Có nhiều lần gặp một số anh em bạn mới quen,họ hỏi tôi về quê quán của mình, tôi là người chân thật nên luôn trả lời họ một cách chơn chất thật thà, tôi nói: “tôi là dân Quảng Nam” các ông ơi! nhưng lúc họ nghe tôi nói đến cái địa danh Quảng Nam thì họ lại mỉm cười, rồi có người nhại mà nói lại với tôi rằng: à ra…! anh là dân “Quảng Nôm” rồi cùng cười thôi,bởi vì tôi đã quen với cái cách nói nhại đó.Nhưng mà tôi không lượn được cái tỉ lệ dân ở xứ Quảng Nam mình ,giọng nói của họ nặng đến nổi khi nói chữ “NAM” nghe thành như chữ “NÔM” là bao nhiêu phần trăm ? nhưng những người từ khắp nơi trên các vùng đất nước Việt, họ đều biết cách nói nhại chữ “Quảng Nam”,thành chữ “Quảng Nôm”để mà chọc cười, mỗi khi họ có dịp tiếp xúc với người Quảng Nam chúng ta.Thực tình thì không một ai trong số họ có ác ý gì cả, họ chỉ muốn diễu một chút để mà chọc cười cho vui vậy thôi. Tuy nhiên,trong thâm ý những người muốn nhại tiếng Quảng Nam để chọc cười như vậy, trong tâm họ vẫn luôn có sự hiểu biết và rất nể phục về cái xứ đất,cũng như về con người Quảng Nam,mỗi lần có dịp họ nhắc đến cái địa danh nầy. Tinh ý một chút thì chúng ta sẽ nhận thấy điều đó nơi họ một cách khá rõ, để rồi cũng từ đó tạo cho chúng ta cái suy ngẫm mà phải tự hỏi lại mình: là tại làm sao?
Cái tại làm sao, khi mọi người nói đến xứ đất Quảng Nam,thì tâm họ lại có một số suy nghĩ ẩn bên trong, là sự nể phục về cái xứ đất cùng cho cả con người của xứ đất Quảng Nam, như vậy ắt phải có một số yếu tố nào đó đặc biệt tại cái xứ đất Quảng Nam, nên nhắc chúng ta phải cần chú ý đến. Đúng vậy,mỗi lần nghe một người quen nhắc đến danh xưng Quảng Nam, như trong tâm người đó có ẩn chứa một sự nể phục khá rõ khi họ nhắc đến cái địa danh nầy,đồng thời bên cạnh cái hảo ý đó, thì luôn kèm theo cái ý muốn chọc cười bằng cách nói nhại chữ “nam” thành chữ “nôm” của họ.Câu chuyện khởi nguyên chỉ đơn giản là như thế nầy: thứ nhất xứ sở ấy được tôn vinh là một vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, tuy nhiên, bên cạnh đó họ cũng đang đè nén sự tức cười, bởi nhớ đến cái giọng nói của người dân xứ Quảng Nam mình, nó cứng ngắc,mỗi khi nói chữ “Nam” nghe thành như chữ “Nôm”,làm cho người nghe cảm thấy lạ lẫm. Đúng vậy, cái âm từ giọng nói của người Quảng Nam quá nặng,khiến đôi lúc người nghe khó mà hiểu kịp,để rồi cũng bởi từ đó, những người chung quanh chúng ta mới nảy ra cái ý muốn nhại,để chọc những người quen biết là dân Quảng Nam ta, tạo một chút không khí vui nhộn trong một đôi phút,mỗi khi có dịp gặp gỡ những người dân xứ Quảng Nam mình.
Kiểm lại,không phải một số ít người biết cách nói nhại để chọc kiểu đó đâu,mà hầu như trên khắp nước số người biết cách nói nhại tiếng Quảng Nam rất là đông,để rồi lâu ngày câu chuyện nói nhại tiếng người Quảng Nam lại trở thành phổ thông đối với mọi người,và cứ như vậy theo thời gian chuyện nhại tiếng người Quảng Nam lại trở thành một thói quen, từ thói quen ấy đã trở thành “giai thoại” để mọi người dùng chọc cười, mỗi khi có dịp tiếp xúc với người Quảng nam chúng ta.
Không thể chối cải vào đâu được,có lẽ hầu hết người dân Quảng nam sống ở quê, tiếng nói của họ có cái âm khá nặng là như vậy: ngay cả người Quảng Nam như chúng ta,chúng ta vẫn nghe cái âm giọng của người dân xứ mình nó khá là lạ,ví như cái âm của chữ “A “ họ nói gần giống như cái âm của chữ “Ô” làm cho người nghe lấy làm rất lạ. Chúng tôi sống bên ngoài lâu ngày,nên tiếng nói nhẹ nhàn hơn, giọng cũng khá chuẩn mỗi khi phát ra thành tiếng, lúc có dịp nói về địa danh quê mình “Quảng Nam”,thì giọng nói cũng được nhẹ nhàn và rõ ràng hơn .Còn đa phần bà con sống ở quê,giọng của họ nói có lẽ khá cứng nên mới tạo cái âm “ A” nghe thành như cái âm “Ô”,làm cho nhiều người khác xứ nghe quá lạ.Cũng bởi từ đó mới đẻ ra cái chuyện nhại chữ “A” thành chữ “Ô” NAM thành NÔM để mà chọc cười với nhau một đôi chút cho vui.Tuy nhiên, cũng chỉ trong khuông khổ muốn chọc nhau cho vui vậy thôi, chứ không một ai có ác ý gì trong việc nhại tiếng như vậy. Nhưng cái âm nhại để chọc cười ấy, nhiều người dùng riết,nhiều người nghe riết lâu ngày nó lại trở thành quen, để rồi biến nó trở thành như một “Giai thoại”. Nhưng có một điều cần lưu ý, trong tâm của những người muốn nói nhại tiếng để chọc cười ấy, họ luôn ẩn chứa một hảo ý, làm cho ta phải suy ngẫm phải đặt lại vấn đề với câu hỏi “tại sao”? Đó là một việc cần được chúng ta chú ý quan tâm,tìm hiểu, phân tích, giải mã để làm cho nó minh bạch về cả hai cái ý mà chúng ta đã nhìn thấy bên trên.
1) Tìm hiểu nguyên nhân cấu tạo thành cái âm giọng của người dân Quảng Nam.
Nếu có cơ hội mọi người trong chúng ta cũng nên tìm hiểu về cái âm giọng cứng ngắt,đã trở thành như một sự kiện đặc biệt đối với người dân xứ Quảng Nam,do vậy chúng ta cần phải tìm hiểu để hiểu cho đúng về nó.Trước hết hãy tìm hiểu những yếu tố nào đã tạo nên cái chất giọng riêng biệt tạo thành cái âm tiết trong tiếng nói mà cái giọng quá cứng của người dân Quảng Nam.Nhìn một cách trên bình diện chung, không những dân xứ Quảng Nam chúng ta, mà hầu như khắp nơi trên toàn đất nước Việt Nam,mỗi vùng đều có một loại âm tiết đặc trưng riêng biệt của từng vùng,ví như tôi, thì không hiểu được tiếng nói của những người dân quê sống nơi miền trung du thuộc xã Triệu Phong tỉnh Quảng Trị,mỗi lần tiếp chuyện với những người thuộc vùng nầy,phải có người giải thích (thông dịch).Anh Nguyễn Thanh Dân cháu nội cụ Tiểu La, thời gian thi hành nghĩa vụ quân dịch,đóng quân tại vùng nầy khá lâu,bên cạnh cái năng khiếu sẵn có, anh nhại tiếng người dân vùng nầy giống nguyên.Tuy nhiên,tiếng nói riêng biệt của từng vùng thì đều có, nhưng nó chỉ có trong một phạm vi hẹp mà thôi. Riêng về xứ đất Quảng Nam là vùng đất có tính chất đặc biệt hơn, trên bình diện rộng đối với người dân khắp cả vùng Quảng Nam,do vậy được nhiều người chú ý đến nhiều hơn,đây là một vấn đề cần được chúng ta xem xét lại,phân tích để hiểu sâu hơn.
Trước tiên,như chúng ta đã biết sự cấu tạo nên vùng đất Quảng Nam,phải qua nhiều thời kỳ mới hình thành được một cách trọn vẹn.Trước tiên như mọi người chúng ta đều biết, nguyên ủy vùng đất Quảng Nam đều hoàn toàn thuộc về lãnh thổ của nước Champa, trong nhiều trăm năm trước, lúc biên giới của nước nầy về phía bắc là biên giới phía bắc của tỉnh Quảng Bình (Đèo Ngang), để rồi sau đó lãnh thổ vương quốc Champa cứ phải theo sự biến thiên của lịch sử,lãnh thổ bị chia cắt để sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt nhiều lần,học lịch sử chúng ta đều thấy rõ điều đó.Ở đây chúng ta chỉ muốn xem xét đơn giản hơn một chút, chỉ trong phạm vi lãnh thổ Quảng Nam vào thời gian sau nầy mà thôi. Tuy nhiên, lãnh thổ Quảng Nam cũng lại phải chia đôi trong hai giai đoạn: thứ nhất từ bắc sông Thu Bồn (Bà Rén) trở ra đến phía nam Đèo Hải Vân, được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt năm 1306,được gọi dưới tên là Hóa Châu. Về phía nam sông Thu Bồn trở vào chỉ thuộc về Đại Việt (Đại Ngu) vào thời nhà Hồ hồi năm 1402,nhưng chỉ mới được 5 năm tức đến năm 1407,rồi sau đó lại bị hoàn trả về cho vương quốc Champa, để chịu sự quản lý của vua Champa khi nhà Hồ mất ngôi, và cho đến năm 1471 mới thực sự thuộc về Đại Việt một cách vĩnh viễn, dưới triều đại của vua Lê Thánh Tông lúc Bình Chiêm.Như vậy vùng đất nam Quảng Nam lại phải trải qua 164 năm (1306- 1471) bị gián đoạn sự cai trị của người Việt. Một trăm sáu mươi tư tức gần 170 năm,đó là một khoảng thời gian khá dài, đã tạo nên sự khác biệt giữa dân chúng hai vùng Nam và Bắc Quảng Nam,để rồi ta nhận thấy giọng nói của người dân vùng Nam Quảng nam gồm các quận Quế Sơn,Thăng Bình, Tiên Phước, Hiệp Đức, Tam Kỳ, Lý Tín,giọng nói các nơi nầy khác biệt một cách rõ rệt với người dân miền Bắc Quảng Nam gồm:Hòa Vang,Đại Lộc,Điện Bàn,Duy Xuyên,Hội An mà nhất là thành phố Đà Nẵng.
Sự khác biệt về giọng nói giữa người dân hai miền trên lãnh thổ Quảng Nam,ta có thể nói nó đã tạo nên bởi từ 170 năm bị chia cắt trên,cho đến năm 1471 khi đất Đại Việt được kéo dài đến tỉnh Bình Định,lúc vua Lê Thánh Tông phân chia lại khu vực hành chánh,thì phía Bắc Quảng Nam từ sông Thu Bồn trở ra chân đèo Hải Vân vẫn còn thuộc vào Hóa Châu (Thuận Hóa), cho mãi đến năm 1604, chúa Nguyễn Hoàng mới tách vùng đất bắc Quảng Nam,từ chân đèo Hải Vân trở vào đến sông Thu Bồn (sông Bà Rén) thuộc Hóa Châu sáp nhập chung với vùng đất Nam Quảng Nam, để tạo nên lãnh thổ xứ Quảng Nam một cách toàn vẹn.Từ đó ta thấy,ngay trên lãnh thổ của tỉnh Quảng Nam,tiếng nói của dân chúng giữa hai miền đã có sự khác biệt nhau khá xa.Do vậy âm tiết của tiếng nói người Quảng nam nó có những điều khá đặc biệt,điều ấy không xa lạ lắm với chúng ta, tuy nhiên,muốn hiểu rõ về âm tiết từ giọng nói của người Quảng Nam,chúng ta phải tìm hiểu, phân tích nguyên nhân sự cấu tạo nên nó.
Trước tiên ta nhận thấy Quảng Nam là vùng đất đầu tiên là nơi tiếp nhận người di dân từ các vùng miền ngoài đi vào, bắt đầu từ thế kỷ thứ 15 cho đến thế kỷ thứ 18,những di dân phần lớn đến từ vùng Thanh,Nghệ,Tỉnh và ngay cả đến những người từ vùng ngoài xa tít là Hải Dương cũng đã có mặt.Nhiều người đến từ nhiều vùng miền khác nhau như vậy,nhưng lúc đã đến được thì mọi người đều phải chung cùng trong cuộc sống với nhau.Nhưng mỗi người lại mang tiếng nói theo âm giọng thổ ngữ thuộc tiếng mẹ đẻ tại xứ sở mình sinh ra, để rồi sự chung đụng ấy,cái âm giọng ấy hòa chung lại với nhau mà tạo thành một âm tiết đặc trưng, tạo nên giọng nói riêng biệt của người Quảng Nam như chúng ta đã nghe thấy, cái âm tiết đặc biệt ấy,kể cả người xứ Bắc kỳ hay xứ Nam kỳ hiện nay đều không có được. Một dẫn chứng: người từ nhiều địa phương khác nói với nguyên âm “A”,thì người Quảng Nam lại phát âm thành như “oa” ví như: ba,má,gà,cá.Người Quảng nam phát âm nghe như boa,móa.gòa,cóa.Một nguyên âm khác nữa“ ă” thành “e”,ví dụ như câu: ăn không ăn,tắt đèn đi ngủ,hoặc chó cắn nhăn răng,thì được người Quảng nam nói: eng không eng téc đèng đi ngủ,chó céng nheng reng v…v.Sự kiện trên cũng đã được PGS-TS Hoa Pham và GS-TS Nguyễn Văn Hiệp,Viện trưởng viện Ngôn ngữ học Viện Hàn Lâm khoa học Hà Nội đã dẫn chứng và phân tích.
Tuy nhiên, theo tôi thì quí vị nầy lại bỏ thiếu mất đi một yếu tố rất quan trọng, mà yếu tố ấy đã góp phần không nhỏ trong việc cấu tạo nên âm giọng của người Quảng Nam, ngay từ buổi bình minh vào thuở ban sơ lúc mới hình thành nên xứ đất Quảng Nam.Chính nó đã tạo nên một loại tiếng có âm tiết cứng đặc biệt như vậy,đó là sự pha trộn giữa tiếng nhiều người đến từ nhiều miền ngoài, hòa cùng vào giọng theo thổ âm của người bản địa là dân Champa.Vì lẽ người Việt từ miền ngoài vào thời buổi ấy,họ chỉ đến vùng đất mới thâu nhận di dân đầu tiên về phương Nam,những di dân nầy đi vào đều toàn là nam giới,sau đó việc cấu tạo để thành lập nên gia đình lúc bấy giờ, là sự kết hợp giữa nam-nữ người Việt và người Chăm,trong lúc đó người Chăm phải học để nói tiếng Việt, và người Việt phải học để nói tiếng Champa vào khoảng thời gian từ 1407 đến 1471 dưới sự cai trị của vương quyền Champa, từ đó mới tạo nên một loại ngôn ngữ pha trộn, góp phần tích cực tạo nên cái âm giọng của người Quảng nam sau nầy mà chúng ta quen nghe thấy.Điều nầy có thể là rất đúng, không những tôi mà cả Giáo sư Trần Quốc Vượng cũng đã xác định trường hợp trên, trong một đoạn mà ông đã viết dưới đây “Thì các cụ vào đây đâu có đem vợ con đi được,nên lấy vợ Chàm rồi sinh con đẻ cái là chuyện hết sức bình thường.Vấn đề là các bà mẹ Chăm nói tiếng Việt ấy đã truyền lại cho con cái mình cái giọng của người Chăm nói tiếng Việt.Cái giọng đó chính là giọng Quảng Nôm nhà cậu”. Một bằng chứng khác nữa gợi cho ta hình ảnh trai Việt lấy gái Chàm thì nhiều lắm. Hình ảnh mà học giả Nguyễn văn Xuân hay nói về ông Ba Bị của vùng Quảng Bình,Quảng Trị. Hồi đó các cụ nhà ta đi vào Nam chỉ mang theo một đứa con trai,vợ con đều phải để lại quê nhà, vì vậy một người đi gồm ba bị. “Một bị cõng con,một bị lương thực và một bị quần áo”đó là ba bị.Hình ảnh những đoàn người đi vào Nam khắc khổ và lặng lẽ ấy, đủ sức để dọa bất cứ đứa trẻ con nào khóc dai.Sau nầy khi khai mở lãnh thổ tới miền đất Nam Bộ,câu chuyện ông “ba bị”vẫn được truyền tụng tại xứ đất Gò Công,nhưng ông ba bị nầy lại khác với ông ba bị trên của học giả Nguyễn văn Xuân,ông ba bị tại xứ Gò Công là do ông Phạm Đăng Long, cha của ông Phạm đăng Hưng thân sinh bà Từ Dụ),ông Phạm đăng Long thường thì mang ba bị là ba loại hạt giống đến từng nhà những người dân mới đến sau, giúp họ hạt giống để trồng tỉa, làm mùa,tạo điều kiện tốt cho gia đình khi chân ướt chân ráo mới vừa vào xứ nầy. (Ông Phạm Đăng Hưng là thân sinh của bà Từ Dụ mẹ của vua Tự Đức).
Người đàn ngoài vào đây, những đứa con trai ấy lớn lên lấy ai làm vợ, nếu không phải là các cô con gái Chàm? Trong tác phẩm có 500 năm như thế của tác giả Hồ Trung Tú, cũng đã có mô tả như vậy. Năm 1403 dưới triều nhà Hồ,Hồ Hán Thương đã phát động nhiều đợt di dân vào vùng Quảng Nam lập nghiệp,Triều đình đã tổ chức cho thuyền chở phụ nữ vào theo,nhưng giữa đường bị bão đánh chìm, bảo tố đã cướp mất đi sinh mạng của nhiều ngàn người phụ nữ miền Bắc,đó là một bằng chứng.Có thể các nhà ngôn ngữ học thuộc viện Hàn Lâm Hà Nội đã bỏ sót yếu tố quan trọng nầy, không đưa vào dữ kiện nghiên cứu, do vậy mà không hoàn chỉnh được về loại hình thuộc tiếng có âm giọng đặc biệt của người dân Quảng Nam.Tôi xin ghi thêm vào yếu tố nầy vì đây là yếu tố rất quan trọng mà giáo sư Vượng cùng học giả Nguyễn văn Xuân cũng đã nghiên cứu mà xác nhận sự kiện trên.
