Sơn) cho nhà Minh để mong tránh được họa binh đao,nhưng cuối cùng vẫn không tránh khỏi họa xâm lăng của nhà Minh vào năm 1406 và chiếm trọn vào năm 1407.

Đối với Chiêm Thành, quan hệ vẫn là giữa nước lớn (Đại Ngu) với nước nhỏ (Chiêm Thành) không tạo được sự thân thiết đồng minh như dưới triều đại nhà Trần. Từ 1400 – 1403 nhà Hồ đem quân tấn công Chiêm Thành liên tục, Chiêm Thành phải dâng đất Chiêm Động (Quảng Nam (Thăng Bình,) cà Cổ Lũy (Quảng Ngãi) nhà Hồ lập ra được 2 xứ Thăng Hoa,Tư Nghĩa.Nhưng về sau vẫn không giữ được.

Việc Thi Cử: năm 1404,Hồ Hán Thương định lại thể thức thi cử để chọn nhân tài: Cứ tháng 8 năm trước thi Hương,ai đỗ được thì miễn tuyển bổ,lại tháng 8 năm sau thi hội ai đỗ thì thi bổ thái học sinh.Rồi năm sau nữa lại bắt đầu thi Hương như hai năm trước. Phép thi phỏng theo lối văn tự ba trường của nhà Nguyên,nhưng chia làm 4 kỳ,lại có kỳ thi viết chữ và thi toán,thành ra 5 kỳ,Quân Nhân,người làm trò, kẻ phạm tội đều không được dự thi.

Thánh 8 năm 1400.Hồ quý Ly mở khoa thi Thái học sinh. Lấy được những người đỗ: Lưu thúc Kiệm. Nguyễn Trãi,Lý tử Tấn,Vũ mộng Nguyên,Hoàng Hiến,Nguyễn Thành, Nguyễn Nhữ Minh, (Nguyễn quang Minh) v…v gồm 20 người. Tháng 8 năm 1405 Hồ Hán Thương chỉ thị cho bộ Lễ thi chọn nhân tài đỗ được 170 người. Lấy Hồ Ngạn, Lê củng Thần sung làm thái học sinh lý hành; Cù xương Triều và 5 người khác sung Tư thiện đường học sinh.

Về Tôn Giáo: Nhà Hồ không tôn sùng đạo Phật như trước nữa,mà tôn trọng Nho Giáo.Việc nầy đã từ trước đời nhà Trần đã thực hiện, Vào Năm 1396 vua Trần Thuận Tông phải nghe theo lời Hồ quý Ly xuống chiếu sa thải các tăng đạo chưa đến 50 tuổi trở xuống,bắt phải hoàn tục. Lại thi những người thông hiểu kinh giáo,ai đỗ thì cho vào làm Đường đầu thủ, (Tăng Đường đầu mục) tri cung,tri quán,tri tự,còn lại thì cho làm kẻ hầu của người tu hành.

Về việc bố phòng:

Trước họa xâm lăng của nhà Minh,nhà Hồ phải lo củng cố đồn bót để phòng thủ mà chống giặc.

Lúc Hồ Quý Ly bức vua Trần dời đô vào Thanh Hóa,đặt Thăng Long,(hay Đại La thành) thành Đông Đô. Gọi thành mới xây ở núi An Tôn, thuộc Thanh Hóa là Tây Đô,và thành Tây Đô trở thành kinh đô của Đại Việt.

Nhà Hồ cho xây dựng đồn bót tại các vị trí hiểm yếu để phòng thủ ,nhất là các đồn Đốn Sơn,Yên Tôn,Hắc Khuyển,Xuân Đài,Trác Phong,Tiến sĩ, Kim Ngọ,Ngưu Ngọa,Voi là các nơi hiểm yếu nằm giữa hai con sông lớn là sông Mã và sông Bưởi.

Đóng thêm các tàu trung tải lương,Cổ Lâu Thuyền dùng trong việc tải lương. Phần bên trên có đường đi lại,cứ hai người chèo một mái chèo bên dưới..Các cửa Sông thông ra biển đều cho mức nhọn một đầu gỗ và đóng cọc nơi lòng sông để đề phòng thuyền giặc.

Tất cả các cửa sông trên toàn quốc đều cho đóng cọc nơi lòng sông,Các nơi xung yếu trên toàn quốc đều cho lập đồn lũy vững chắc như thành Đa Bang ở Ba Vì,và nhiều nơi khác. Cho đóng cọc để giữ ngã ba sông Cái (sông Hồng chảy qua thành phố Việt Trì) để giữ thủy quân giặc.