Theo ý tôi, yếu tố chung đụng giữa người Việt và người Chăm đó mới chính là yếu tố quan trọng trong việc cấu thành âm tiết chất giọng của người Quảng Nam “vừa nặng mà vừa cứng” (cái mà nhiều người muốn nhại để chọc cười). Tiết mục nầy mới chỉ là một trong nhiều yếu tố đặc biệt của con người nơi xứ đất Quảng Nam chúng ta, yếu tố trên mới chỉ là yếu tố cơ bản về tiếng nói với cái giọng “cứng”. Nhưng sự hình thành nên tiếng nói của người dân vùng Quảng Nam sau nầy,nó còn rất nhiều yếu tố khác thêm vào không kém phần quan trọng mới tạo nên giọng nói ấy. Chúng ta nên xem xét thêm về các yếu tố phụ nơi từng vùng đã phụ vào để cấu tạo nên giọng nói đặc biệt của người dân sống trên đất Quảng Nam,thực tế nó lại được hình thành nhiều vùng có thể tạm gọi là giống hình da beo,người miền nguồn,người miền biển,người vùng ngoài,người vùng trong.Ví như ở quê tôi chỉ cách nhau một ngọn núi hẹp (núi Dàn) mà người bên kia làng Thạnh Mỹ thì gọi mày,tao; bên nầy núi là dân Thanh ly thì gọi mi, tau .Tuy vậy,vùng đất Quảng nam luôn vẫn được hầu hết người đời đánh giá cao là vì thuộc vùng đất “Địa linh nhân Kiệt”.
2) Tìm hiểu về danh xưng Quảng Nam xuất hiện vào khoảng thời gian nào?
Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu về hai từ “Quảng” và “Nam” một khi hai từ nầy kết hợp lại đã tạo thành danh xưng chính thức của một vùng đất với tên là Quảng Nam, vùng đất ấy lại phải trải qua một thời gian dài từ năm 1306 cho đến năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng, thì hai từ Quảng Nam mới chính thức trở thành một tỉnh mà mang tên là Quảng Nam.Như vậy hai từ Quảng Nam mới chính thức trở thành tên một tỉnh riêng biệt kể từ đó.
Nghĩa của hai từ “Quảng và “Nam” được các nhà ngôn ngữ học giải thích như sau: “Quảng” là sự mở rộng ra , “Nam” là về phương nam. Với ý nghĩa trên,danh xưng Quảng Nam lại phải trải qua những giai đoạn lịch sử theo sự thăng trầm giữa hai nước Việt - Chàm qua nhiều trăm năm như sau:
Hai từ Quảng Nam,nó gắn liền cùng sự biến thiên theo lịch sử giữa hai dân tộc Champa và Đại Việt.Trước kia toàn bộ vùng đất Quảng Nam đều thuộc lãnh thổ nước Champa (Chiêm Thành) Sự biến thiên lịch sử ta chỉ tính từ đoạn giữa từ năm 1306,(năm nhà Trần gã công chúa Huyền Trân đi lấy chồng tại Chiêm Thành) tức là giai đoạn thứ hai sau nhà Lý, năm 1306 lúc nầy vua Chiêm Thành là Chế Mân đã cắt dâng hai châu Ô,Lý cho vua Đại Việt để làm sính lễ cưới con gái của vua Trần nhân Tông là công chúa Huyền Trân.Biên giới Đại Việt lại được mở rộng thêm đến sông Thu Bồn (còn gọi là sông Chợ Cũi) nhưng thực tế là đến sông Bà Rén.Vùng đất nầy được chia thành Hai châu Ô và Lý cũng tức là Thuận Châu (từ nam Quảng Trị đến Huế) Châu Lý (hay Rí) thành Hóa Châu (tức một phần phía nam Huế cho đến phía Bắc sông Thu Bồn (Bà Rén).Lúc bấy giờ dân chúng Đại Việt từ nhiều tỉnh phía Bắc dần dần chuyển đến định cư tại hai vùng đất mới nầy rất đông.Suốt thời đại nhà Trần các đơn vị hành chánh được gọi với tên là “Phủ và Lộ”.
Năm 1402, nhà Hồ do Hồ Quý Ly làm vua và đã truyền ngôi cho con trai thứ là Hồ Hán Thương, đồng thời cho mở cuộc hành quân bình định Chiêm Thành để mở rộng lãnh thổ về phương nam , vua Chiêm lại phải dâng hai động Chiêm Động tức vùng đất Nam Quảng Nam (Đồng Dương) và Cổ Lũy là Quảng Ngãi và được nhà Hồ (Đại Ngu) chia ra làm bốn châu là “Thăng,Hoa,Tư,Nghĩa” cũng được gọi với danh xưng là “Lộ Thăng Hoa” biên giới phía nam lộ Thăng Hoa,giáp với biên giới Lộ Tư Nghĩa tại sông Bến Ván,lộ Tư Nghĩa nằm phía bắc đèo Bình Đê,Bình Định.Đến năm 1407,nhà Minh bên Tàu,nhân danh là hổ trợ cho vua Chiêm,kết hợp với nhà nước Chiên Thành đánh bại quân nhà Hồ,cả gia đình Hồ quý Ly,cùng nhiều cận thần đều bị nhà Minh bắt đưa sang Tàu,Triều đại Đại Ngu bị mất nước,Chiêm Thành dành lại vùng đất nầy và lấy ra đến tận vùng Thuận Hóa ( tức đến vùng ngoại ô thành phố Huế).Như vậy người Chàm đã thực sự trở lại làm chủ vùng đất nầy. Trong khoảng thời gian 40 năm từ 1407 đến 1447,người Việt vẫn sinh sống chung với người Chàm, dưới quyền cai trị của nhà nước Champa,như vậy người Việt phải nói tiếng Champa. Ảnh hưởng từ đó đã tạo sự hình thành nên bản sắc văn hóa của người Việt , nhất là tiếng nói của dân chúng Quảng Nam về sau nầy.Khoảng thời gian nầy nhà Minh được coi như đã chiếm nước ta,tức vào năm Vĩnh Lạc thứ 5, nhà Minh đặt các châu,huyện lệ thuộc vào 15 phủ và 5 châu lớn trực thuộc vào Giao Chỉ bộ Chánh Ty.Trong các lộ,châu ấy họ lượt bỏ châu Thăng Hoa tức châu Thăng,Hoa,Tư,Nghĩa.
Sau khi đánh đuổi quân Minh năm 1428,Lê Lợi chia cả nước ra làm 5 đạo,dưới đạo là các trấn,phủ,châu,huyện.Thời kỳ nầy đất Thăng Hoa thuộc loại đất ky my (sự cai quản rất lõng lẽo không thuộc quyền nhà nước nào) tuy trên danh nghĩa là thuộc Đại Việt,nhưng thực tế là người Chăm quản lý .(Chăm còn được gọi với các danh xưng Chiêm Thành, Chiêm,Chàm,Champa.Lâm Ấp,và Hoàn Vương…)
Năm 1466 để tăng cường thống nhất guồng máy hành chánh,vua Lê Thánh Tông chia nước Đại Việt làm 12 Đạo Thừa Tuyên,như vậy danh xưng Thừa Tuyên lại xuất hiện từ đó.
Sau năm 1471 trong cuộc kháng chiến bình Chiêm của vua Lê Thánh Tông đất Đại Việt lại được mở rộng lãnh thổ đến đèo Cù Mông,vua Lê Thánh Tông cho thành lập đơn vị hành chánh thứ 13 và gọi là Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam, gồm đất phía nam Đèo Hải Vân của Châu Hóa cùng 4 châu Thăng, Hoa,Tư Nghĩa cùng đất kinh đô Chà Bàn vừa chiếm được của Chiêm Thành tức là Hoài Nhơn ,như vậy Quảng nam Thừa Tuyên gồm: Quảng nam,Quảng Ngãi,và Bình Định bây giờ. Danh xưng “Quảng Nam” bắt đầu xuất hiện từ đây,trong lịch sử mở nước của tiền nhân.
Giá trị đặc trưng của khu vực Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam vào thế kỷ thứ 15 nầy,nó bao gồm một vùng lãnh thổ rộng lớn từ nam Thuận Hóa vào đến sát núi Thạch Bi (Phú Yên) bao gồm cả vùng núi,đồng bằng,các vùng bờ biển kể cả các hải đảo chạy dọc theo lãnh thổ.Và như vậy được gọi là Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam.
Tên gọi Quảng Nam được thay đổi nhiều lần trong lịch sử, thành xứ Quảng Nam năm 1490.Trấn Quảng Nam vào năm 1520,Dinh Quảng Nam vào năm 1602.Từ đó đến năm 1613,Chúa Tiên sai con trai thứ sáu của ông là Nguyễn Phước Nguyên vào trấn thủ, vì chúa và các cận thần đều xem đây là “đất yết hầu của miền Thuận Quảng. Sau khi kế nghiệp, chúa Nguyễn phước Nguyên trao dinh Quảng Nam lại cho con trai là Nguyễn phước Kỳ,tiếp theo là Nguyễn phước Lan cho đến đầu thế kỷ thứ 19 vương quyền chúa Nguyễn tan rã mới chấm dứt.
Năm 1806,Vua Gia Long đổi tên thành Trực Lệ Quảng Nam dinh trực thuộc kinh sư.Năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng thứ 13,Trực Lệ Quảng Nam được đổi thành tỉnh Quảng Nam.Và tên tỉnh Quảng Nam mới chính thức được gọi từ đó.
Đọc thêm: để biết về sự hình thành cùng sự phân ly của vương quốc Champa.
Bên cạnh để việc tìm hiểu chính xác hơn về giọng nói của người Quảng nam, tại sao chữ “nam” lại trở thành chữ “nôm”. Nên cũng cần biết về sự pha trộn ngôn ngữ giữa những người di dân phương bắc,hòa cùng với giọng của người dân bản xứ là Champa,nên chúng ta cần hiểu qua lịch sử về sự hình thành nên vương quốc Champa cùng sự phân ly cũng của vương quốc nầy.
Trước thế kỷ thứ X,kinh đô của vương quốc Chiêm Thành là vùng Trà Kiệu,nay thuộc xã Duy Sơn,huyện Duy Xuyên,tỉnh Quảng Nam.Kể từ nay về trước Chiêm Thành là một quốc gia hùng mạnh,đã nhiều lần đánh ra đến bắc đèo Ngang,lúc nầy bên Tàu thuộc vào nhà Đường,với những trận đánh như vậy, họ đã bắt được thật nhiều tù binh người Việt mang về nước.Những tù binh Việt nầy đã tạo được một cái nhìn khá quen thuộc cho người dân Chiêm tại vùng kinh thành,điều nầy đã khiến cho những người dân lao động Chiêm ít học,ít quan tâm đến chính trị không cảm thấy quá xa lạ với người Việt.Và như vậy trong những lần đại quân Việt tiến vào bình chiêm thời gian sau nầy,cũng không làm cho người Chiêm quá sợ hải. Thậm chí ngay từ đầu những năm lập quốc của quốc gia Chiêm Thành,một người Việt ông Phạm Văn là dân Giao Châu đã làm vua xứ nầy,tạo thành một vương triều thứ hai kéo dài gần 100 năm. Nguyên nhân,Phạm Văn vốn người Giao Châu (lúc nầy bên Tàu thuộc nhà Đường) Phạm văn có cơ hội sang Trung Quốc học tập và lúc về vào xứ Lâm Ấp đã giúp vua Lâm Ấp là Phạm Dật, xây dựng cung điện,xây dựng thành trì và khi Phạm Dật chết,Phạm văn tự xưng lên làm vua Chiêm Thành.
Quả thực trong mắt người Việt thì người Chàm rất xa lạ, khó hiểu hơn nhiều so với người Chàm nhìn người Việt. Điều nầy cũng dễ hiểu bởi bản sắc văn hóa của hai dân tộc khá khác biệt,trong khi người Chàm vùng Quảng Nam lúc bấy giờ mang khá đậm nét văn hóa Ấn Độ,với nhiều vị thần khó hiểu,trong khi người Việt vùng Thanh,Nghệ,Tỉnh lúc nầy còn đang thuộc Đường, nhưng mà văn hóa người Việt vẫn còn khá mờ nhạc với nét văn hóa Trung Hoa, đời sống tâm linh khá hiền lành,đơn giản (sau năm 1306) khi vào sống cạnh người Chiêm họ sẽ không gây cho người Chiêm những khó chịu,những áp lực tâm lý đến mức không thể chung sống mà phải bỏ đi.
Khi Lê Đại Hành (Lê Hoàn) lên ngôi rồi đem quân bình Chiêm,lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam vào năm 982,ông cũng đã đem quân vào đến kinh đô Đồng Dương của nước Chiêm Thành (thuộc thôn Đồng Dương,xã Bình Trị,Thăng Bình,Quảng Tín trước 1975). Ông cho đóng quân tại đó một năm mới trở ra,thậm chí một vị quan Quản giáp của vua Lê Đại Hành là Lưu kế Tông,đã trốn ở lại,sau khi đại quân kéo về,rồi tự xưng làm vua nước Chiêm Thành,cai trị vùng đất miền bắc nước nầy.Sau cuộc thất bại nầy nhà nước Chiêm Thành dời kinh đô vào Đồ Bàn (Bình Định).Bao nhiêu binh lính người Việt ở lại cùng Lưu kế Tông, có bao nhiêu sự kiện đã xảy ra trong thời gian nầy vào năm 982 ? và một năm đóng quân ở tại đây thì chuyện gì đã xảy ra giữa hàng vạn binh lính Việt và người dân Chàm bản xứ ? Lưu kế Tông Làm vua có quyết định dùng tiếng Việt thay cho tiếng Chàm trong các giao dịch xã hội? Có buộc người dân Champa ăn ở theo nếp sống của người Việt không? Có khuyến khích người Việt di dân vào và đã tạo những ưu đãi nào cho những di dân đến đầu tiên vào lúc nầy ?
Năm 1020,Lý thái Tổ cử người đi đánh Chiêm Thành nhưng chỉ đến Bố Chính,Quảng Bình ngày nay.Năm 1044,Lý thái Tông dẫn 12 vạn quân đi đánh thẳng vào đến sông Thu Bồn,chém đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu rồi dẫn đại quân vào đến Đồ Bàn cho sứ đi khắp các nơi vỗ yên,phủ dụ dân chúng Chiêm Thành. Tầng lớp thượng lưu,giáo sĩ,chính trị đã bị chú ý thu gom,trừng phạt,nhưng đa số dân trong các xóm làng là đối tượng của cuộc phủ dụ này.Năm 1069,Lý thánh Tông phạt Chiêm lần thứ hai,bắt vua Chiêm là Chế Củ giải về Thăng Long.Chế Củ phải xin dâng ba châu Bố Chánh,Đại Lý, Ma Linh để được tha,biên giới Đại Việt lúc nầy cũng mới là sông Gianh.
Từ Đó đến năm 1306,đã là 237 năm,thời gian nầy không có cuộc tiến đánh nào của người Việt.Một phần do sự họp tác đối phó với nhà Nguyên,nên mối quan hệ Việt-Chiêm khá tốt,thậm chí Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông đã vân du một chuyến đến Chiêm Thành, lúc hữu hảo đã vui miệng hay thực sự kính trọng vua Chiêm khá tốt, nên đã hứa gã con gái mình là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân.Vua Chiêm dâng hai châu Ô,Lý (Rí) để làm sính lễ.Nhiều người cho rằng hai châu nầy thực ra đã thuộc về người Việt trước đó.
237 năm không có chiến tranh (nhưng thực ra là có,nhưng chỉ là những cuộc cướp biển mà người Chiêm thời nào cũng có, thậm chí ở biển Đông hay vịnh Thái Lan ngay lúc nầy cũng vẫn có) hay ta nghe câu cao dao của người Việt thường đọc như sau: ( Thương em anh cũng muốn vô / Sợ truông nhà Hồ,sợ phá Tam Giang ) tức đường đi là khó lắm. Suốt thời gian của 237 năm nầy,người Việt luôn tiến dần từng bước,từng bước vào Nam dưới sự hổ trợ của những Việt Kiều vào trước.
Việc dâng hai châu Ô,Lý của Chế Mân để lấy được một người đẹp là chuyện mà lịch sử nhân loại ít thấy.Tuy vậy,ta có thể hiểu được,hành động nầy qua trường hợp tương tự của Mạc Đăng Dung tự buộc cổ bằng dây thừng,đi chân đất đến phủ phục trước mạc phủ quân Minh xin hàng và dâng các động Tê Phù,Kim Lặc, Cổ Sâm,Liễu Cát,An Lương,La Phù. Thực ra theo “Đại Việt Địa Dư toàn biên” thì sáu động ấy chưa bao giờ thuộc Việt,năm Tuyên Đức thứ hai dân các động ấy làm phản,và về với Giao Chỉ.Nay nhà Mạc lấy đất của họ mà trả cho họ,đó là một động thái chính trị,và nhà Minh cũng chỉ cần cái danh ấy,để không phải động binh vào lúc nầy,đang là lúc rất khó khăn đang đối phó với quân Thanh.Chế Mân hẳn biết rằng so sánh tương quan lực lượng sẽ không giữ được hai châu Ô,Lý nữa, chi bằng làm thế để tăng mối hòa hiếu may ra giữ yên được vùng đồng bằng Quảng Ngãi trở vào,trù phú hơn nhiều so với vùng Thừa Thiên,Quảng Trị.
Giai đoạn nầy có mấy sự kiện nổi bật cần lưu ý:
Khó có thể xác định được điều gì về các mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa Việt-Chăm vào giai đoạn nầy.Nhưng chỉ với hai sự kiện người Việt làm vua trên đất Chiêm Thành,tạo nên hai triều đại khá lâu dài,giúp ta hình dung phần nào vị trí người Việt trong xã hội người Chăm.
-Giai đoạn nầy cuộc Nam tiến của người Việt diễn ra chủ yếu trên vùng đất nằm trong khoảng giữa đèo Ngang và đèo Hải Vân. Dấu vết về cuộc “ giao lưu” nầy còn lại khá rõ ở một số ốc đảo dân cư nằm rải rác từ tỉnh Quảng Bình đến Thừa Thiên (Huế).Ví như thổ ngữ của vùng Cao Lao hạ,Mỹ Lợi…mà lâu nay một câu hỏi không được hồi đáp,thì nay có thể giải thích được qua sự phân kỳ này.
Gần đây các cuộc khảo cổ hoàng thành Thăng long giai đoạn Lý,Trần cho ta thấy nhiều yếu tố Chàm trong kiến trúc,điêu khắc, mà ngay cả tại Thánh địa Mỹ Sơn (vùng Duy Sơn,Duy Xuyên)cũng đã tìm thấy nhiều chữ Hán (thời Trần) ẩn trong các viên gạch,viên đá ở tháp G1 thuộc quần thể khu tháp Mỹ Sơn,nơi nầy đã có niên đại xây dựng trong thế kỷ thứ XIII.Chứng tỏ mối quan hệ Việt-Chiêm khá sâu sắc,gắng bó hơn nhiều đối với chúng ta nghĩ, mà nó cần một sự nghiên cứu thấu đáo, toàn diện hơn những gì chúng ta nhìn thấy trên các viên gạch,ngói đổ nát tại Thăng Long.
* Đoạn nầy phỏng theo và ghi lại từ tác phẩm có 500 năm như thế của tác giả Hồ Trung Tú,để giúp chúng ta dễ hình dung về sự hình thành đất nước Chiêm Thành,cùng sự phân ly cũng của dân tộc nầy,để chúng ta hiểu về tiếng nói của người dân Quảng Nam một cách chính xác hơn.Có một điều ta thấy dân tộc Champa dần dần bị biến mất trên bản đồ thế giới,như vậy dân chúng của cả dân tộc nầy đã biến đi đâu? Không phải là họ đã hòa vào để trở thành công dân của Đại Việt đã rất lâu rồi,chứ không phải dân tộc nầy bị tàn sát bởi những cuộc chiến tranh với Đại Việt.Hiện họ chỉ còn một nhóm sống tại các tỉnh Phan Rang,Phan Rí thuộc miền nam Trung bộ,nhưng họ đều được đồng hóa thành người Việt tất cả.
Một điều cần lưu ý: Các họ UNG,MA,TRÀ.CHẾ, đây là bốn họ chỉ thuộc dòng Tôn Thất vua Chiêm, còn dân chúng bình thường chỉ có tên mà không có tánh.Khi trở thành dân Đại Việt,nhà nước Đại Việt đã ban cho người Chiêm danh tánh tức tộc họ cũng giống như người Việt gồm; Phan,Phạm,Dương,Trần,Đặng và thậm chỉ là cả tộc Đinh nữa. Với người Chiêm tất cả chỉ cần qua ba đời là những người con cháu Champa nầy sẽ quên mình là dân tộc Chăm,mà họ nghĩ mình đã có danh tánh tộc họ thật rồi và tự coi mình là người dân Việt chính thống.
QUẢNG NAM VỊ TRÍ VÀ ĐỊA HÌNH:
Quảng nam là một tỉnh nằm trong khu vực duyên hải Trung Bộ Miền Trung Việt Nam, có thể dùng thị xã Tam kỳ làm điểm trung tâm cho cả nước,như vậy từ điểm nầy cách thành phố Hà nội về phía Bắc là 820km,cách thành phố Sài Gòn 900 km,tính theo chiều dài Quốc lộ A1. Nằm trong phạm vi phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên tại dãy Bạch Mã tức (Đèo Hải Vân) phía Đông giáp biển Nam Hải,phía Tây giáp tỉnh Sekong,một tỉnh thuộc miền nam nước Lào, được ngăn bởi dãy Trường Sơn với các ngọn núi cao chập chùng nối liền nhau,phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và Kong Tum. Đó là vị trí địa hình của tỉnh Quảng Nam dưới nhiều triều đại tính từ các vua nhà Nguyễn về sau.Quảng Nam nơi đây cũng là miền đất đầu cầu,là vùng cửa ngõ xuất quân của các đoàn quân Nam Tiến mở nước về phương Nam dưới các triều đại Chúa Nguyễn kể từ năm 1604 đến đầu thế kỷ thứ 19,khi mà vương quyền các Chúa Nguyễn bị chấm dứt,được chuyển giao đến vương quyền các vua nhà Nguyễn bắt đầu từ vua Gia Long 1802.
Về địa hình,Quảng Nam là một vùng đất có nhiều yếu tố thiên nhiên đáng chú ý,bờ biển chạy dài từ cực Bắc đến cực Nam,đồng bằng rất hẹp, kẹp giữa Biển Đông và dãy Trường Sơn án ngữ phía tây bởi các ngọn núi cao sừng sững chập chùng nối liền nhau,mà đây cũng là biên giới Việt-Lào.

(Tỉnh Quảng Nam hình thể và địa dư)
Bởi giáp với biển cả về phía Đông nên vùng bờ biển toàn là một dãy cát trắng mênh mông,khoảng giữa là những mảnh đồng bằng hẹp, bị thắt riết và bị bao phủ chung quanh bởi các khu rừng thấp từ chân các dãy núi cao tạo thành những thung lũng, chịu ảnh hưởng bởi các dãy núi cao ấy.Một vùng đất mà địa hình bốn phía là núi non bao vây cùng với biển cả,đã tạo nên một nơi có thể nói là “sơn lam chướng khí” do vậy ngày xưa,ngày xửa đã có câu ca dao “ Dậm chưn xuống đất kêu trời / Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra”. Cũng do vậy mà giao thông khá hiểm trở nên ca dao Việt cũng lại có câu “ Thương em anh cũng muốn vô / Sợ truông nhà Hồ,sợ phá Tam Giang” vào cái thời dân đi khẩn hoang lập nghiệp tại Quảng nam lần đầu tiên. Mà Quảng Nam lại được chia ra Làm nhiều quận,mỗi quận có một số đặc điểm riêng biệt mà chúng ta cũng cần nên biết:
*Nửa phần đất bên trong tỉnh Quảng Nam được kể :
Quận Quế Sơn: Vùng Đông quận Quế Sơn có núi chúa,vùng tây Quế Sơn lại có các xứ Hiên,Giằng với hòn Kẽm,Đá Dừng,( Ngó lên Hòn Kẽm,Đá Dừng / Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi) miền trung du Quế Sơn có Đèo Le,cái đèo khá dài,quanh co,ai đi qua cũng phải thở,vì vậy nên mới có tên là Đèo Le,con đường Đèo Le được khai mở từ con đường mòn đầu tiên, do ông Nguyễn đình Hiến cựu quan chức thuộc triều đình Huế,đã hưu trí về sống tại quê Lộc Đông.Việc khai mở con đương mòn Đèo Le đã có bia ghi chú công tích của cụ ông Nguyễn Đình Hiến. Về cảnh trí Quế sơn còn có Hòn Tàu khá đẹp với các con suối nước chảy róc rách,rất trong và mát.Quế Sơn còn có suối Tiên cảnh trí rất đẹp, nằm trên lãnh thổ xã Quế Hiệp ngày nay.Về tài nguyên khoáng sản Quế Sơn có mỏ than Nông Sơn loại khoáng sản quí hiếm,là tài sản chung của quốc gia.
Quận Tiên Phước: Phía tây Nam quận Tiên Phước có núi Trà Mi,cùng với đèo “Liêu” nằm trên đoạn đường nối từ con đường Tiên Phước-Trà Mi tại thị trấn Phước Châu chạy về hướng tây đến Sông Tranh (tức thượng nguồn sông Thu Bồn).Cảnh trí Tiên Phước còn có thác Ồ Ồ (hay còn gọi là thác Tiên) rất đẹp với cảnh trí các thác nước đổ dựng đứng khá hùng vĩ.Tiên Phước là nơi có ngôi nhà cụ Huỳnh thúc Kháng tại xã Tiên Cảnh (Phước Cảnh),Tiên Phước, bây giờ ngôi nhà cụ đã trở thành nhà lưu niệm.Con cháu ruột thịt của cụ Huỳnh không còn nhiều,chỉ có anh Huỳnh Xanh cháu thúc bá đồng đường trước đây giữ chức xã trưởng xã Phước Cảnh dưới thời VNCH.Tiên Phước còn có làng cỗ Lộc Yên cũng là một di tích lịch sử.Bên cạnh đó Tiên Phước được chú ý nhiều nhất vì nơi đây đã sản sinh nhà cách mạng tư tưởng Phan châu Trinh,hiện tại con cháu ruột thịt của nhà cách mạng họ Phan hầu như không còn,chỉ còn người cháu thúc bá đồng đường là ông Phan Thanh Việt nhưng cũng đã qua đời,người cháu trai con nhà chú bác với ông Việt là Phan Thanh Thắng là con trai của ông Phan thanh Tiệm hiện sống tại khu Bonsa Tiểu bang California,Hoa Kỳ.Một điều cần nên nhớ là về ông Lê Cơ người anh em cô cậu ruột với cụ Phan,ông Lê Cơ hưởng ứng phong trào Duy Tân nên là người tiên phong trong việc truyền bá chữ quốc ngữ tại Tiên Phước,khởi đầu cho phong trào Đông Kinh Nghĩa thục tiếp sau đó tại Hà Nội.Tiên Phước có con sông mang tên là sông Tiên,con sông nhỏ nhưng có chiều dài xấp xỉ là 6km,mà chỉ rộng chừng 100m đặc biệt là chảy ngược dòng.Con sông khởi nguồn do hợp lưu các con suối từ xã Tam Lãnh,Tam Kỳ và một nhánh từ huyện Trà My mà hợp thành,cái đặc biệt của con sông Tiên là dòng nước chảy ngược,hòa dòng cùng với nhiều con sông,suối nhỏ như sông Cà Đong Phước Thọ,sông Đá Giăng Phước Cảnh,suối Bình An Phước Kỳ và nhiều suối nhỏ ở Phước Cẩm,Phước Hà để rồi chảy quanh ra thôn An Tráng Bình Sơn (Thăng Phước)Thăng Bình mà đổ ra sông Tranh tại đoạn nầy.Quế Hương là tên nơi đầu nguồn của con sông Tiên được người đời thường gọi.
Quận Thăng Bình: Đặc biệt cảnh trí tại quận Thăng Bình là có dãy núi Gai hay còn gọi là núi Cao Ngạn nằm trên lãnh thổ xã Bình Lãnh từ thôn Cao Ngạn đến giáp với Bình Lâm. Núi Gai cũng là nơi dùng lập căn cứ địa của nghĩa quân cụ Tiểu La thời chống Pháp vào các năm 1885-1886.Nhà cách mạng Tiểu La có nhà thờ tại thôn Thạnh Mỹ,xã Bình Quí. Hài cốt cụ Tiểu La được dời từ đảo Côn Lôn về quê Thạnh Mỹ do ông Nguyễn Hoàng Huân,người cháu nội thứ vào năm 1958.QuậnThăng Bình còn có tháp Đồng Dương nằm trên lãnh thổ thôn Đồng Dương xã Bình Trị, tháp Đồng Dương là kinh đô cũ của nước Champa trước khi dời đô vào Đồ Bàn,nơi đây cũng là nơi thờ Phật trong thời kỳ Phật Giáo phát triển mạnh tại vương quốc nầy. Hiện tại ngôi tháp bị phá hủy bởi trận chiến năm 1972,khi quân của Miền Bắc vào trú đóng trong tháp, máy bay phải thả bom nên đã làm sập.Tháp sập nhưng vẫn còn lại nền cũ, ngày trước khi đã có tháp Đồng Dương, nên mới lại có Ao Vuông, ao rất sâu nằm trên lãnh thổ xã Bình Định sát mép hương lộ 16A chạy xuyên qua xã nầy,bên trên ao vuông một khoảng không xa lắm lại có cánh đồng Đá dựng.Đồng Đá Dựng lại thuộc về lãnh thổ xã Bình Trị.Bên dưới ao vuông một khoảng ngắn lại có Cầu Ông Triệu nằm trên liên hương lộ 16A,với cây cầu bắt ngang qua suối Bà Ven.Tại vùng Đồng Dương xã Bình Trị còn có một tộc mang họ “TRÀ”có thể đó là tộc người Champa cũ,nhưng đã được đồng hóa trở thành người Việt thuần túy từ lâu.Tại vùng đất Đồng Dương còn có nhiều hầm gạch “Dồ” nằm sâu bên dưới mặt đất,trước đây vào các thập niên 80,90 thỉnh thoảng thì dân chúng vùng nầy đã đào được đem về dùng .
Miền cao Thăng Bình thuộc xã Bình Phú có một cảnh quan khá đẹp đó là Hố Thác thuộc thôn Đồng Linh cũ và một cảnh quan khác nữa cũng đẹp là Hố Cam.Dọc theo ranh giới Thăng Bình có con sông nhỏ mang tên “Ly Ly”chảy ngang qua biên làng chúng tôi là Thanh Ly, ngày trước con sông tuy nhỏ nhưng rất đẹp,từ sau thập niên 1980 con sông đã bị tàn phá quá mức, do vậy đáy nơi con sông nầy đã rất sâu, loài ra toàn là một bãi đá lởm chởm,dân chúng vào giờ nầy không một ai dám bước chân đến. Con sông mang tên Ly Ly tức là một tín hiệu báo cho mọi người biết, con sông làm ranh giới giữa hai quận Quế Sơn và Thăng Bình, nước con sông Ly Ly chảy về hướng đông để nhập chung vào với dòng nước sông Trường Giang mà đổ ra cửa Đại Chiêm để thoát ra biển. Vùng thấp Thăng Bình có bãi biển Bình Minh ( một thôn của xã Bình Đào cũ bị cắt nhập với một số thôn của xã Bình Dương mà lập thành xã Bình Minh ngày nay).Đặc biệt tại Thăng Bình có con sông Trường Giang chảy ngang qua nhiều xã từ xã Bình Nam ra đến Bình Dương, sông Trường Giang là con sông chạy dọc theo chiều dài ven biển nên sông không có đầu nguồn,mực nước sông lên xuống là do nước biển lên,xuống nơi hai đầu con sông,trước đây sông Trường Giang là con đường thủy rất thông dụng đối với giới thương buôn trong tỉnh,ghe thuyền được chạy từ An Tân ra đến Hội An và ngược lại.
Quận Tam Kỳ: Vào năm 1962 dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa,đã chia tỉnh Quảng nam Đà Nẵng thành 3 khu vực là Thành phố Đà Nẵng,tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Tín.TỈnh lỵ Quảng tín được đóng tại thị xã Tam Kỳ, cơ sở nầy hiện nay cũng được dùng làm tỉnh lỵ Quảng Nam (dưới thời Cộng Hòa Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam).Tỉnh lỵ Quảng Nam được đóng tại thị xã Hội An (tức thành phố cổ Hội An). Tành phố Đà nẵng là một thành phố riêng biệt gồm có 3 quận.
-Quận I gồm 9 khu phố: Xương Bình,Phước Ninh,Thiệu Bình,Hải Châu,Thạch Thang,Nam Dương,Hòa Thuận và nại Hiên.
- Quận II gồm 10 khu phố: Thạc Gián,Hà Khê,An Khê,Phú Lộc, Phục Đán,Chính Trạch,Xuân Đán.Tam Tòa, Thanh Khê,và Xuân Hòa.
- Quận III gồm 9 khu phố: An Hải,Mân Quang,Cổ Mân,Nam Thọ, Mỹ Khê,Phước Trường,Nại Hiên Đông,Tân Thái và Thượng Nghĩa.
-Quận Tam Kỳ ngày trước được gộp chung với cả quận Lý Tín (Núi Thành ngày nay) và kể cả quận Phú Ninh bây giờ.Do vậy Quận Tam Kỳ lãnh thổ rất rộng.Dưới thời VNCH cũng được chia ra làm hai quận là quận Tam Kỳ và quận Lý Tín.Dưới thời CHXHCN/Việt Nam. Quận Tam Kỳ lại được chia thành ba khu vực,Thị xã Tam Kỳ,quận Núi Thành (Lý Tín cũ rộng và nhập luôn cả xã Kỳ Hưng cũ) lại thêm quận Phú Ninh.Quận Phú Ninh có đập Phú Ninh (thời Pháp có tên gọi là kênh Ba Kỳ do người Pháp thiết kế) Con đập được ngăn bởi con sông lớn Tam Kỳ,mặt đập được nằm nơi đoạn bên trên của bản thiết kế cũ,dẫn nước về tưới cho nhiều cánh đồng thuộc các huyện (quận) trong tỉnh.Quận Tam kỳ nói chung gồm cho cả huyện Phú Ninh ngày nay,huyện Phú Ninh ngày nay là nơi có mỏ vàng Bông Miêu, loại khoáng sản quí hiếm là tài nguyên của Quốc gia. Khu mõ vàng nằm cạnh con sông Bông Miêu,một phụ lưu của sông Tiên nên mỏ vàng cũng được dùng tên con sông để gọi cho dễ hiểu,và như vậy mõ vàng lại nằm trên lãnh thổ xã “Tam Lãnh” ( không nhớ rõ tên xã cũ thời VNCH).