Trong các thành có thành Nhà Hồ là lớn nhất, có chu vi dài trên 3,5 km. Rộng khoảng 150 ha,chỉ xây dựng vỏn vẹn không quá ba tháng, coi ra làm khổ dân không ít.Do vậy nên có câu chuyện về nàng Bình Khương có chồng là dân phu bị chết khi xây dựng thành nhà Hồ, nàng đã đập đầu chết theo và được dân chúng lập đền thờ.Tất cả các sự kiện trên,cho thấy sự oán hận của người dân đối với các công trình xây dựng của nhà Hồ, hay nói rộng hơn là chính sách của nhà Hồ định ra.

Dù là Hồ Quý ly đã chọn Thanh Hóa làm kinh đô,nhưng khắp tỉnh Thanh Hóa không có một am,miếu nào dân chúng lập lên để thờ nhà Hồ. Trong khi có 70 đền thờ thờ Trần Khát Chân( vị tướng đã bị Hồ quý Ly giết). Ngay dưới chân thành nhà Hồ lại có ngôi miếu thờ người đốc công đã bị Hồ Quý Ly chém đầu vì để chậm tiến độ xây thành.Điều đó cho thấy thời đó dân chúng oán ghét nhà Hồ là bao nhiêu rồi.

Nhà Hồ đã huy động kiệt lực công súc từ dân chúng để xây dựng các công sự phòng chống quân Minh thật vững chắc,nhưng kết cuộc lại trái hẳn,nhà Hồ thất bại nhanh chóng trước quân Minh. Cho dù là Thành cao,hào sâu cũng không cứu vãn được một triều đại,khi đã mất lòng dân.

Quân nhà Minh chiếm Đại Việt:

Vào tháng 4 năm 1406 quân nhà Minh khởi sự tấn công vào Đại Việt,mượn cớ là đưa con cháu nhà Trần là Trần thiêm Bình về làm vua. Từ đấy cho mãi đến năm 1407,quân cả hai bên đánh nhau nhiều trận,nhưng quan nhà Hồ không chiến đấu nổi vì tinh thần không có vả lại quân đội không có tướng tài chỉ huy,ngay cả Hồ Nguyên Trừng cũng phải bó tay.Do vậy mà đến năm 1407,quân nhà Minh đã kết liễu số phận nhà Hồ.

Ngày 5 tháng 5 quân Minh đánh vào cửa biển Kỳ La (huyện Kỳ Anh,tỉnh Hà Tỉnh) Ngày 11 tháng 5 quân Minh đánh vào Vĩnh Ninh,bắt được Hồ Quý Ly ở bãi Chỉ Chỉ,Hồ Nguyên Trừng ở cửa biển Kỳ La,ngày 12 bắt được Hồ Hán Thương và Thái tử Nhuế ở núi Cao vọng (Kỳ Anh,Hà Tỉnh) Nhà hồ sụp đổ từ đây..

Trương Phụ,Mộc Thanh sai Liễu Thăng,Lỗ Lân,Trương Thăng,Du Nhượng,Lương Định, Thân Chí bắt giải Hồ Quý Ly cùng các con cháu và quan lại, các tướng nhà Hồ gồm: Hồ Đỗ, Nguyễn ngạn Quang,Lê cảnh Kỳ,Đoàn Bổng,Trần quang Mông,Phạm Lục Tài cùng ấn tín đến Kim Lăng. Tháng 8 Trương Phụ,Mộc Thạnh đem quân về tàu,Lữ Nghi Hoàng Phúc lưu lại trấn giữ đất Đại Việt.

Biết là nhà Hồ sụp đổ,nhân dân khắp nơi trên cả nước nỗi dậy khởi nghĩa chống quân Minh, gồm:

1)Trần Nguyệt Hồ; 2) Trần Ngỗi; 3) Phạm Chấn; 4) Phạm Tất Đại; 5) Phạm Ngọc; 6) Trần quý Khoáng; 7) Lê Ngã; 8) Trần Nguyên Thôi; 9) Trần nguyên Khang.

Và như vậy là triều đại nhà Hồ chỉ ngồi trên ngai vàng được vỏn vẹn chưa tới 7 năm từ 1400 đến 1407,Nhưng đã đưa đến cuộc thống trị của người Phương Bắc lâu dài cho người Việt mà mãi đến cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi thành công trên khoảng hơn 10 năm sau, thành lập nhà hậu Lê.