Thị xã Tam Kỳ có khu di tích văn hóa là Văn Thánh,cùng với khu Khổng Miếu là nơi thờ Đức Khổng Tử để tỏ lòng tôn kính người xưa.Khu di tích Khổng Miếu được xây dựng vào thời mà Tam Kỳ còn đang được gọi là Phủ Hà Đông,kinh phí do các vị khoa bảng,cử nhân,chức sắc đóng góp.Tam Kỳ còn có tháp Chiên Đàn nằm trên lãnh thổ ( xã Kỳ Lý cũ) là ngôi tháp cỗ của vương quốc Champa, các hoa văn được vẽ trên tháp đều đúng theo văn hóa và phong tục của vương quốc nầy, phần lớn những hoa văn trên tháp đều được phỏng theo hoa văn các tháp tại kinh đô Trà Kiệu cũ.Khu tháp Chiên Đàn gồm có ba tháp,tháp giữa cao hơn,trên chóp có vòm uốn cong được chạm trổ nhiều hoa văn,hai tháp hai bên thấp hơn. Trước mặt khu tháp Chiên Đàn về hướng đông một khoảnh đất khá rộng, giáp với khu đất sát mép đường Quốc lộ IA,trên khu đất nầy là đền thờ nhà cách mạng Trần Văn Dư, mới được xây dựng sau nầy dưới triều đại thuộc nhà nước CHXHCN/VN.Tam Kỳ còn có một khu tháp thật hoành tráng nữa nằm trên lãnh thổ xã Kỳ Hưng cũ đó là tháp Khương Mỹ,nay thuộc xã Tam …( tôi không rõ),có thể ngôi tháp nầy bây giờ đã được tính thuộc về huyện Núi Thành vì xã Kỳ Hưng cũ lại được cắt để nhập vào huyện Núi Thành.
Huyện Núi Thành hay Quận Lý Tín cũ:Trên lãnh thổ quận Lý Tín có cảng Kỳ Hà, bãi biển rất đẹp,bên cạnh bãi biển Kỳ Hà tại quận nầy còn có hai đảo nhỏ nằm kề đó là Hòn Than và hòn Dứa,nằm ở vùng cửa biển sông Trường Giang, và còn có ghềnh đá Bàn Than dài khoảng 2km,cách đảo Tam Hải ½ km là đến Hòn Mang, và chừng 1km là đến Hòn Dứa .Người dân quanh vùng gọi điểm nầy là Bàn Than bởi sự mịn màng và phẳng lặng của những ghềnh đá,có thể nhìn mà hình dung như những chiếc bàn khổng lồ có màu đen tuyền, trông giống viên than trải dài khoảng chừng 2km, với sự sắp xếp tự nhiên bởi những viên đá chồng lên nhau,trông rất đẹp mắt,những viên đá chồng không phải thấp mà là rất cao, cao đến chừng 40m.Đây là khu di tích địa chất độc đáo có tuổi đời đến cả 400 triệu năm.. Đảo Hòn Mang và hòn Dứa được đặt tên dựa vào loại cây mọc trên đó là cây dứa gai,và cây cỏ mang. Tại quận Núi Thành hay (Lý Tín cũ) còn có sân bay Chu Lai,hiện vẫn đang được khai thác đường bay nội địa.Tại thôn An Tân có cửa sông Trường Giang,đó là cửa sông phía nam của sông Trường Giang thông ra biển .
Lãnh thổ nằm về phía nam tỉnh Quảng Nam,ngoài các quận đã nêu trên,còn có quận Hiệp Đức,quận nầy được thành lập dưới thời Việt Nam Cộng Hòa,nhưng trước đây chỉ mới cắt xã thứ 20 của Thăng Bình Là Bình Sơn (hay còn được gọi là Thăng Phước) sáp nhập chung với các xã miền núi của Quận Quế Sơn mà họp thành.Hiệp Đức là quận miền núi nên có ba dân tộc người chung sống đó là: người kinh chiếm đa số, được tính là dân tộc chính, tiếp theo là người Ca Dong, cùng với người Mơ Nông,số người thuộc các dân tộc thiểu số nầy chủ yếu sống trên các xã Phước Gia,Phước Trà,Sơn trà, nhưng chỉ chiếm chỉ 13% dân số trên toàn Quận.Ngày trước dưới thời Quân chủ nhà Nguyễn tại thôn Sơn Tân có lẽ sau gọi là xã Sơn Tân,giáp với Làng Gia,có một người đàn ông võ nghệ giỏi được xếp vào hạng thượng thặng đó là ông “Tám Thu”.Ông Tám Thu thường làm những hành động hiệp nghĩa là lấy của của nhà giàu,đem chia sớt cho người nghèo,ông thường lấy đồ nơi nhà bà Cửu Đồng tại chợ Hà Lam (Thăng Bình),về sau ông bị lính của phủ đến vây bắt theo lệnh của nhà cầm quyền,và bị xử tử hình.Trong hành động nầy,tôi có người bác thúc bá đồng đường là ông bác cửu Học,ông được phong tặng chức cửu phẩm để tưởng thưởng công lao trong việc thực hiện vây bắt ông Tám Thu ,và kể từ đó ông bác được gọi với danh xưng là Cửu Học.
* Nữa phần đất miền ngoài tỉnh Quảng Nam được tính:
-Quận Duy Xuyên: Duy Xuyên có con đập nổi tiếng là đập Vĩnh Trinh.Đặc biệt Duy Xuyên có di tích lăng mộ bà Đoàn quý Phi tại xã Duy Trinh,khu lăng mộ nầy có lịch sử từ thời vua Gia Long. Năm 1606 khu lăng mộ của Hiếu chiêu Hoàng Hậu Đoàn thị Ngọc được đặt tên là Vĩnh Diên để phân biệt với lăng mộ của Hiếu văn Hoàng Hậu Mạc thị Giai có tên là Vĩnh Diễn (Bà chúa Mạc thị Giai là vợ của chúa Nguyễn Phước Nguyên,là bà nội chồng của bà Đoàn thị Ngọc).Bà Đoàn thị Ngọc là cô gái hái dâu trong đêm trăng tại ghềnh đá bãi dâu Thanh Chiêm,Duy Xuyên.Khi bà nghe đồn thuyền công tử nhà Chúa là Nguyễn Phúc Lan,đang chèo trên sông Thu Bồn để hộ tống chúa cha đi hóng mát trên sông,bà cất tiếng hát đưa duyên như sau*: “Tai nghe Chúa ngự thuyền rồng / Cảm thuơng phận thiếp má hồng nắng mưa / Thuyền rồng Chúa ngự nơi đâu / Thiếp thương phận thiếp hái dâu một mình*” Tiếng hát của Bà đã làm cho Hoàng tử thổn thức khi đã được nghe,để Hoàng tử Phúc Lan phải bươn bã đến tìm nơi bãi dâu,lúc gặp được bà hoàng tử đã đem lòng mến mộ và sau đó được sự cho phép của chúa Thượng,bà được Hoàng Tử Nguyễn Phúc Lan rước về cung, lúc ấy bà mới vừa 15 tuổi.Thời gian sau lúc đã về cung, bà đã giúp chúa Nguyễn Phước Lan được nhiều trong công việc cai trị đất nước, khi chồng bà đã nối nghiệp Chúa.Bà đã sinh được ba người con trong đó có Hoàng Tử Nguyễn Phước Tần,sau nầy trở thành chúa Nguyễn Phước Tần.
Câu chuyện cô thôn nữ hái dâu lại trở thành Hoàng hậu là nguồn lực cho cư dân thuộc Dinh Trấn Quảng Nam (Thanh Chiêm) , và cho cả xứ Đàng Trong trong việc thăng tiến nghề tằm tơ,giúp cho xứ Đàng Trong thịnh vượng về mặt hàng xuất khẩu tơ lụa tại cảng Hội An với các nước phương tây và Nhật Bản thời bấy giờ.
Đây là khu lăng mộ khá cổ kính,vào năm 1824 vua Minh Mạng đã cho xây chùa Vĩnh An nằm giữa hai ngôi mộ của hai bà Hoàng Hậu tại thôn Đông Giáp,làng Đông Yên,gần trấn Thanh Chiêm,xã Duy Trinh.Ngôi chùa được gọi với tên là Chùa Ngự, hay chùa Vua.Câu chuyện cô gái hái dâu Đoàn thị Ngọc Thanh Chiêm đã trở thành Hoàng Hậu,đây là trường hợp thứ hai sánh cùng với Hoàng Hậu Ỷ Lan đời nhà Lý,cả hai đều có hoàn cảnh tương tự là cô gái hái dâu,đã được ghi vào lịch sử Việt hai trường hợp hai cô gái hái dâu đã trở thành Hoàng Hậu,mà cả hai đều là những người tài giỏi đã giúp chồng tạo nên sự nghiệp hiển hách một thời.Bà Đoàn thị Ngọc được dân chúng Quảng Nam tôn là “Bà Chúa Tằm Tang”.
Di tích lịch sử nổi bậc trên lãnh thổ quận Duy Xuyên là Thánh địa Mỹ Sơn, một quần thể Thánh Địa gồm các tháp nằm trên một diện tích khá rộng nơi một thung lũng, ẩn sâu trong vùng núi cao rất hùng vĩ của quận Duy Xuyên.Đây là nơi dành riêng để thờ cúng các vua chúa và những người thuộc Hoàng Tộc Champa và cũng là nơi dùng để an táng các vị vua,chúa,những người thuộc hoàng Tộc Champa,khi mà thủ đô cổ kính của vương quốc Chămpa đang tọa lạc tại vùng đất Trà Kiệu.Quần thể Thánh địa Mỹ Sơn với hơn 70 ngôi đền tháp lớn nhỏ chia thành nhiều khu,và mang đậm nghệ thuật văn hóa Champa,nền văn hóa chịu ảnh hưởng sâu đậm của nét văn hóa Ấn Giáo thuộc quốc gia Ấn Độ.
Quận Duy Xuyên còn có làng lụa Mã Châu,làng lụa đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 15.Làng lụa Mã Châu việc sản xuất do người dân thực hiện với tất cả các công đoạn đều được tự túc từ việc trồng dâu,nuôi tằm,ươm tơ, dệt lụa đều thực hiện theo lối thủ công,nhưng tạo ra những sản phẩm đẹp nhất để được dùng vào việc cung cấp đến cung đình Huế.(có lẽ làng lụa Mã Châu đã chịu ảnh hưởng nhiều từ bà Hoàng Hậu Vĩnh Diên,Đoàn thị Ngọc khi bà đã được rước vào cung Chúa).
Duy Xuyên còn có làng chiếu Bàn Thạch:Làng chiếu Bàn Thạch tại xã Duy Phước,làng chiếu Bàn Thạch đã được sản xuất từ rất lâu,khi những người di dân miền ngoài mới vào xứ đất nầy,họ khai thác vùng đất tại đây ngay từ buổi ban đầu,vì đây là vùng đầm lầy chịu ảnh hưởng từ con nước sông Trường Giang,nên rất thuận lợi cho việc trồng cây lát dùng để dệt chiếu.Nhờ vào vùng thổ nhưỡng thuận lợi trên,người dân tại làng Bàn Thạch đều tham gia làm nghề dệt chiếu để làm nghề sinh sống, đồng thời phát huy nghề dệt chiếu mỗi ngày một đẹp hơn. Chiếu Bàn Thạch đẹp,tốt với tất cả các khâu đều do người thợ dệt đã tự tay làm: dệt,làm sạch, nhuộm màu, tuy thủ công nhưng rất tinh xảo,vì vậy luôn được dùng vào việc cung cấp chiếu cho cung đình Huế.
Duy Xuyên còn có một điểm nổi tiếng trên toàn quốc,đó là món “Bê Thui Cầu Mống” từ Nam chí Bắc ai đi ngang qua đường quốc lộ IA tại vùng nầy,đều muốn ghé để thưởng thức món thịt “Bê Thui”, một điều mà chúng ta nhìn thấy là khó một ai có thể bỏ qua món thịt bê thui tại đây.Duy Xuyên còn có cảng Cửa Đại nằm trên lãnh thổ xã Duy Nghĩa là nơi thoát nước ra biển từ nhiều con sông nơi đồng bằng chảy về,trực tiếp nhất là con sông Trường Giang,cộng cùng với sông Thu Bồn,Vu Gia,sông Bà Rén,sông Ly Ly đổ về v…v. Một điểm cần nhớ thật kỹ nữa Là: Nhà văn “điên” Bùi Giáng là dân họ Bùi làng Vinh Trinh,Duy Xuyên.Cái hay là ông càng điên thì văn ông viết càng thâm thúy,khó mà ai phân tích nổi văn của ông,có thể văn của ông viết được liệt vào hàng triết gia..Nhà văn Họ Bùi cùng với nhà văn,nhà tư tưởng Phan Khôi làng Bảo An huyện Điện Bàn , 2 người đều là cháu ngoại của Tổng Đốc Hoàng Diệu.
-Quận Điện Bàn: Di tích cổ còn tồn tại tại Điện Bàn được kể là ngôi tháp Bằng An, ngôi tháp được xây dựng vào thế kỷ thứ X của vương quốc Champa,đặc biệt ngôi tháp nầy được xây theo khung hình bát giác,mỗi cạnh dài là 4m,cao 21,m5.Kiến trúc tháp gồm khu tiền sảnh và đền thờ.Hai bên là hai cửa phụ, nhưng vào năm 1943 người Pháp đã trùng tu lại để trở thành hai cửa sổ.Như vậy tháp Bằng An đã có trên 1.000 năm tuổi.Ngoài ra Điện Bàn còn có nhiều làng nghề chuyên nghiệp của dân làng như: Làng đúc đồng Phước Kiều, Làng nghề làm bánh tráng Phúc Triêm và làng nghề làm mộc gỗ mớp Kim Bồng.Đó là những làng nghề đã có từ rất lâu đời mà hiện tại dân chúng vẫn gìn giữ để nối nghiệp tổ tiên.Đặc biệt tại Điện Bàn có lăng mộ của ngài Tổng Đốc Hoàng Diệu,cùng lăng mộ của nhà cách mạng Trần Quý Cáp,cùng với lăng mộ danh nhân Phạm phú Thứ. Danh xưng Trần quí Cáp được dùng làm tên trường Trung học Đệ nhị Cấp tại Hội An,một ngôi trường Trung học Đệ nhị Cấp khá danh tiếng vì là học sinh học giỏi,thầy giáo dạy giỏi dưới thời Việt Nam Cộng Hòa cho mãi đến năm 1975 lúc bị mất nước.
Đặc biệt dưới thời quân chủ nhà Nguyễn,một kỳ thi do Triều Đình Huế tổ chức năm 1898 tại Huế,Quảng Nam chiếm bảng vàng với danh hiệu “Ngũ Phụng Tề Phi” trong đó Điện Bàn đã chiếm 4/5 gồm các ông : PHạm Liệu,quê làng Trường Giang xã Điện Trung; Ông Phạm Tuấn làng Xuân Đài, Điện Quang là hai Tiến sĩ,cùng hai Phó Bảng là Ông Ngô Chuân làng Cẩm Sa,Điện Nam,Ông Dương Hiển Tiên làng Cẩm Lậu xã Điện Phong.
Quận Điện Bàn có di tích cổ là Dinh Trấn thời Chúa Nguyễn tại làng Thanh Chiêm,nơi đây là Dinh trấn khởi đầu được xây dựng dưới thời Chúa Nguyễn Hoàng khởi nghiệp với ý tưởng hướng về phương Nam, được xây dựng vào năm 1602,cũng là nơi dùng làm điểm tựa trong công cuộc Nam tiến sau nầy.Dinh trấn Thanh Chiêm nằm trên địa bàn xã Điện Phương,và nơi đây cũng được gọi với tên là Dinh Trấn Quảng Nam suốt cả trong thời kỳ quân chủ nhà Nguyễn.Cửa ra đường để đi xuống phố Hội An được gọi với tên là “Cửa Tứ”,tôi chỉ biết như vậy nhưng không biết về xuất xứ của tên gọi nầy đã được dùng từ lúc nào!.Dinh trấn xưa đã bị lấp sâu trong lòng đất và đã được các nhà khảo cổ khai quật để tìm dấu tích các di vật cổ xưa, khá thành công. Dinh trấn Thanh Chiêm cũng là nơi ra đời đầu tiên chữ Quốc Ngữ tại tỉnh Quảng Nam,thuộc vào thời kỳ chữ quốc ngữ ra đời đầu thế kỷ 20 với phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội.. Hiện nay, nơi đây là Quận lỵ quận Điện Bàn,và Thanh Chiêm còn có ngôi Đình làng Thanh Chiêm một ngôi đình có niên đại khá cổ kính.
-Quận Hòa Vang:
Một số nét về vị trí địa lý quận Hòa Vang: Quận Hòa Vang nằm về phía tây thành phố Đà nẵng,các quận thuộc thành phố Đà nẵng đều giáp biển,ngoại trừ xã Cẩm Lệ. Quận Hòa Vang đều tiếp giáp với các quận huyện thuộc thành phố Đà nẵng ( ngoại trừ quận Sơn Trà,Hải Châu,Thanh Khê,bao gồm các quận Ngũ hành Sơn,Liên Chiểu,Cẩm Lệ); Phía Bắc giáp quận Phú Lộc tỉnh Thùa Thiên-Huế; Phía tây giáp quận Nam Đông tỉnh Thừa Thiên-Huế; và quận Đông Giang tỉnh Quảng Nam;Phía Nam giáp quận Đại Lộc và thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam.
Quận Hòa Vang hầu như không có những di tích cổ nào đáng kể.chỉ có núi Bà Nà thuộc xã Hòa Ninh là di tích lâu đời đáng kể nhất, bên cạnh đó còn có Suối Mơ thuộc xã Hòa Ninh đã trở thành một thắng cảnh.
Một số đặc điểm khác về quận nầy gồm có:
Sông ngoài gồm: Sông Yên,sông Cầu Đỏ,sông Hàn,sông Lỗ Đông,sông Túy Loan,sông Cu Đê,sông Bắc,sông Nam,sông Gha Nay.
Các hồ nước: Hồ Hòa Trung (nằm trên địa phận xã Hòa Liên và Hòa Ninh).
Núi: có Hòn Chan cao 1528m, Khé Khato cao 1038 m; Đỉnh núi Mang cao 1712m; Khé Xương cao 1178m tất cả đều nằm trên địa phận xã Hòa Bắc..
Đèo: gồm đèo Đê Bay (xã Hòa Bắc),đèo Đại La nằm giữa ranh giới xã Hòa Sơn,huyện Hòa Vang và phường Hòa Khánh,quận Liên Chiểu.
Quận Đại Lộc:
Đại Lộc còn lưu lại khu Đình Làng rất cổ được xây dựng vào thời còn mang tên là Hóa Châu tại làng Phiếm Ái,thuộc xã Đại Nghĩa,quận Đại Lộc. Ngôi đình được nằm bên bờ sông mẹ Vu Gia thuộc làng Đại Nghĩa,nơi đây là vùng đất thuộc địa phận Champa,đã trở thành lãnh thổ Đại Việt sau cuộc hôn nhân của Công Chúa Huyền Trân thời nhà Trần (Trần Nhân Tông).Xác định thời gian hình thành ngôi đình bởi tám chữ nơi tấm hoành phi còn lại “ Hóa Châu lai tích,Ái thổ triệu cơ” đã nói lên gốc tích các bậc Tiền Nhân.
Ngôi làng được khoát tên là Phiếm Ái,chưa có sách vở nào giải thích cho rõ nghĩa hai từ nầy “Phiếm Ái” ,nhưng các bô lão trong làng được truyền miệng mà kể về điển tích mang tên làng Phiếm Ái như sau: Chữ “Phiếm” viết có bộ thủy (…), nghĩa là chèo thuyền,chữ “Ái” viết theo nghĩa yêu thương,đùm bọc,hai từ nầy ghép lại và dịch ra nghĩa tiếng nom,là ngôi làng nằm nơi ven sông nước,mà dân chúng có tinh thần đùm bọc lẫn nhau.Còn một cách giải thích khác nữa “Phiếm ái” là lòng yêu rộng rãi,bao khắp mọi loài .Tất cả cách lý giải trên đều là giả thiết, cho đến thời điểm nầy tên làng Phiếm Ái vẫn không biết ai là người đặt ra!
Qua quá trình biến thiên của lịch sử,làng Phiếm Ái có rất nhiều đổi thay qua nhiều thời đại,hiện nay làng Phiếm Ái gồm hai thôn Phiếm Ái I và Phiếm Ái II thuộc xã Đại Nghĩa,quận Đại Lộc,Quảng Nam.
Đình làng Phiếm Ái được cấu trúc theo lối rất xưa, gồm ba gian thờ,gian giữa thờ Thành Hoàng của làng,hai gian còn lại thờ vị Tiền Hiền,các vị hậu hiền cùng những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ và xây dựng ngôi làng,ngoài ba gian thờ trên,đình làng còn có phần hậu tẩm để làm nơi trú chân cho các quan chức từ các cấp Phủ,Huyện,Tỉnh đến công tác tại Làng dùng để nghỉ trong thời gian thi hành nghĩa vụ.
Trên cùng, nơi gian giữa có treo một bức hoành phi với ba chữ “Phiếm Ái Đình”,bên dưới nơi hai cây cột tại gian giữa có hai câu đối bằng chữ nho như sau:
“Phiếm địa căn cơ tích đức tiền nhân sinh phú quý
Ái giang lạc nghiệp phước lưu hậu thế đắc quang vinh”
Dịch nghĩa:
“ Đất Phiếm Ái nhờ đức tiền nhân sinh giàu có thịnh vượng
Sông Phiếm Ái nhờ phước mà thế hệ sau rạng rỡ,thành công”
Ngoài ngôi đình cổ Phiếm Ái,Đại Lộc còn có rất nhiều ngôi chùa được xây dựng từ các thời Chúa Nguyễn, cùng triều đại thuộc các vua nhà Nguyễn,đó là nơi che chở tâm linh cho bao thế hệ người dân sinh sống trong vùng mà được kể đến là: chùa Cổ Lâm, chùa Phước Định (xã Đại Đồng); chùa làng Phổ Khánh (xã Đại An); chùa Linh Sơn (xã Đại Nghĩa) chùa Phổ Minh (xã Đại Hòa); chùa Bàng Thạch,chùa Trúc Lâm (xã Đại Quang) và Am Thông tại Bằng Am (xã Đại Hồng).
Nổi tiếng với người con Đại Lộc là nhạc sĩ Trầm tử Thiêng,đã viết “ Chuyện một chiếc cầu đã gãy” vào tết Mậu Thân tại Huế.,cùng rất nhiều bản nhạc nổi tiếng khác để vinh danh cái oai dũng của Quân lực VNCH,khi ông gia nhập Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng cục Chiến Tranh Chính trị trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH như là: Quân trường vang tiếng gọi/Đêm di hành/ Mưa trên Poncho v..v.
* Ngoài các Quận Tỉnh Quảng Nam còn có Thành phổ Hội An:
Ngoài các quận thuộc tỉnh được nêu trên,tỉnh Quảng Nam đặc biệt còn có thành phố Hội An,một thành phố trực thuộc dưới sự quản lý của tỉnh mà là một thành phố cổ, địa danh nầy chúng ta được biết đến từ thời Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ tại Trấn Thanh Chiêm cho đến bây giờ.
Vị trí địa lý: Thành phố Hội An nằm bên bờ Bắc thuộc hạ lưu sông Thu Bồn,cách quốc lộ IA khoảng 9km về phía Đông,cách thành phố Đà Nẵng khoảng 25 cây số về phía Đông-Nam. Và cách thành phố Tam Kỳ khoảng 50km về phía Đông Bắc. Gồm có 9 Phường là: Minh An,Sơn Phong,Cẩm Phô,Tân An, Thanh Hà, Cẩm Châu, Cẩm An, Cửa Đại,Cẩm Nam, và 04 xã Cẩm Thanh,Cẩm Kim,Cẩm Hà và Tân Hiệp (tức cụm đảo Cù Lao Chàm).
Hội-An là một thành phố cổ có tuổi thọ không thể tính chính xác được, bởi lúc còn nằm trong lãnh thổ người Champa.Chỉ tính được lúc mà Hội An trở thành một thương cảng của xứ Đàng trong,dưới triều các Chúa Nguyễn, lúc bấy giờ Hội An như là một thương cảng Quốc Tế,rất sầm uất,là nơi gặp gỡ của các thương thuyền từ Nhật Bản,Trung Quốc và các nước phương Tây trong suốt các thế kỷ XVII và XVIII.Trước thời các Chúa Nguyễn cai quản,nơi đây đã có dấu vết của một thương cảng người Champa,thường được nhắc đến với con đường tơ lụa trên biển.Đến thế kỷ thứ XIX,con sông Cổ Cò bị lấp,việc đi lại bằng thuyền từ Miền ngoài (Đà nẵng) vào Hội An bị trở ngại, do vậy mà thương cảng Hội An bị suy thoái,để nhường chỗ cho Đà nẵng lúc mà người Pháp đang xây dựng.
Trong hai cuộc chiến tranh,Hội An may mắn không bị tàn phá,nên còn lưu lại được nhiều vật thể là nhà cửa cổ gồm những ngôi nhà theo lối kiến trúc truyền thống có niên đại từ thế kỷ thứ XVII đến XIX,hiện nay nằm trên các khu phố hẹp bên trong con đường Bạch Đằng là con đường Cường Để tiếp theo là Nguyễn Thái Học (xưa),dọc theo hai bên các con đường nầy, hiện còn có khá nhiều ngôi nhà cổ quí hiếm, là di sản cổ xưa được công nhận trên bình diện di sản quốc gia, tiêu biểu cho hình ảnh phố cổ của Quảng Nam cũng là của cả Miền Trung,Việt Nam.

(hình ảnh khu phố cổ Hội An)
Không phải Hội An mới được xuất hiện vào đời Chúa Nguyễn,mà Hội An đã có một thời kỳ được gọi là tiền Hội An,nơi đây đã từng tồn tại cả hai nền văn hóa lớn là văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Champa. Năm 1937,nữ học giả Madeleine Colani đã xác nhận nền văn hóa Sa Huỳnh tại vùng nầy,chỉ riêng trong khu vực thành phố Hội An đã phát hiện được 50 địa điểm là di tích của nền văn hóa nầy, phần lớn tập trung nơi các cồn cát ven sông Thu Bồn cũ,đặc biệt phát hiện hai loại tiền đồng Trung Quốc thời Hán,những hiện vật sắt kiểu Tây Hán là những minh chứng, ngay từ đầu công nguyên nơi đây đã có sự giao dịch ngoại thương.Tuy khu vực Hội An không tìm được những chứng tích của thời kỳ đầu và giữa,nhưng mãnh đất nơi đây đã từng tồn tại và đã có sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh.
Tiếp theo nền văn hóa Sa Huỳnh,suốt từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 15,một dãi đất Miền Trung nằm dưới sự cai trị của Champa,di tích đặc trưng của nền văn hóa nầy là các nhóm điện thờ đạo Hidu,phân bố dọc từ miền Trung cho đến miền Nam,mà một trong những trung tâm đó nằm trong khu vực sông Thu Bồn.Ở đây cho chúng ta thấy một thủ phủ mang tính chính trị là tại Trà-Kiệu và một số trung tâm mang tính tôn giáo.Những dấu tích Champa còn tồn tại,những giếng nước,những pho tượng Chăm cùng những di vật của người Đại Việt,Trung Hoa,các nước Trung Đông từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 14, đã chứng minh làm sáng tỏ giả thuyết nơi đây đã từng có một Lâm-Ấp phố, với một cảng biển là Đại Chiêm phát triển một cách hưng thịnh. Nhiều thư tịch cổ ghi nhận trong suốt một thời gian dài Chiêm Cảng-Lâm Ấp phố, đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự phồn vinh đối với kinh thành Trà Kiệu,bên cạnh đó là khu đền tháp Mỹ Sơn. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh với Đại Việt vương quốc Champa đã bị Đại Việt đẩy lui về phương Nam,Hội An được biết đến cũng kể từ đó.,nhưng mãi về sau nơi đây mới phát triển thành một khu vực thương mại sầm uất.Như vậy Hội An được hình thành là dựa trên sự kế thừa cảng biển của Champa,người Việt mới bắt đầu tới đây vào thế kỷ thứ 15,đó là bước chuẩn bị cho sự ra đời của đô thị Hội An.
Người Hoa đã biết về thương cảng nầy rất sớm, khi thương cảng nầy còn nằm trong tay người Champa,đến khi người Việt thay thế người Champa,các thương nhân Trung Hoa vẫn tiếp tục đến buôn bán,vì các tỉnh miền Nam Trung Quốc rất cần các mặt hàng là muối,vàng và quế,mặc dầu vậy trong suốt thời kỳ tiền Hội An,người Hoa tới buôn bán rồi lại quay về,không định cư lập phố,cho mãi đến sau thời Minh-Thanh xảy ra giữa thế kỷ thứ 17,và đặc biệt hơn là khi nhà Minh thất thủ dưới tay nhà Thanh,nhiều người Hoa mới di cư đến miền Trung Việt Nam và xây dựng nhiều cộng đồng Minh Hương Xã.Và tại Hội An mỗi ngày người Hoa đến lưu trú một nhiều và lấn chân người Nhật nắm quyền buôn bán tại thương cảng nầy,mà đa phần là người Phúc Kiến,họ ăn vận theo kiểu y phục nhà Minh,họ đến buôn bán rồi kết hôn với người Việt,đồng thời nhiều người đã nhập quốc tịch Việt.Một số người Hoa khác vẫn giữ quốc tịch Trung Quốc và được người Việt gọi với tên là Khách Trú.
Vào năm 1567,triều đại nhà Minh của Trung Quốc từ bỏ chủ trương bế quan tỏa cảng,cho thuyền buôn vượt biển giao thương với các quốc gia vùng Đông Nam Á. Nhưng vẫn cần xuất khẩu một số nguyên liệu quan trọng cho Nhật Bản. Điều nầy đã bắt buộc chính quyền Nhật Bản cấp phép cho các thuyền buôn Nhật Bản sang mở rộng thông thương với các xứ Đông Nam Á để mua lại các hàng hóa của Trung Quốc từ các xứ đó.Từ 1604 cho tới năm 1635,khi chính sách đóng cửa của chính phủ Nhật ra đời đã có ít nhất 356 con tàu là thuyền buôn người Nhật đã qua Việt Nam, một số cập bến Đông Kinh phía đàng ngoài do Chúa Trịnh cai quản,nhưng vẫn ít hơn thương cảng Hội An.Người Nhật đến Việt Nam họ bán các thứ đồ đồng,tiền đồng,sắt và đồ gia dụng, rồi mua lại của người Việt đường,tơ lụa và trầm hương. Người Nhật cũng đã xây dựng các khu phố để cư trú lâu dài trong lúc họ đến để buôn bán. Nhưng vào khoảng thời gian sau đó, do chính sách bế quan của nhà nước Nhật,bên cạnh là chính sách đàn áp người Nhật công giáo của chúa Nguyễn,các khu phố Nhật tại Hội An dần dần bị lu mờ.,mặc dầu vẫn còn một số người Nhật ở lại và định cư tại đây,nhưng người Hoa dần dần đã thay thế người Nhật trong việc buôn bán tại thương cảng Hội An.
Năm 1695,một sứ giả người Anh là ông Thomas Bowyear thuộc công ty Đông Ấn-Anh,đến đàm phán với chúa Nguyễn về việc xây dựng một khu cư trú tại Hội An.Công việc thương thảo tuy bất thành,nhưng đã để lại một ghi chép,giúp ta hiểu về tình hình của thương cảng nầy.
“ Khu phố FaiFo nầy có một con đường nằm sát mé sông. Dọc theo ven đường nầy có khoảng 100 ngôi nhà được xây dựng san sát nhau. Ngoại trừ khoảng bốn năm ngôi là của người Nhật,còn lại toàn bộ là của người Hoa. Trước kia,người Nhật đã là cư dân chủ yếu của khu phố nầy và là chủ nhân phần lớn của các hoạt động thông thương ở bến cảng Hội An. Bây giờ,vai trò thương nghiệp chính đã chuyển giao cho người Hoa. So với thời kỳ trước thì không được sầm uất,nhưng hằng năm ít nhất cũng có từ 10 đến 12 tàu của nước Nhật Bản,Quảng Đông,Xiêm,Camphuchia,manila và có cả tàu của Indonesia,cũng đến cảng thị nầy”.
Di tích cổ nhất tại Hội An còn lại là chùa Cầu,

Chùa Cầu còn có tên khác là Chùa Nhật Bản,cây cầu có chiều dài 18 mét,bắt qua một lạch nước chảy ra sông Thu Bồn.Bây giờ chùa Cầu đang nối liền hai con đường là Trần Phú với Nguyễn minh Khai. Con đường Trần Phú thuộc phường Minh Anh dài 1km,một đầu nối với đường Hoàng Diệu đầu còn lại là nối với chùa Cầu,đây là tuyến đường nằm nơi vị trí trung tâm thành phố.Hai con đường cả Trần Phú và Nguyễn thị Minh Khai,vào thời VNCH mang tên (quên).Trên con đường Trần Phú hàng tháng đều có lễ hội đèn lồng cuốn hút du khách tham quan tại thành phố nầy,người dân sống trên con đường nầy đã thực hiện cách thắp đèn lồng bằng giấy để kỷ niệm đêm trăng tròn hằng tháng,và đã thực hiện trong nhiều thế kỷ trước đây.Trải qua bao thăng trầm của lịch sử,con đường Trần Phú nầy vẫn giữ được nét đẹp cổ kính,trang trí bởi các mái nhà mái ngói rêu phong với những hàng quán nhỏ dưới những giàn hoa giấy khoe sắc rực rỡ.Con đường nầy vào thời Pháp có tên là Rue du Pont Japonnais (tức phố cầu Nhật Bản). Trước năm 1947,ngoài tên tiếng Pháp,con đường còn có tên tiếng Việt là Nguyễn Huệ,từ năm 1947 đến năm 1955 con đường được đổi tên là đường Chùa Cầu đoạn từ chùa Cầu đến chợ Hội An và nối tiếp (đoạn từ chợ Hội An đến hết nhà máy đèn). Các con đường khác trong khu phố cũng được đổi tên căn cứ theo khu vực cư trú của người Hoa, hoặc đặc tính của con đường đó vào lịch sử như: đường Quảng Triệu là Châu thượng Văn, Đường Quảng Đông là Nguyễn Thái Học,Đường Minh Hương là Phan Châu Trinh,Đường Phật Học là Hai Bà Trưng,Đường Chợ là Trần quý Cáp,Đường Quảng Nam là Trần hưng Đạo.Ngày 23 tháng 5 năm 1955 Tòa Đại Biểu Chính phủ tại Trung Nguyên,Trung Phần có nghị định đổi tên đường Nguyễn Huệ thành Cường Để kéo dài từ chùa Cầu đến nhà Máy đèn (gồm đường Chùa Cầu và đường nhà máy đèn trước đó) Sau năm 1975 chính quyền dưới chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ( tức Cộng Sản) đổi tên đường Cường Để thành đường Trần Phú, và giữ tên nầy cho đến ngày nay. Dọc theo con đường nầy có rất nhiều hội quán thuộc các cộng đồng người Quảng Đông,Quỳnh Phú,Phúc Kiến, Triều Châu cùng với miếu Quan Công,Bảo tàn lịch sử,Bảo tàn văn hóa Sa Huỳnh,Bảo tàn văn hóa Hội An.Tại điểm nầy còn có các góc đường rất đẹp dùng cho du khách dừng chân để chụp hình như góc đường Trần Phú- Trần quí Cáp,ngã tư Trần Phú-Lê Lợi . v…v.
Hội An,ngoài các di vật vật thể như Chùa Cầu, Hội An còn có các khu nhà cổ trên đường Nguyễn Thái Học,các hội quán lâu đời như chùa Chúc Thánh được xây dựng sớm nhất vào năm 1454 cách phố cỗ chừng 2km.Vùng ngoại ô có chùa Phước Lâm,chùa Vạn Đức,chùa Kim Bửu,chùa Viên Giác được xây dựng muộn hơn vào thế kỷ 20,bên cạnh đó có ngôi chùa nổi bậc mới được xây sau vào năm 1909.