____________________________

Chung quanh triều đại nhà Hồ,không có câu chuyện nào được gọi là “bàn sử” có giá trị để ghi lại.Nhưng ngược lại,những quan lại dưới triều nhà Hồ bị nhà Minh bắt đưa về Yên kinh,trong số đó về sau, dưới triều Đại Minh Thành Tổ lại có những người Việt là những trí thức Việt bị bắt đưa sang,đã nỗi lên những người rất giỏi, được nổi tiếng trên đất Tàu và van xa ra thế giới,coi ra như thế người Việt chúng ta không đến nổi ngu đần,không phát triển được là bởi xã hội không tạo được môi trường kích thích,mỗi cá nhân bị thiếu phương tiện,không tạo được môi trường thuận lợi giúp con người vận dụng trí não.Những người được nổi tiếng trên đất Tàu vào thời nhà Minh gồm: Ông Nguyễn An là Kiến trúc sư xây dựng Tử Cấn Thành được nổi tiếng khắp thế giới, Ông Hồ Nguyên Trừng con trưởng của Hồ Quý Ly,là người sáng chế loại súng “thần công” tân tiến nhất thời bấy giờ,và là mẫu của các loại “Đại bác” về sau dưới thời đại văn minh ngày nay.Tôi xin ghi lại hai mẫu chuyện bên dưới để gọi là “BÀN SỬ” của triều đại hậu nhà Hồ,giúp mọi người hiểu về tính năng của người Việt ta.

  1. Nguyễn An – Kiến trúc sư người Việt thiết kế và xây dựng khu Tử Cấm Thành :

Nguyễn An (1381-1453) còn có tên là A-Lưu, là một thiên tài về khoa kiến trúc người Việt vào thời hậu Trần, đầu nhà Hồ,bị nhà Minh bắt đưa về Trung Quốc trong đợt mà nhà Hồ thất bại năm 1407.Trong số người mà lính nhà Minh bắt gồm nhiều thành phần,Hoàng tộc nhà Hồ,quan lại dưới triều nhà Hồ,nhất là các trí thức người Việt,do vậy ông Nguyễn An là một trong số trí thức ấy.

Theo ta biết,hầu hết những người trí thức bị bắt đưa sang Yên Kinh (Kinh đô cũ của nước Yên) nay là Bắc Kinh,đều bị nhà Minh cho “hoạn” để trở thành “Thái Giám” thành ra ông Nguyễn An cũng là một Thái Giám. Tuy nhiên, ông là một thiên tài về khoa kiến trúc của Người Việt. Ông nổi tiếng trong vai trò là Tổng công trình sư,(cả vẽ và chỉ đạo thi công) .

Nguyễn An (1381-1453) Là người gốc Việt,bị bắt đưa về Trung Quốc trong cuộc xâm lược của nhà Minh vào năm 1407, sau nầy trở thành Thái giám phục vụ trong cung đình.

Nguyễn An,ông được Minh Thành Tổ (Vĩnh Lạc) xem trọng về tài năng,ông phải tham gia trong việc thiết kế,kiêm giám sát trong công trình xây dựng Tử Cấm Thành và thành Bắc kinh.

Nguyễn An, khi còn ở Đại Việt dưới triều nhà Trần,Nguyễn An đã nỗi tiếng là thần đồng và là thiên tài về kiến trúc.Khi bị bắt đưa sang Trung Quốc ông đã phải trở thành một Thái Giám với cái tên là A Lưu.

Minh sử viết: Nguyễn An “ Phụng mệnh Minh Thành Tổ xây dựng thành trì,cung điện và phủ thự trăm ty ở Bắc kinh”. Cùng tham gia công trình nầy với ông,còn có 3 kiến trúc sư tài hoa khác là người Trung Hoa.

Thời gian cải tạo Tử Cấm Thành,Nguyễn An quản lý và giám sát hàng triệu người,bao gồm binh lính,công nhân và cả tù nhân,trong đó một số lớn là người Việt bị bắt khi nhà Minh xâm lăng nước Đại Ngu. (Đại Việt).

Trong công trình Tử cấm Thành,ông là người đóng vai chính trông nôm việc xây dựng.Ông cho đào hệ thống hào xây gạch để thoát nước,làm 9 cầu đá qua hào và được vua đặc biệt coi trọng, và ghi danh vào nhiều sử sách (bên Tàu).

Tử cấm Thành, từng là hoàng cung,là nơi cư trú mùa đông của các Hoàng Đế Trung Hoa bắt đầu từ thời nhà Minh (Vĩnh Lạc Đế) tới cuối đời nhà Thanh, từ 1420 đến 1924. Nơi đây vừa là nhà của các Hoàng Đế cùng gia đình,vừa là trung tâm nghi lễ và chính trị của chính phủ Trung Quốc trong suốt 500 năm.Tử cấm Thành được xây dựng từ năm 1406 đến năm 1420. Tử cấm thành gồm 980 tòa nhà,được cho là có 9,999 phòng và chiếm một diện tích là 72 ha (hơn 180 mẫu). Cung điện cũng chứng minh cho sự xa hoa của nơi mà các hoàng đế Trung Hoa từng sinh sống.

Không phụ sự ủy thác của vua Minh:

,Nguyễn An đã hoàn thành quần thể cung điện với hai cung (Càn Thanh, Khôn Ninh) ba điện (Phụng Thiên, Hoa cái, và Cẩn thân) năm phủ,sáu bộ và các công thự các ty. Ngoại thành cửa Chính dương,cửa Sùng Văn,cửa Tuyên Vũ,cửa Triệu Dương,cửa Phụ thành. Cửa Đông Trực,Tây Trực và cửa Đức Thắng.,Cửa Chính dương có tòa Chính lầu và hai tòa tả, hữu lầu.Các cửa khác đều có một chính lầu và một Nguyệt thanh Lầu. Cùng các công trình xây dựng ấy,ông còn đào một số hệ thống hào thoát nước,làm chín chiếc cầu đá bắt ngang qua hào dẫn vào thành.Các tường thành trước kia mới chỉ được xây gạch ở mặt ngoài,bên trong đắp đất,đến nay đã được cải tạo xây gạch cả mặt trong và mặt ngoài với hồ bằng cement.

Sau khi đánh bại nhà Hồ, nhà Minh đã bắt khoảng 17,000 người Việt đưa sang Trung Quốc,trong đó có Nguyễn An và Hồ Nguyên Trừng .

  1. Hồ Nguyên Trừng:

Hồ nguyên Trừng (1374 – 1446) được công nhận là một thiên tài quân sự và là người Việt đầu tiên sáng chế ra loại súng đại bác có sức công phá cực lớn,mang tên là “Súng thần cơ”.

Những điểm khẳng định tài năng vượt trội về kỷ thuật đúc súng của ông:

- Ông đã cải tiến kỹ thuật đúc súng,tạo ra các loại súng có nhiều kích cỡ,có sức sát thương cao hơn hẳn các loại vũ khí hỏa công đương thời.

Ông tổ nghề đúc súng: sau khi bị bắt sang Trung Quốc,tài năng của ông lớn đến mức,triều đình nhà Minh đã xử dụng ông trong việc chế tạo vũ khí,bằng cách cho ông giữ một chức quan lớn làm Thượng Thư trong triều.Người Trung Quốc sau nầy tôn thờ ông là một trong những vị thần bảo hộ của nghề đúc súng (gọi là thần cơ sứ).

Súng do ông chế tạo,thích hợp về cải tiến thuốc nổ cùng cách nạp đạn,giúp tăng tầm xa và độ chính xác,lúc giao tranh với quân nhà Hồ “quân Minh phải kinh hồn bạc vía” với các loại súng thần công nhỏ, lớn nầy.

Có một điều mà chúng ta cần chú ý đặc biệt,dù có vũ khí hiện đại bao nhiêu,nhà Hồ vẫn thất bại ê chề bởi lý do: là không được sự ủng hộ của người dân.Tức là nhà Hồ đã bị mất lòng dân đến độ không còn cứu vãn được.

Hồ nguyên Trừng là một thiên tài,ngoài thiên tài quân sự là chuyên gia đúc súng Thần Công, ông còn là nhà văn lỗi lạc,nổi tiếng nhất trong tác phẩm “Nam Ông Mộng Lục”.