Con đường Trần Phú,nhà cửa cái lồi ra,cái thụt vào không được nhất thống một kiểu,nên được cho là khu phố dỡ dang,bởi lẻ ngân sách dưới thời trước (chính phủ Trung Việt) bị eo hẹp chưa có thể đài thọ cho việc bồi thường cho các chủ nhà sẽ bị thiệt thòi nếu bị qui hoạch để sửa chửa. Do vậy những người đã lo cho việc quy hoạch đã thụt nhà vào trước,thì ở trong dạng bị thụt sâu vào,còn lại một số khác chưa thực hiện thì vẫn giữ nguyên dạng cũ,do vậy nên khu phố nầy nhà cửa trong dạng thụt vào lồi ra, cho đến bây giờ và có lẽ sẽ bị dang dỡ vĩnh viễn không được thực hiện trọn vẹn.
Hội quán Triều Châu,hội quán Quảng Triệu,Hội Quán Hải Nam , có nết kiến trúc độc đáo ngay giữa lòng phố cổ.Không những là nơi biểu thị bản sắc văn hóa mà còn là nơi thờ cúng các vị thần để cầu mong cho sự may mắn,nhất là mưa thuận,gió hòa.
Hội quán Tiều Châu ở Hội An còn được gọi là chùa “Âm Bổn” hoặc chùa “Ông Bổn” mà người dân địa phương tại nơi nầy thường gọi.Đây là nơi gặp gở của cộng đồng người Triều Châu,cũng là nơi thể hiện tín ngưỡng đối với người dân Triều Châu tại Hội An.Các hội quán khác cũng mang cùng ý nghĩa trên.
Việc thương mại tại thương cảng Hội An được ghi nhận như sau:
Vào năm 1776,lúc ông Lê Quí Đôn được bổ dụng vào làm Hiệp trấn Thuận Quảng,ông đã viết sách “Phủ Biên tạp Lục” một bộ sử kÝ được đánh giá cao về phương diện sử học.Tình hình khinh tế tại Quảng nam được ông ghi nhận: …Có người thương khách họ Trần từ Quảng Đông đã kể lại rằng: Thuyền từ Quảng Đông đến Sơn Nam (Nam Định) chỉ mua được một món là củ nâu. Thuyền vào xứ Thuận Hóa cũng chỉ mua được một thứ là hồ tiêu. Nhưng thuyền đến xứ đàng trong Quảng nam thì mua được hàng trăm phẩm vật,không món gì là không có,các phiên bang không nước nào sánh kịp.Các phẩm vật sản xuất tại các phủ Thăng Hoa,Điện Bàn, Quảng Ngãi,Qui Nhơn đi bằng đường thủy,đường bộ,tức đi bằng thuyền,bằng ngựa đều tập trung về phố Hội An.mà cho cả trăm chiếc thuyền lớn mua và chở cũng không hết.Người Âu Châu đến để mua các sản vật như tơ sống,gỗ quý,trầm hương,kỳ nam,đường cát,quế, tiêu, gạo… và bán các sản phẩm như đồ sành,đồ sứ,bạc thoi,binh khí,diêm sinh,chì ,kẽm và vải vóc các loại.Coi ra xứ Đàng trong,mà thương cảng Hội An là điểm đại diện cho sự phồn vinh cho cả xứ nói chung,mà Quảng Nam là nơi trực tiếp nói riêng là một nền kinh tế phồn thịnh vào lúc nầy.Một đoạn lịch sử giúp chúng ta hiểu về nền kinh tế của xứ Quảng Nam ta,đó là lý do nơi đây là địa đầu của việc di dân vào thời kỳ đầu việc Nam tiến thời chúa Nguyễn.

(Đây lá mặt tiền Hội quán Triều Châu)
Trở lại với địa hình Quảng Nam một vùng đất hẹp miền Trung Bộ VIệt Nam.
Địa hình Quảng nam có mấy điểm đặc biệt nhìn thấy: thấp dần từ tây sang đông, chia lãnh thổ ra làm ba vùng: Phía tây là vùng núi,đoạn giữa được gọi là vùng Trung du.Giáp với vùng trung du là vùng đồng bằng hẹp chạy dài đến giáp với bờ biển phía đông. Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu gió mùa, nhiệt độ trung bình là 25 độ C. Lượng mưa luôn tập trung vào ba tháng mùa mưa là tháng 10,11 và tháng 12 với lượng mưa từ 2.000 -2.500 mm,thường đổ vào hai lưu vực sông chính là sông Thu Bồn+ Vu Gia và sống Tam Kỳ.
Nhìn chung,chúng ta thấy Quảng Nam có địa hình nghiêng dần từ tây sang đông chia hệ sinh thái ra làm ba vùng khá rõ rệt,phía tây là núi cao có nhiều ngọn cao trên 2.000m như núi Lum Heo cao 2.045m,núi Tion cao 2.032m,núi golelang cao 1.855m nằm trong phạm vi huyện Phước Sơn.Núi Ngọc Linh cao 2.598m nằm giữa ranh giới Quảng Nam và Kon-Tum là đỉnh cao nhất của dãy Trường Sơn.Tổng thể núi non đã chiếm đến 72% diện tích mặt bằng của toàn tỉnh.
Một điểm đặc biệt khác nữa dọc theo vùng ven biển miền đông, Quảng Nam có sông Trường Giang chạy dọc từ xã Điện Ngọc, Điện Bàn cho đến Tam Quang của Quận Lý Tín cũ (Núi Thành), đây là con sông không có nguồn,mực nước sông cao thấp là tùy vào nước biển lên,xuống.Tuy vậy,đây là con đường thủy giao thông tiện lợi nhất giữa các quận huyện trong tỉnh ngày trước.Ngoài ra còn được nối từ thành phố Đà-Nẵng với thành phố Hội An cũng bằng một con sông nhỏ hơn được gọi là sông Cổ Cò ( sông nầy bây giờ đã bị lấp).Mặt bằng thuộc tỉnh được chia thành nhiều khu vực do bởi các con sông lớn là Thu Bồn và Tam kỳ tạo nên.
Bờ biển tỉnh Quảng nam kể cả thành phố Đà Nẵng dài gần 200km có nhiều bãi biển tắm thuận lợi, tại vùng Đà Nẵng có bãi Mỹ Khê,Thanh Khê, Điện Bàn có bãi Hà My.Hội An có Cửa Đại,Thăng Bình có bãi Biển Bình Minh (Bình Đào) Tam kỳ có bãi Tam Thanh,Núi Thành (Lý Tín) có Bãi Rạng .Từ Cửa Đại nhìn qua có cụm đảo với tên Cù Lao Chàm, có hệ sinh thái phong phú được công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới, nơi đây cũng là điểm du lịch được nhiều người ưa chuộng,nhưng các du khách cũng cần phải lưu ý vùng nước biển đoạn giữa Cửa Đại và Cù Lao Chàm,sóng biển khá nguy hiểm,do vậy mỗi ngày tàu ra Cù lao Chàm phải trở về cửa Đại luôn luôn là vào khoảng 1 giờ chiều,để tránh cái nguy hiểm trên,nên những người muốn đến cù lao Chàm trong ngày thì khá bị thiệt thòi.
____________________
SỰ PHÂN CHIA VÀ SÁP NHẬP CÁC QUẬN HUYỆN THUỘC TỈNH QUẢNG NAM QUA CÁC
TRIỀU ĐẠI KỂ TỪ THỜI TIỀN CHÚA NGUYỄN ĐẾN TRIỀU ĐẠI CHXHCN/VN 2025
Sau khi hình thành nên lãnh thổ tỉnh Quảng Nam vào thời vua Minh Mạng 1832.,giúp ta có thể nhận dạng vùng lãnh thổ Quảng nam qua các giai đoạn thăng trầm theo lịch sử dựng nước và giữ nước của tiền nhân.
Khởi đầu ta chỉ nhìn thấy vùng lãnh thổ nằm trên đất Quảng Nam sau nầy chỉ được tính từ phía bắc sông Thu Bồn ra đến chân đèo Hải Vân,vùng lãnh thổ ấy đang dính chung vào với lãnh thổ của xứ Thuận Quảng tức Hóa Châu ,sau cuộc hôn nhân chính trị dưới triều đại nhà Trần ( Công Chúa Huyền Trân được gã đến Champa).
-Năm 1402 Nhà Hồ (tức Đại Ngu) sau cuộc bình Chiêm của vua Hồ Hán Thương,vua Chiêm phải cắt dâng hai động là Chiêm Động (Đồng Dương , Thăng Bình) và Cổ Lũy (Quảng Ngãi). Nhà Hồ chia vùng đất mới nầy thành bốn châu “Thăng,Hoa,Tư,Nghĩa”.Lãnh thổ Quảng nam có thể nhìn thấy là vùng Thăng,Hoa, và giáp với Tư Nghĩa tại sông Bến Ván ( ranh giới phía nam quận Lý Tín cũ).
Vào thời nhà Hồ cai trị Đại Việt, nhà Minh bên Tàu lấy cớ hổ trợ cho Chiêm Thành lấy lại toàn bộ lãnh thổ đã mất vào tay nhà Hồ và lấy luôn ra đến hết vùng Hóa Châu (tức phía Nam thành Huế).Dân Đại Việt trước đó vào khai khẩn vùng đất nầy đã phải ở mà chung sống với người Champa, phải chịu sự quản lý của nhà nước Champa gần 270 năm,đó là một khoảng thời gian rất dài để hình thành nên sự pha trộn giọng nói Việt Chiêm,tạo nên giọng nói có âm tiết rất nặng của người Quảng Nam vẫn đang còn giữ mãi cho đến ngày nay.
-Năm 1418 Lê Lợi khởi binh đánh quân Minh mãi cho đến năm 1428 Lê Lợi mới toàn thắng quân Minh,vua Lê thái Tổ mới tính đến việc bình Chiêm,trong cuộc chiến bình Chiêm lần nầy, nhà vua đã đưa quân vào đóng tại Đồng Dương kinh đô Champa trước khi nhà nước nầy di chuyển vào Đồ Bàn.Đóng quân trên vùng lãnh thổ nầy suốt một năm mới rút về.Và như vậy vua Lê Thái Tổ đã thu phục lại toàn vẹn giang sơn đã mất,về chính trị vua Lê Thái Tổ chia Cả nước ra làm 5 đạo mà dưới đạo là Trấn,Phủ,Châu,Huyện.Vùng đất trên lãnh thổ Quảng Nam vào giai đoạn nầy được tính từ bắc sông Thu Bồn trở ra đến nam Thừa Thiên tức chân đèo Hải Vân.Nhưng vùng đất nầy đang được gọi là vùng ky my (tức việc cai trị lõng lẽo) trên danh nghĩa vùng đất nầy thuộc về lãnh thổ Đại Việt,nhưng thực tế người Champa vẫn lui tới và quảng lý. Đến năm 1471,vua Lê Thánh Tông mở cuộc hành quân bình Chiêm lần nữa, lãnh thổ Đại Việt lại được mở rộng đến đèo Cù Mông. Lãnh thổ Quảng Nam được gộp chung trong đơn vị hành chánh thứ 13 của nhà vua được gọi chung với danh xưng là “Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam”, lãnh thổ Quảng Nam chỉ là một phần nhỏ khi được tính đến chân đèo Hải Vân tức mới nửa phần ngoài của đất Quảng nam,và các châu Tư, Nghĩa, cùng với đất kinh đô Chà Bàn(Hoài Nhơn) như vậy gồm cả Quảng Nam,Quảng Ngãi và Bình Định bây giờ.Danh xưng Quảng Nam mới vừa được xuất hiện lần đầu tiên vào lúc bấy giờ nằm chung trong danh xưng là “Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam”..
Giá trị đặc trưng của khu vực đạo Thừa Tuyên Quảng Nam vào thế kỷ thứ 15 nầy,nó bao gồm một vùng lãnh thổ rộng lớn từ Thuận Hóa vào đến núi Thạch Bi (Phú Yên) bao gồm cả vùng núi,đồng bằng,các vùng bờ biển và cả các hải đảo chạy dọc theo vùng lãnh thổ và như vậy được gọi chung là Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam.Và kể từ đây về sau danh xưng Quảng Nam được thay đổi nhiều lần theo sự biến thiên của lịch sử.
Với 550 năm danh xưng Quảng Nam.
Năm Hồng Đức thứ hai,vào ngày 6 năm Tân Mão,vua Lê Thánh Tông cho thành lập khai sáng Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam,thành Đạo thừa tuyên thứ 13 của quốc gia Đại Việt.Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam lúc nầy bao gồm một vùng lãnh thổ rộng lớn được tính từ Nam sông Thu Bồn đến Bắc đèo Cù Mông,tỉnh Bình Định ngày nay gồm 3 Phủ,9 huyện. 1) Phủ Thăng Hoa gồm 3 huyện: Lệ Dương, Hà Đông và Hy Giang (tương đương phần đất từ Nam sông Thu Bồn đến Dốc Sỏi tức địa giới tỉnh Quảng Nam với Quảng Ngãi ngày nay); Phủ Tư Nghĩa gồm 3 huyện: Nghĩa Sơn,Bình Sơn và Mộ Hoa (tương ứng với vùng đất tỉnh Quảng Ngãi ngày nay); Phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện Bồng Sơn,Phù Ly và Tuy Viễn (tương ứng với tỉnh Bình Định ngày nay.
Với “Năm trăm rưởi năm (550), Danh xưng Quảng Nam lại được thay đổi nhiều lần từ Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam đến Xứ Quảng Nam (1490), Trấn Quảng Nam (1520).Và vào đời Gia Dũ Nguyễn-Hoàng 1602 gọi là: , Dinh Quảng Nam ,đó là các danh xưng được gọi vào các thời xa xưa.Đặc biệt với hai từ “ Quảng Nam”,vị vua anh minh Lê Thánh Tông đời nhà Lê,đã có một định hướng cho sự lựa chọn với tầm nhìn chiến lược, mang đầy ý nghĩa đã đặt tên cho vùng đất mới là “Quảng-Nam”.Chữ Quảng Nam mang ý nghĩa Là mở rộng về phương nam.
-Vào đầu đời nhà Nguyễn,mới đổi huyện Lệ Dương thành huyện Lễ Dương;sau sáp nhập một phần vào huyện Duy Xuyên; và huyện Quế Sơn thì thuộc vào Phủ Thăng Bình,tỉnh Quảng nam.
-Huyện Hà Đông mãi đến đời Thành Thái thứ 10 (1896) mới được gọi là phủ Tam Kỳ. Gồm có thị xã Tam Kỳ,huyện Núi Thành (Lý Tín cũ),huyện Tiên Phước và Trà Mi ngày nay.
-Huyện Hy Giang tức là Phủ Duy Xuyên,sau đổi thành huyện Duy Xuyên.
-Huyện Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) tức là phủ Tư Nghĩa,vào đời Nguyễn Hoàng được gọi là phủ Tư Nghĩa và được đổi thành phủ Quảng Nghĩa. Vào đời nhà Tây Sơn đổi thành là Hòa Nghĩa.Từ Hòa Nghĩa trở vào Nam thuộc quyền Trung Ương Hoàng Đế Nguyễn Nhạc.Từ Phủ Thăng Hoa,Phủ Điện Bàn trở ra thuộc quyền Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. (theo xứ Đàng trong của Phan Khoang).
-Mộ Hoa,vào đời Thiệu Trị đổi thành Mộ Đức (vì kỵ húy chữ Hoa).
-Đời Thành Thái chia Nghĩa Giang thành 2 là Nghĩa Hành và Tư Nghĩa.
-Tuy Viễn :nay là huyện Tuy Phước và An Nhơn.Từ huyện Tư Nghĩa trở vào nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Như vậy Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam vào thế kỷ thứ XV bao gồm một vùng đồng
bằng rộng lớn từ Nam Thuận Hóa vào đến núi Thạch Bi (nay thuộc vào tỉnh
Phú Yên). Do vậy, cả khu vực từ đồng bằng,cả rừng núi và các hải đảo dọc
theo vùng lãnh thổ trên, đều thuộc vào “Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam).
Sách Thiên Nam dư hạ tập cho rằng đời Hồng Đức khi vẽ bản đồ Đại
Việt,thì Quảng Nam Thừa Tuyên sứ *ti,*thống lãnh ba phủ,chín huyện.Phủ
Thăng Hoa có ba huyện: là Lệ Dương gồm 9 tổng,73 xã; Huyện Hy Giang gồm
8 Tổng,58 xã; Huyện Hà Đông gồm 8 Tổng; 46 xã. Phủ Tư Nghĩa có 3 Huyện:
Nghĩa Giang 12 tổng, 93 xã; Huyện Bình Sơn có 6 Tổng,70 xã; Huyện Mộ Hoa
có 6 Tổng,53 xã. Phủ Hòa Nhơn có 3 huyện; Huyện Bồng Sơn có 7 Tổng,32
xã; Huyện Phù Ly có 6 Tổng, 60 xã, huyện Tuy Viễn gồm có 6 Tổng ,…xã,
và Phủ Điện Bàn lúc ấy có 5 huyện: Tân Phú,Yến Nông.Hòa Vang,Diên Khánh
và Phú Châu có biên giới từ đỉnh đèo Hải vân (Đồn Nhất) vào đến sông Thu
Bồn.
Vào đời Chúa Tiên,ông xem vùng đất Quảng Nam là vùng đất yếu hầu của vùng Thuận Quảng,ông đã cho người con thứ 6 của mình là Nguyễn Phúc Nguyên vào trấn giữ,lập nên dinh trấn ở xã Cần Húc thuộc đất Duy Xuyên (sau mới dời về làng Thanh Chiêm,Điện Bàn)tức huyện Diên Phước để làm lị sở. Năm 1604 cải đặt lại và đổi tên các khu vực hành chánh hai xứ Thuận Hóa, lập Hi Giang thành huyện Duy Xuyên,…Kể từ đó Dinh Quảng Nam là đất của các Thái tử nhà Chúa (con trai được quyền kế nghiệp Chúa) Nguyễn phước Nguyên vào trấn thủ đầu tiên từ 1602 đến 1613,sau đó ông trao quyền lại cho Thái tử Phước Kỳ,rồi đến Phước Lan và tiếp tục cho đến thế kỷ thứ XVIII khi vương quyền các chúa tan rã mới chấm dứt,trao quyền đến nhà Nguyễn khởi đầu là vua Gia Long 1802.
( Ghi-chú: Về việc thống nhất đất nước của triều đại nhà Nguyễn,khởi đầu là vua Gia Long.Trong công cuộc thống nhất đất nước vào giai đoạn nầy,không phải công cán hoàn toàn là của vua Gia Long, mà ông đã hưởng trọn phần lớn công của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) trong việc đánh tan 20 vạn quân Thanh xâm lược tại Sầm Nghi Đống,đồng thời dẹp bỏ được cả hai thế lực từ các chúa đàng ngoài và đàng trong, trong công trình tiến hành việc thống nhất đất nước,tuy nhiên khi mới vừa hình thành được hệ thống nầy,thì nhà vua lại bị đột quỵ mà qua đời,ông không được ngồi lên ngai vàng để trị vì đất nước.Vì vậy mà vua Gia Long đã được hưởng trọn vẹn công cán của đối thủ mình là từ vua Quang Trung.Dĩ nhiên thời gian trước đó lực lượng của quân Tây Sơn và các chúa xứ đàng trong nhất là Nguyễn Ánh đã có rất nhiều trận thư hùng để tranh giành ảnh hưởng. Vì vậy khi lịch sử ghi lại đến đoạn nầy,người đọc nói chung nhất là các thế hệ hậu bối cần lưu ý về các chiến công và sự dẹp bỏ các thế lực trong nước của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ ) để sự hiểu biết mới được sáng tỏ hơn).
Trong suốt giai đoạn trị vì của các vua triều Nguyễn,kể từ vị vua đầu tiên là vua Gia Long (Nguyễn Ánh) trở đi,danh xưng hành chánh các phủ, huyện thuộc tỉnh Quảng Nam tuy đã có nhiều thay đổi bao gồm việc bỏ chức Thừa Tuyên/Trấn Quảng Nam,tổ chức lại các phủ,huyện theo hệ thống mới của Triều đình.Tuy nhiên, không có các tài liệu chi tiết về sự thay đổi trên.Thuật ngữ “Quận” không được xử dụng trong các đơn vị hành chánh tại các địa phương trong suốt các triều vua nhà Nguyễn,mà thay vào đó là các đơn vị Phủ,Huyện,Châu .
Từ thế kỷ thứ XV trong sách Dư địa chí,Nguyễn Trải gọi đất nầy là “ Tiên nữ phú hà duy nam giới” và xếp vào loại phên dậu thứ 5 của quốc gia Đại Việt.
Một điều cần lưu ý,khi đề cập đến lịch sử Quảng Nam cần phải phân biệt địa danh nầy thành hai giai đoạn lịch sử khác nhau.
-
Giai đoạn danh xưng Quảng nam, với phạm vi rộng,bắt đầu từ Lê Thánh Tông (1471) cho đến năm 1803,đã kéo dài 332 năm,lúc đầu có tên là Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam, sau đổi thành xứ Quảng Nam (1490) rồi sang Trấn Quảng Nam (1520) sau lại đổi sang Doanh (hay Dinh) Quảng Nam (1602).Dù mang tên đơn vị hành chánh khác nhau,nhưng khái niệm Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam vào thời kỳ nầy bao gồm đất của 3 phủ Thăng Hoa (Nam Quảng Nam),Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) Và Hoài Nhơn (Bình Định) nhưng mới được tính từ phía Nam sông Thu Bồn đến phía Bắc đèo Cù Mông.
-
Giai đoạn danh xưng Quảng Nam trong phạm vi hẹp.Một năm khi lên ngôi vua,Gia Long tiến hành việc cải cách hành chính trong cả nước (1803) Dinh Quảng Nam lớn chia thành 3 dinh (nhỏ) Hai phủ Điện Bàn và Thăng Hoa được tách ra thành một dinh lấy tên là dinh Quảng Nam.
-
Phủ Tư Nghĩa được đặt là dinh Quảng Ngãi,phủ Hoài Nhơn được đặt là dinh Bình Định.Tuy mang tên gọi đơn vị hành chánh khác nhau,từ dinh đổi sang trấn thời Gia Long, từ Trấn đổi ra tỉnh thời Minh-Mạng (1832) và cho đến năm 1945 khi nhà Nguyễn thoái trào,các danh xưng trên vẫn không thay đổi.
Việc tổ chúc hành chính tỉnh Quảng Nam qua các triều đại:
Quảng Nam là một tỉnh cũ thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ,phía bắc giáp tỉnh Thùa Thiên và thành phố Huế tại dãy Bạch Mã (Hải Vân),phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và kon Tum.Phía đông giáp Biển Đông,phía tây giáp tỉnh Sekong nước Lào.
Trước khi hình thành nên một tỉnh riêng biệt:
Vào thời nhà Trần:
Trước kia Quảng Nam là đất Chiêm Thành.Năm 1306,theo thỏa ước giữa vua Chiêm là Chế Mân và vua Đại Việt Là Trần Nhân Tông,vua Chiêm dâng cho Đại Việt hai châu Ô,Rí,tức Thuận Châu ( từ Nam Quảng Trị đến Huế) và Hóa Châu (một phần Huế đến Bắc sông Thu Bồn) để làm sính lễ cưới con gái của vua Trần nhân Tông là công chúa Huyền Trân.Người Việt từ vùng ngoài dần dần di cư đến lập nghiệp tại hai vùng đất mới,người Chiêm Thành lui dần về vùng đất còn lại phía Nam thuộc vương quốc Chiêm.
Năm 1402,Nhà Hồ thay nhà Trần và đổi tên Đại Việt thành “Đại Ngu.”. Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ là Thăng Châu, Hóa Châu,Tư Châu và Nghĩa Châu,và đặt An phủ Sứ cai trị.
*Giai đoạn nầy xảy ra một biến cố: Trần Ngỗi khởi nghĩa ở Nghệ An,hai viên quan là Đặng Tất ở Hóa Châu (Huế) và Nguyễn cảnh Chân ở Thăng Hoa (Quảng Nam) tháng giêng âm lịch năm nầy 1408.Trần Ngỗi đánh 4 vạn quân Trương Phụ ở Bồ Cô (Nam Định).Các nông dân Phạm tất Đại,Phạm Chấn,Trần nguyệt Hồ,Lê Ngã kéo về theo quân Trần Ngỗi.Nhưng có người gièm pha với Trần Ngỗi rằng hai viên quan kia là 2 con hoàng xà đã biến thành nên Trần Ngỗi giết chết Đặng Tất và Nguyễn cảnh Chân.Đặng Dung và Nguyễn cảnh Dị đưa con Trần Ngạc là Trần quý Khoáng lên làm chủ soái và tiếm quyền.
*Thời nhà Lê:
Năm 1471 sau khi chiếm xong vùng đất phía Nam Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông.vua Lê Thành Tông lập thêm đơn vị thứ 13 là Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 13 phủ: Thăng Hoa,Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (tức vùng lãnh thổ cả Quảng nam,Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay) Danh xưng Quảng nam xuất hiện từ đây. Tiếp theo đó là thời kỳ Trịnh,Nguyễn phân tranh,miền Nam do chúa Nguyễn Quản lý.
*Thời Chúa Nguyễn:
Quảng Nam thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn (từ năm 1570).Hội An được nhà chúa chọn làm điểm giao thương duy nhất với thế giới,lúc nầy nhiều thương gia nước ngoài hay gọi vùng đất nầy là “Quảng Nam quốc”. Biên niên sử thời Nguyễn đã chép về giai đoạn nầy như sau. “Chúa ở trấn hơn 10 năm, (tức chúa Tiên Nguyễn Hoàng) chính sự rộng rãi,quân lệnh nghiêm trang,nhân dân đều an cư lạc nghiệp,chợ không hai giá, không có trộm cướp.Thuyền buôn các nước đến nhiều.Trấn đã trở nên một đô thị lớn”.
Giữa thế kỷ thứ XVII,việc triều chính xứ đàng trong suy đồi.Thuế thì nặng,quan lại thì lợi dụng địa vị,chức quyền,sinh sự làm dân khổ.Trước hoàn cảnh đó,phong trào Tây Sơn bùng nổ,dân Quảng nam cũng nỗi dậy.Mùa thu năm 1773 khi quân Tây Sơn kéo ra Quảng Nam,dân Quảng Nam đã phối hợp cùng nghĩa quân phục kích ở Bến Đá (Thạch Tân, Thăng Hoa,Quảng nam,tức Bình Hải bây giờ) đánh bại quân của chúa Nguyễn do các tướng Nguyễn cửu Thống,Nguyễn hữu Sách chỉ huy. Nhà Tây Sơn tuy vậy cũng chỉ tồn tại được trong một thời gian ngắn.
Sau khi thành lập tỉnh.
*Thời nhà Nguyễn: Năm 1806 vua Gia Long thống nhất đất nước. Về hành chánh,nhà vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Trực Lệ (tức Quảng Đức) Quảng Bình,Quảng Trị và Quảng nam là 4 doanh.
Năm 1832,vua Minh Mạng đổi trấn và doanh ra tỉnh và Quảng Nam chính thức trở thành một tỉnh từ năm nầy.Tỉnh Quảng Nam được chia ra làm 2 phủ Thăng Bình (trước là Thăng Hoa gồm các huyện Lễ Dương, và Hà Đông (gồm cả huyệnTam Kỳ và huyện Quế Sơn) cọng với Phủ Điện Bàn (gồm các huyện Hòa Vang,Duy Xuyên,Diên Phúc (sau đổi thành Diên Phước) và huyện Đại Lộc.
*Thời thuộc Pháp.
Năm 1888,dưới triều vua Thành Thái,Đà Nẵng bị tách khỏi Quảng nam để trở thành đất nhượng địa cho thực dân Pháp.
*Thời kỳ Việt Minh 1946-1954.
Trong giai đoạn nầy chính quyền Việt Minh cai trị một số vùng ở nông thôn,ngoại các thành phố Đà nẵng,Hội an,và một số các thị trấn dọc theo quốc lộ 1A như Bà Rén,Cầu Chìm .v..v.Chính quyền Việt Minh vẫn dùng danh xưng tỉnh,huyện,xã như cũ.Trên toàn tỉnh các đơn vị huyện được dùng theo danh xưng cũ là Thăng Bình,Tam Kỳ,Tiên Phước,Quế Sơn,Duy Xuyên,Đại Lộc,Điện Bàn. Mỗi huyện đều có nhiều xã và tùy theo nhu cầu mỗi lúc,các xã được phân chia lớn,nhỏ theo qui định của chính quyền Việt Minh,có lúc nhập và rồi lại tách ra,Ví dụ như huyện Thăng Bình lúc đầu gồm 3 xã,thứ nhất: dọc theo vùng duyên hải được tính từ Bình Dương đến Bình Nam mang tên là Thăng Triều, các xã vùng giữa từ Bình Nguyên quanh đến Bình Tú, Bình Trung,Bình An,vòng quanh đến Bình Phú,Bình Định, Bình Quí mang tên là Thăng Điền, các xã miền trên từ Bình Trị lên đến Bình Lâm,Bình Sơn (Thăng Phước) mang tên là Thăng Lâm.Sau một thời gian vào khoảng năm 1950,các xã nầy được cải tổ thành lập các xã mới được chia nhỏ theo chủ trương cũng của chính quyền Việt Minh .
(Tài liệu cụ thể về giai đoạn lịch sử từ 1946-1954 còn rất hạn chế,chúng ta chỉ biết các danh xưng chính thức dựa vào các danh xưng cũ đã có từ trước, được xử dụng vào thời Việt Minh trị,riêng về danh xưng các xã được thay đổi nhiều lần lớn,nhỏ tùy theo nhu cầu từng giai đoạn,mà không có tài liệu ghi lại chính thức,do vậy nên không thể biết một cách cụ thể.
*Thời Việt Nam Cộng Hòa.
Sau hiệp định Geneve năm 1954 ngày 20 tháng 7.Tỉnh Quảng Nam được chính quyền VNCH tiếp thu và giữ nguyên trạng tên tỉnh,cùng các quận như trước (dưới thời VNCH không dùng danh xưng Huyện mà dùng danh xưng là Quận).Mãi đến năm năm 1962 vì nhu cầu an ninh,tỉnh Quảng Nam lại được chia ra Làm hai Tỉnh là Quảng Nam và Quảng Tín, lấy con sông Rù Rì (Ly Ly) chảy dọc giữa Thăng Bình và Quế sơn làm ranh giới của hai tỉnh.Con sông Ly Ly được bắt ngang qua bởi một cây cầu có tên là Hương An, nằm trên Quốc lộ sộ IA.
Các quận được chia cắt theo 2 tỉnh như sau:
Tỉnh Quảng Nam gồm các quận: Quế Sơn,Hòa Vang,Duy Xuyên,Đại Lộc,Điện Bàn,và một số các quận mới được thành lập sau như:
Quận Đức Dục:đây là một quận mới thành lập sau ( gồm một số xã miền núi của quận Đại Lộc,quận Quế Sơn và Duy Xuyên).
Quận Hiếu Nhơn: chạy từ biên phía đông thành phố Hội An đến giáp biển Cửa Đại.
Quận Hiếu Đức: gồm cả vùng Hiên,Giằng và một số xã miền núi của quận Hòa Vang.
Quận Thượng Đức: gồm một phần vùng lãnh thổ các xã miền núi của quận Đại Lộc,cùng xứ Hà Nha, xứ Vu Gia cùng với xứ Phú Thuận mà hình thành nên quận Thượng Đức.
Như vậy tổng số các quận thuộc lãnh thổ tỉnh Quảng Nam gồm tất cả là 9 đơn vị Quận, kể cả mới lẫn cũ.
Tỉnh lỵ Quảng Nam đóng tại thành phố Hội An.
*Tỉnh Quảng Tín gồm: Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước,Hậu Đức, và Hiệp Đức.Như vậy tỉnh Quảng Tín gồm 5 quận,và tỉnh lỵ đóng tại thị xã Tam Kỳ.
Thời gian sau năm 1975.
-Sau khi chiếm trọn được Miền Nam Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 bằng vũ lực, với sự hổ trợ tích cực của cả khối cộng sản quốc tế gồm: Liên Bang Xô Viết,Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (tức Trung Cộng) ,cùng với cả khối cộng sản Đông Âu.Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa,đã giết chết cái chính phủ Bù nhìn Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam sau đó hông lâu.Và như vậy chính quyền Hà Nội lúc bấy giờ nắm trọn quyền cai trị vào tay một mối thuộc nhà nước Bắc Việt và sau đó nhà nước nầy đã có quyết định sáp nhập cả hai Tỉnh Quảng nam và Quảng Tín cùng với đặc khu Quảng Đà, thành lập lại một tỉnh gọi là Quảng Nam-Đà Nẵng,tỉnh lỵ đóng tại thành phố Đà Nẵng.
Thời gian Sau khi thành lập tỉnh Quảng Nam mới nầy lại có những thay đổi hành chánh như sau: giữ nguyên tên thành phố Đà Nẵng là thành phố Đà nẵng, gộp hai huyện Bắc Tam Kỳ và nam Tam Kỳ thành Huyện Tam Kỳ. Như vậy Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: có 14 đơn vị hành chánh gồm Thành phố Đà nẵng (tỉnh lỵ) thị xã Hội An và 12 huyện: Đại Lộc,Điện Bàn,Duy Xuyên,Giằng,Hiên,Hòa Vang Phước Sơn,Quế Sơn,Tam Kỳ,Thăng Bình,Tiên Phước và Trà My.
*Năm 1978 thành lập một số xã thuộc thị xã Hội An và huyện Hiên.
-Thị xã Hội An có thêm một xã nữa là xã Tân Hiệp.
-Huyện Hiên thành lập xã A Ting, huyện Hiên trên cơ bản chỉ là một phần xã Sông Kôn.
*Năm 1979,điều chỉnh địa giới huyện Trà My và huyện Tam Kỳ,hợp nhất một số xã thuộc huyện Tam Kỳ.
-Sáp nhập xã Trà Thượng,huyện Trà My vào huyện Tam Kỳ.
- Thành lập xã Tam Trà,huyện Tam Kỳ trên cơ bản gồm toàn bộ xã Trà Thượng và xã Tam Sơn.
*Năm 1981. Chia tách một số xã thuộc các huyện Quế Sơn,Thăng Bình,Điện Bàn,Giằng,Trà My,Tiên Phước,Phước Sơn,Hòa Vang,điều chỉnh địa giới huyện Tiên Phước và huyện Trà My.
* Thành lập một số xã thuộc huyện Quế Sơn.
-Thành lập xã Quế Long trên cơ bản của một phần xã Quế Phong.
-Thành lập xã Quế Trung trên cơ bản một phần xã Quế Lộc.
- Thành lập xã Quế Ninh và xã Quế Lâm trên cơ bản một phần xã Quế Phước.
-Thành lập xã Quế Bình và xã Quế Lưu trên cơ bản một phần của xã Quế Tân.
* Thành lập Thị Trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình trên cơ bản một phần xã Bình Nguyên.
* Thành lập Thị Trấn Vĩnh Điện và xã Điện Minh,huyện Điện Bàn trên cơ bản của toàn bộ xã Điện Ninh.
* Thành lập Thị trấn Thạnh Mỹ,huyện Giằng trên cơ bản một phần xã Zơ Nông.
* Sáp nhập phần còn lại của xã Zơ Nông,huyện Giằng vào xã Cà Dy.
* Thành lập một số đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Trà My.
-Thành lập thị trấn Trà My trên cơ bản một phần của xã Tiên Trà.
-Thành lập xã Trà Giang trên cơ bản phần còn lại xã Tiên Trà,một phần xã Trà Liên và xã Trà Giác.
-Thành lập xã Trà Tân trên cơ bản một phần xã Trà Giác.
* Thành lập một số đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Tiên Phước.
- Thành lập Thi Trấn Tiên Kỳ trên cơ bản toàn bộ xã Tiên Kỳ.
- Thành lập xã Tiên Cẩm và xã Tiên Hà trên cơ bản toàn bộ xã Tiên Quang.
* Thành lập xã Phước Đức huyện Phước Sơn trên cơ bản một phần xã Phước Thành,xã Phước Mỹ và xã Phước Kim.
* Năm 1983,chia tách một số xã thuộc các huyện Tam Kỳ,Quế Sơn,Trà My. Cùng năm,chia huyện Tam Kỳ thành thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành.
* Thành lập xã Tam Sơn,huyện Tam Kỳ trên cơ bản một phần xã Tam Trà.