Thời xưa,người Trung Quốc khi làm lễ tế binh khí,trước hết phải tế một người Việt Nam. Trong tác phẩm “Vân Đài Loại Ngữ” mục “Vựng điển loại” nhà bác học Lê Quý Đôn có viết: “Đời Thành Tổ nhà Minh (1403-1424) đánh nước Giao chỉ được phép đúc thần cơ sang pháo (các súng máy đủ cỡ) lúc bấy giờ mới đặt ra đội súng thần cơ” Sách thông ký nói : “ Sau khi nam phạt (đánh về phía nam).bắt được Hồ quý Ly,biết được phép chế thần cơ sang bắn bằng tên lửa thì lập ra Thần cơ doanh”; Sách Cô thụ biểu đàm nói: “ Nhà Minh cho Lê Trừng,là con Quý Ly,làm bộ hộ Thượng thư.Trừng khéo chế ra thần sang cho triều đình,cho nên nay tế binh khí đều phải tế Trừng”; Sách Thù vực chu tư lục chép: “Anh Hồ Hán Thương là Lê Trừng,tìm ra phép chế thần sang,Vua hạ chiếu cho Trừng ra làm quan”.

Căn cứ vào các thư tịch cổ của Trung Quốc,Lê quý Đôn kết luận : “ Ấy là binh khí nước Nam truyền sang,thực từ Lê Trừng trước” (SĐD, Phạm Vũ,Lê Hiền dịch,NXB Miền Nam 1973,TR 238-239) Như vậy, không chỉ là người đầu tiên đúc súng Thần Cơ ở Việt Nam mà Lê Trừng là người “truyền bá” chế tạo súng sang Trung Quốc..Và từ đó nhà Minh mới dùng súng và lập ra đội súng thần cơ trong quân đội. Riêng câu “ cho nên nay tế binh khí đều phải tế Trừng” dù gọi trơ trọi rằng “Trừng”,nhưng nhà Minh phải thừa nhận đó là ông tổ của nghề đúc súng “Thần Cơ”.

Lê Trừng tức là Hồ nguyên Trừng, là con trai trưởng của Hồ Quý Ly (Lê quý Ly) tổ tiên Hồ quý Ly vốn họ Hồ,người Triết Giang (miền Nam Trung Quốc) thời Hậu Hán sang ở Diễn Châu. Đến đời cháu thứ 12 dời sang ở Hương Đại Lải,phủ Thanh Hóa làm con nuôi Tuyên Úy Lê Huấn nên mới đổi theo họ Lê.

Nhân tháng 4 năm 1406,nhà Minh phái một đội quân đưa Trần Thiêm Bình đang sống lưu vong ở Trung Quốc về nước để khôi phục nhà Trần,làm một triều đình bù nhìn, đó là cớ để nhà Minh xâm lăng nước ta. Nhà Hồ bắt buộc phải kháng chiến chống lại quân Minh. Hồ Hán Thương cho họp tất cả quần thần để tìm hiểu ý kiến là nên đánh hay nên hòa. Hồ nguyên Trừng đứng dậy,tay nắm chặt lại mà quả quyết “Thần không sợ đánh,chỉ sợ lòng dân không theo” Hồ quý Ly lúc đó cũng có mặt,nghe được lời nó khẳng khái ấy của Nguyên Trừng,cảm động lắm,bèn ban tặng cho ông một cái hộp trầu bằng bàng.

Chính câu nói nầy của Nguyên Trừng đã cứu vớt lại uy thế của nhà Hồ trong sử sách. Bởi lẽ nhà Hồ soán ngôi nhà Trần,các nhà viết sử đời sau như Phan huy Chú chỉ gọi “Nhuận Hồ” ( nghĩa là “Thừa”) chứ không phải là lên ngôi chính thống.Sử thần Ngô sĩ Liên bình luận xác đáng: “ Mệnh trời là ở lòng dân. Câu nói của Trừng hiểu được điều cốt yếu đó, không vì cớ họ Hồ mà bỏ câu nó của Trừng được”.

Cuộc chiến xảy ra,lấy cớ là hộ tống Trần Thiêm Bình về nước làm vua, nhưng khi đưa Hồ Thiêm Bình vừa đến Biên Giới nước ta ,thì quân nhà Hồ bất ngờ tấn công,vây chặt.Bí thế Hoàng Trung tướng giặc Minh liền bỏ thí Trần Thiêm Bình bằng cách giao Thiêm Bình cho quân nhà Hồ. Dù mất con bài chính trị lợi hại nầy,nhưng với dã tâm bành trướng chiếm đất Đại Việt,giặc Minh đã xua quân sang tấn công vào nước ta từ ngày mồng 2 tháng chạp năm 1406,và rồi từ đó quân nhà Minh đã tràn ra tạo nhiều mặt trận,quân nhà Hồ cũng chiến đấu chống lại nhưng không giải quyết được dưới thế quá mạnh của quân giặc, cuộc chiến kéo dài đến gân cuối 1407 thì quân nhà Minh đã thôn tính toàn bộ nước Đại Ngu ( Đại Việt). Và bắt đưa về Tàu gồm toàn bộ gia đình Hồ Quý Ly,những người trong hoàng tộc,quan lại thuộc triều đình,cái quan trọng là họ lựa bắt rất rất nhiều trí thức của nước ta,tất cả tù binh đưa sang Tàu vào trận nầy là 17.000 người.Dĩ nhiên trong số đó có Hồ Nguyên Trừng,người con trưởng của Hồ Quý Ly,ông không chỉ giỏi về nghề đúc súng mà còn rất giỏi về văn chương.

Ông đã để lại cho đời tác phẩm “ NAM ÔNG MỘNG LỤC”, nghĩa là ghi chép các truyện trong mộng của ông già phương Nam,Nam Ông là tên hiệu của Hồ nguyên Trừng,khi ông sống ở Trung Quốc.

Nam Ông Mộng Lục gồm: 31 thiên truyện,kể về các nhân vật nước ta thời Lý,Trần,Hồ.Trong tác phẩm nầy có lời tựa đề ở đầu sách của Hồ Huỳnh,viên quan thượng thư Bộ Lễ,đồng liêu với Hồ Nguyên Trừng viết năm 1438 và bài hậu tự của Tống Chương,một người Việt Nam làm quan dưới triều Minh viết năm 1442. Sách Nam Ông Mộng Lục được in nhiều trong sách cổ Trung Quốc như Kỷ lục vựng biên,ngũ triều tiểu thuyết,Hàn lâm lai bí kiếp,Trùng thư tập thành sơ biên. Ở Việt Nam Nam Ông Mộng Lục có in trong bộ Hàm Phân Lâu Bí kíp.

Trong bài tựa Nam Ông Mộng Lục,Hồ Nguyên Trừng nói rõ, ông viết cuốn sách nầy,cũng như ý nghĩa của tên gọi cuốn sách: “Sách luận ngữ thường nói: trong cái xóm mười nhà, thế nào cũng có người trung tín như Khâu ( tức Khổng Tử) này, Huống hồ nhân vật đất Nam Giao (chỉ Việt Nam Ta từ xưa đã đông đúc,lẽ nào cho là nơi hẻo lánh mà không có người giỏi. Trong lời nói, việc làm của Tiền Nhân,trong tài năng có nhiều điều khả thủ. Đến khi binh lửa,sách vở bị cháy sạch,nên những điều đó không ai còn nghe thấy nói thêm nữa,há chẳng đáng tiếc ao?.

Qua bài nầy ta thấy Hồ Nguyên Trừng không ít nỗi niềm tâm sự của một người phải sống xa quê hương,đất nước,chỉ còn biết hồi tưởng về những chuyện xưa cốt là biểu dương những việc tốt của người xưa,nói lên cái cốt cách của người sĩ phu quân tử là phong cách của người Việt ta vậy.

Nam Ông Mộng lục ngoài giá trị về lịch sử còn có giá trị văn học., qua nhận xét của Thượng Thư Hồ Huỳnh Bộ Lễ dưới triều nhà Hồ đã viết: Văn ông ngắn gọn và nghiêm trang,cẩn mật cao nhã mà uyên bác,theo tình kể việc,theo nghĩa đặt lời vừa thú vị vừa thiết thực…. ca ngợi sự tiết nghĩa bừng bừng cảm khái,có thể uốn nắn phong tục,biểu dương trước thuật siêu thoát,thanh tân,có thể nuôi dưỡng tinh thần.

Qua lời bình trên của Thượng Thư Hồ Huỳnh,cho ta thấy Hồ Nguyên Trừng,không những là một Thiết kế sư giỏi về quân sự,trong nghề chế đúc súng Thần công, mà ông còn là một nhà văn rất giỏi.

Văn học của ông chúng ta không biết được nhiều,nhưng công trình đúc súng thần công của ông không những đã dùng trong thời Minh ở Trung Quốc mà sau nầy các kỹ sư về ngành súng đạn, đã phỏng theo mà làm ra nhiều loại súng Thần công bắn đạn sắt,còn nhan nhãn trong các công trình trưng bày vũ khí cổ trên khắp thế giới. Không những thế mà còn có các loại súng đại bác tối tấn dùng trong chiến tranh hiện đại bây giờ đó sao!.

Là bi kịch dưới triều đại nhà Hồ ,dù Hồ Quý Ly dùng những biện pháp cải cách xuất phát từ mục đích tích cực, thực hiện với quyết tâm cao bởi tài năng xuất chúng,phi thường của ông,nhưng sự canh tân ấy chưa đáp ứng đúng nhu cầu,vì chưa đúng thời điểm, khi mà lòng dân chưa thu phục được “ Đẩy thuyền là nước,lật thuyền cũng là nước” dân ví như nước,nhà Hồ vì không thuận lòng dân nên phải chút lấy cái thất bại trong công cuộc giữ nước.Mặc dầu dưới triều đại nhà Hồ đã có sự phát minh ra loại súng thần công lợi hại, đã áp dụng trong công cuộc kháng chiến chống lại nhà Minh,và sau nầy được áp dụng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi ròng rã 10 năm.

Một điều khá đắng cay, khi cả gia đình nhà Hồ quý Ly bị giải về Kim Lăng ( Nam Kinh, Trung Quốc) vua Minh không công nhận gia đình họ Hồ là giòng giỏi Ngu Thuấn,buộc phải đổi họ sang một họ khác,nên Hồ Nguyên Trừng phải đổi là Lê Trừng. Những năm tháng bị lưu đày, bị uất ức mặc dầu trên phương diện cá nhân,Hồ nguyên Trừng được vua Minh ưu đãi cho giữ chức quan cao, nhưng có thể là tâm hồn không bao giờ được thỏa mái. Đó là lý do ông dồn hết tâm huyết để viết,tạo nên tác phẩm Nam Ông Mộng Lục. Đến nay,tác phẩm của ông đã góp phần vào văn học sử đời Lý,Trần,Hồ, và cũng giúp thế hệ hậu bối chúng ta hiểu biết thêm về lịch sử nước ta vào giai đoạn nầy. Một điều rất tiếc khác nữa,là tất cả kỹ thuật làm súng Thần Cơ của ông không thấy ông viết lại,hay là ông đã có viết mà bị nhà Minh cướp đoạt cả rồi chăng?.Các kỹ sư về súng đạn các đời sau trên khắp thế giới họ chỉ nghiên cứu từ mẫu mã kiểu súng của ông,họ sáng chế ra và cải thiện để hoàn chỉnh các loại Đại Bác tân tiến ngày nay, dùng trong chiến tranh có thể nó bắt nguồn từ cách sáng chế của ông.Người Việt ta cũng nhận được một cái vinh dự là một dân tộc có cái đầu không phải là ngu muội lắm,chỉ rất tiếc là xã hội lại giam cái đầu của họ lại vậy.

Ghi lại hai câu chuyện về ông Nguyễn An kiến trúc sư,và Ông Hồ Nguyên Trừng kỷ sư về súng đạn là những nhân tài người Việt vào thế kỷ thứ XV, con cháu đời sau nên suy nghiệm,mà xin kết thúc câu chuyện gọi là “Bàn sử” vào giai đoạn Hậu nhà Hồ tại đây ,/.

(Ngày 4 tháng 3 năm 2026, Còn tiếp)

Mẫn.Sở dĩ dòng họ Lý Dương Côn Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay tại Nam Hàn là nhờ người anh trai của Tể Tướng Lý Nghĩa Mẫn cùng gia đình đều được thoát nạn.Dựa vào thời gian mà tính,Lý Nghĩa Mẫn có lẽ là con trai của Hoàng Tử Lý Dương Côn. (dựa theo tài liệu từ BS Trần Đại Sĩ)

II.) Cuộc vượt biên thứ hai của Hoàng Tử Lý Long Tường cuối dời nhà Lý 1226.

Do biến động từ tình hình xã hội vào cuối triều đại nhà Lý, Lý Chiêu Hoàng mất ngôi chuyển sang cho nhà Trần. Dưới bà tay sắt máu của Thái sư Trần Thủ Độ đã dùng kế tiêu diệt nhà Ly,khai sáng cho nhà Trần,đó là lý do đưa đến cuộc vượt biên của Hoàng Tử Lý Long Tường vào năm26.

.