* Thành lập một số đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Quế Sơn.
-Thành lập xã Quế Minh trên cơ bản một phần xã Quế An
- Thành lập xã Quế Cường trên cơ bản một phần xã Quế Mỹ.
- Thành lập xã Quế Thuận trên cơ bản một phần xã Quế Hiệp.
* Thành lập một số đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Trà My.
- Thành lập xã Trà Dơn trên cơ bản một phần xã Trà Leng.
- Thành lập xã Trà Bui trên cơ bản một phần xã Trà Dốc.
-Thành lập xã Trà Dương và xã Trà Đông trên cơ bản toàn xã Tiên Minh.
* Thành lập Thị xã Tam Kỳ trên cơ bản một phần huyện Tam Kỳ.Thị xã Tam Kỳ gồm có 7 Phường: Hòa Phương,An Sơn,Phước Hòa,An Xuân,An Mỹ,Tân Thạnh, Trường Xuân và 10 xã Tam Phú,Tam Thanh,Tam Thảng, Tam An,Tam Dân,Tam Thạnh,Tam Phước, Tam Ngọc, Thái Thái và Tam Lãnh.
* Thành lập huyện Núi Thành trên cơ bản phần còn lại huyện Tam Kỳ.Huyện Núi Thành thì gồm có 12 xã là: Tam Xuân,Tam Tiến,Tam Trà,Tam Sơn, Tam Anh,Tam Hiệp,Tam Hòa,Tam Nghĩa,Tam Mỹ,Tam Quang,Tam Giang,Tam Hải và thị trấn Núi Thành.
* Năm 1984,chia tách một một số xã, thị trấn thuộc các huyện Đại Lộc và Thăng Bình.
- Thành lập thị trấn Ái Nghĩa,huyện Đại Lộc trên cơ bản toàn bộ xã Đại Phước và một phần các xã Đại Hiệp,Đại An,Đại Hòa và Đại Nghĩa.
* Năm 1985,chia tách một số xã thuộc thị xã Tam Kỳ.Và cùng năm,thành lập huyện Hiệp Đức trên cơ bản,tách 2 xã thuộc huyện Thăng Bình,4 xã thuộc huyện Quế Sơn và 2 xã thuộc huyện Phước Sơn.
-Thành lập một số xã thuộc thị xã Tam KỲ.
-Thành lập xã Tam Lộc trên cơ bản một phần xã Tam Phước.
-Thành lập xã Tam Vinh trên cơ bản một phần xã Tam Dân.
* Thành Lập huyện Hiệp Đức trên cơ bản một phần của huyện Thăng Bình,huyện Quế Sơn và huyện Phước Sơn.Huyện Hiệp Đức gồm tám xã: Bình Lâm, Thăng Phước,Quế Thọ,Quế Bình, Quế Lưu,Quế Tân,Phước Gia,Phước Trà và có diện tích tự nhiên 48.649,86 ha với 27.291 nhân khẩu.
* Năm1986,chia tách một số xã,thị trấn thuộc các huyện Quế Sơn,Hiệp Đức,Hòa Vang,Phước Sơn,Duy Xuyên, và Trà My.
*Thành lập một số đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Hiệp Đức:
*Thành lập xã Bình Sơn trên cơ bản một phần của xã Thăng Phước,xã Bình Sơn có diện tích tự nhiên 2.050 ha, với 2.345 nhân khẩu.
*Thành lập thị trấn Tân An trên cơ bản một phần xã Quế Thọ.Thị trấn Tân An có diện tích tự nhiên 1.692,27ha với 2.610 nhân khẩu.
* Thành lập thị trấn Đông Phú,huyện Quế Sơn trên cơ bản một phần xã Quế Châu và xã Quế Long.Thị trấn Đông Phú có 1.127,39ha với 6,345 nhân khẩu.
* Thành lập thị trấn Khâm Đức,huyện Phước Sơn trên cơ bản một phần xã Phước Đức.Thị xã Khâm Đức có diện tích tự nhiên 1.400 ha với 1950 nhân khẩu.
* Thành lập một số đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Duy Xuyên.
-Thành lập thị trấn Duy Xuyên trên cơ bản một phần xã Duy An và xã Duy Trung. Thị trấn Duy Xuyên có tổng diện tích tự nhiên 410ha, với 8.474 nhân khẩu.
- Thành lập xã Duy Phú trên cơ bản một phần xã Duy Tân.Xã Duy Phú có diện tích tự nhiên 3.300ha với 3.534 nhân khẩu.
- Thành lập xã Duy Thu trên cơ bản một phần xã Duy Tân.Xã Duy Thu có diện tích tự nhiên 1.200ha,với 3.836 nhân khẩu.
- Thành lập thị trấn Duy Hải trên cơ bản một phần xã Duy Nghĩa. Xã Duy Hải có diện tích tự nhiên 1.050ha, với 5.607 nhân khẩu.
-Thành lập xã Trà Don,huyện Trà My trên cơ bản một phần xã Trà Mai.Xã Trà Don có diện tích tự nhiên 7.252ha, với 1.058 nhân khẩu.
Năm 1988,chia tách một số xã thuộc huyện Trà My và Quế Sơn.
-Thành lập xã Trà Nú và xã Trà Kót,huyện Trà My trên cơ bản toàn bộ xã Trà Liên.Xã Trà Nú có diện tích tự nhiên là 5.900ha, với 806 nhân khẩu và xã Trà Kót có diện tích tự nhiên 10.814ha với 708 nhân khẩu.
* Đổi tên xã Quý Mỹ,huyện Quế Sơn thành xã Phú Thọ.
* Thành lập xã Quế Hội,huyện Quế Sơn.Xã Quế Hội có diện tích tự nhiên là 13.672ha, với 722 nhân khẩu.
-Năm 1990,chia tách một số xã thuộc huyện Hiệp Đức.
-Năm 1994, chia tách,điều chỉnh địa giới một số xã và đổi tên thị trấn thuộc các huyện Đại Lộc,Duy Xuyên,Hiên, Quế Sơn,Núi Thành và thị xã Tam Kỳ.
-Năm 1996,tại kỳ họp thứ X của Quốc Hội, tỉnh Quảng Nam-Đà nẵng được chia thành hai đơn vị hành chánh độc lập gồm: Thành phố Đà nẵng và tỉnh Quảng nam. Tỉnh Quảng Nam mới có 14 huyện: Đại Lộc,Điện Bàn ,Duy Xuyên,Giằng,Hiên,Hiệp Đức, Núi Thành,Phước Sơn, Quế Sơn,Thăng Bình,Tiên Phước, Trà My, cùng 2 thị xã Tam Kỳ và Hội An,Tỉnh lỵ đóng tại Thị xã Tam Kỳ.
- Năm 1998,thành lập xã Trà Vinh thuộc huyện Trà My, trên cơ bản một phần xã Trà Vân.Xã Trà Vinh có diện tích tự nhiên là: 3.851ha, vơi1.328 nhân khẩu.
-Năm 1999,thành lập một số phường,xã thuộc thị xã Hội An, và Huyện Hiên,Huyện Giằng được đổi tên thành huyện Nam Giang.
*Thành lập một số phường tại thị xã Hội An.
-Thành lập phường Thanh Hà trên cơ bản một phần xã Cẩm Hà.Phường Thanh Hà có diện tích tự nhiên là 613ha, với 779 nhân khẩu.
-Thành lập phường Tân An trên cơ bản một phần phường Cẩm Phô và xã Cẩm Hà.Phường Tân An có diện tích tự nhiên 147,5ha, với 5.008 nhân khẩu.
* Thành lập một số xã tại huyện Hiên:
-Thành lập xã Ga Ri trên cơ bản một phần xã Ch’ơm.Xã Ga Ri có diện tích tự nhiên là: 4.703 ha,với 1.004 nhân khẩu.
-Thành lập xã A-Nông trên cơ bản một phần xã S-Tiêng,xã A Nông có diện tích tự nhiên là: 5.164 ha, với 853 nhân khẩu.
-Thành lập xã Jơ- Ngây trên cơ bản một phần xã Sông Kôn.Xã Jơ Ngây có diện tích tự nhiên 5.574 ha với 1.740 nhân khẩu.
* Năm 2002, chia tách một số phường,xã thuộc thị xã Tam Kỳ và các huyên Trà My,Hiệp Đức và Phước Sơn.
-Thành lập phường An Phú,thị xã Tam kỳ,trên cơ bản một phần xã Tam Phú.Phường An Phú có diện tích tự nhiên: 1.462,15 ha với 6.692 nhân khẩu.
-Thành lập xã Trà Ka,huyện Trà My trên cơ bản một phần xã Trà Giáp,.Xã Trà Ka có diện tích tự nhiên 5.350 ha với 1.359 nhân khẩu.
-Thành lập xã Sông Trà,huyện Hiệp Đức trên cơ bản một phần xã Phước Trà.Xã Sông Trà có diện tích tự nhiên 3.337 ha với 1.534 nhân khẩu.
-Thanh lập xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn trên cơ bản một phần thị trấn Khâm Đức. Xã Phước Xuân có diện tích tự nhiên là: 13.092,4 ha, với 1.192 nhân khẩu.
- Thành lập xã Phước Lộc,huyện Phước Sơn trên cơ bản một phần xã Phước Thành.Xã Phước Lộc có diện tích tự nhiên là: 9.499,6 ha, với 1.007 nhân khẩu.
* Năm 2003 chia huyện Trà My thành hai huyện Bắc Trà My và nam Trà My.Chia huyện Hiên thành hai huyện Đông Giang va Tây Giang.
-Huyện Đông Giang có diện tích tự nhiên 81.120 ha, với 20.798 nhân khẩu; có 11 đơn vị hành chánh trực thuộc gồm: các xã Ba,Tư,A Ting,Sông Kôn, Jơ Ngây, Tà Lu.Za Hung, A Rooi, Mà Cooih, Ka Dăng và thị trấn Prao.
- Huyện Tây Giang có diện tich tự nhiên là: 90.120 ha, với 13.409 nhân khẩu. Gồm có 10 đơn vị hành chánh trực thuộc gồm: các xã A Vương,Dang,Lăng, BhaLêê, A Xan, Ch’ơm, Ga Ri,A Tiêng, A Nông.
-Huyện Bắc Trà My có diện tích tự nhiên 82.325 ha với 36.386 nhân khẩu. Có 12 đơn vị hành chánh trực thuộc gồm các xã Trà Đông,Trà Dương,,Trà Giang,Trà Nú, Trà Kót,Trà Tân, Trà Đốc,Trà Bui, Trà Giác, Trà Giáp, Trà Ca và thị trấn Trà My.
- Huyện Nam Trà My có diện tích tự nhiên là: 82.235 ha với 19.876 nhân khẩu. Có 10 đơn vị hành chánh trực thuộc. Gồm các xã Trà Don,Trà Leng, Trà Vân,Trà Vinh,Trà Tập,Trà Dơn,Trà Nam, Trà Cang,Trà Mai và Trà Linh.
* Năm 2004 thành lập một số phường,thuộc thị xã Hội An và các huyện Đại Lộc,Quế Sơn.
-Thành lập một số phường thuộc thị xã Hội An.
- Thành lập phường Cẩm Châu trên cơ bản toàn bộ xã Cẩm Châu. Phường Cẩm Châu có diện tích tự nhiên là: 570,30 ha với 8.610 nhân khẩu.
-Thành lập phường Cửa Đại trên cơ sở một phần xã Cẩm An.Phường Cửa Đại có diện tích tự nhiên 314,07 ha, với 4.875 nhân khẩu.
-Thành lập phường Cẩm An trên cơ bản phần còn lại của xã Cẩm An. Phường Cẩm An có diện tích tự nhiên là: 290,46 ha, với 4.765 nhân khẩu.
* Thành lập xã Đại Hưng,huyện Đại Lộc trên cơ bản một phần xã Đại Lãnh. Xã Đại Hưng có diện tích tự nhiên là: 8.869 ha,với 6.821 nhân khẩu.
* Thành lập xã Quế Xuân 1 và Quế Xuân 2 huyện Quế Sơn trên cơ bản toàn bộ xã Quế Xuân.Xã Quế Xuân 1 có diện tích tự nhiên là: 821 ha với 9.292 nhân khẩu. Xã Quế Xuân 2 có diện tích tự nhiên là: 1.508 ha, với 6.725 nhân khẩu.
* Năm 2005, thành lập một số phường,xã thuộc thị xã Tam Kỳ và thành lập huyện Phú Ninh.Cùng năm chia tách một số xã thuộc huyện Núi Thành và Điện Bàn.
-Thành lập một số đơn vị hành chánh cấp xã thuộc thị xã Tam Kỳ.
-Thành lập phường Hòa Thuận trên cơ bản một phần phường Tân Thạnh và xã Tam Đàn. Phường Hòa Thuận có diện tích tự nhiên là 557.50 ha, với 5.781 nhân khẩu.
- Thành lập xã Tam Đại trên cơ bản một phần xã Tam Thái. Xã Tam Đại có diện tích tự nhiên là 2.760,50 ha,với 6.149 nhân khẩu.
* Thành lập huyện Phú Ninh trên cơ bản một phần thị xã Tam Kỳ.Huyện Phú Ninh có diện tích tự nhiên là: 25.147 ha,với 84.477 nhân khẩu.Huyện Phú Ninh có 10 đơn vị hành chánh trực thuộc là các xã Tam Lãnh, Tam Thái,Tam Dân, Tam Đàn,Tam An, Tam Lộc,Tam Vinh, Tam Thành,Tam Phước,Tam Đại.
* Thành lập cá xã thuộc huyện Núi Thành.
-Thành lập xã Tam Mỹ Đông và xã Tam Mỹ Tây, trên cơ bản là toàn bộ xã Tam Mỹ. Xã Tam mỹ Đông có diện tích tự nhiên là: 1.727 ha, với 6.400 nhân khẩu.Xã Tam Mỹ Tây có diện tích tự nhiên là: 5.104 ha, với 5.869 nhân khẩu.
-Thành lập xã Tam Anh Bắc và xã Tam Anh Nam trên cơ bản toàn bộ xã Tam Anh.Xã Tam Anh Bắc có diện tích tự nhiên 2.100 ha, với 6.409 nhân khẩu. Xã Tam Anh Nam có diện tích tự nhiên la: 2.191 ha, với 9.316 nhân khẩu.
* Thành lập các xã thuộc huyện Điện Bàn:
-Thành lập xã Điện Nam Bắc,xã Điện Nam Trung và xã Điện Nam Đông trên cơ bản toàn bộ xã Điện Nam. Xã Điện Nam Bắc có diện tích tự nhiên 814,45 ha,với 5.065 nhân khẩu. Xã Điện Nam Trung có diện tích tự nhiên 767,50 ha,với 6.728 nhân khẩu. Xã Điện Nam Đông có diện tích tự nhiên 842,25 ha, với 6.256 nhân khẩu.
-Thành lập xã Điện Thắng Bắc,xã Điện Thắng Trung và xã Điện Thắng Nam trên cơ bản toàn xã Điện Thắng. Xã Điện Thắng Bắc có 357,20 ha,với 5792 nhân khẩu. Xã Điện Thắng Trung có diện tích tự nhiên: 767,50 ha, với 7.260 nhân khẩu.Xã Điện Thắng Nam có diện tích tự nhiên: 506,20 ha, với 6.122 nhân khẩu.
* **Năm 2006,**thành lập thành phố Tam Kỳ trên cơ bản toàn bộ thị xã Tam Kỳ.Thành phố Tam Kỳ có tổng diện tích tự nhiên là: 9.263,56 ha,với 123.662 nhân khẩu,có 13 đơn vị hành chánh gồm 9 phường và 4 xã.
* Năm 2007,thành lập một số xã,phường,mở rộng thị trấn thuộc thị xã Hội An và các huyện Đại Lộc,Bắc Trà My,Thăng Bình.
-Thành lập xã Đại An,huyện Đại Lộc trên cơ bản một phần xã Đại Hòa.Xã Đại An có diện tích tự nhiên: 661,04 ha, với 7.607 nhân khẩu.
-Sáp nhập một phần xã Đại Nghĩa và xã Đại Hiệp,huyện Đại Lộc vào thị trấn Ái-Nghĩa.Thị trấn Ái Nghĩa có diện tích tự nhiên 1.230,45 ha,với 18.228 nhân khẩu.
- Thành lập xã Trà Sơn,huyện Bắc Trà My trên cơ bản một phần thị trấn Trà My. Xã Trà Sơn có diện tích tự nhiên: 4.295 ha, với 2.939 nhân khẩu.
- Thành lập xã Bình Định Bắc và xã Bình Định Nam,huyện Thăng Bình trên cơ bản toàn bộ xã Bình Định.Xã Bình Định Bắc có diện tích tự nhiên 1.452 ha,với 4.883 nhân khẩu. Xã Bình Định Nam có diện tích tự nhiên: 1.678 ha,với 6.035 nhân khẩu.
- Thành lập phường Cẩm Nam,thị xã Hội An trên cơ bản toàn bộ xã Cẩm Nam. Phường Cẩm nam có diện tích tự nhiên 454,94 ha,với 6.035 nhân khẩu.
* **Năm 2008,**thành lập thành phố Hội An, cùng năm,thành lập một số xã thuộc các huyện Quế Sơn,Phước Sơn và thành lập huyện Nông Sơn.
- Thành lập thành phố Hội An trên cơ bản toàn bộ thị xã Hội An. Thành phố Hội An có tổng diện tích tự nhiên 6.146,88 ha,với 121.716 nhân khẩu,có 13 đơn vị hành chánh gồm 9 phường và 4 xã.
- Thành lập các xã thuộc huyện Quế Sơn:
-Thành lập xã Hương An trên cơ bản một phần xã Quế Phú và xã Quế Cường. Xã Hương An có tổng diện tích tự nhiên 1.035 ha,với 6.450 nhân khẩu.
(ghi chú: trong số diện tích nầy có một phần đất của Làng Thanh Ly,từ bờ phía nam vườn nhà ông Nguyễn Nhảy tức bên ngoài nhà Máy Đường,rạch thẳng một đường xuống đến giáp biên ranh giới xã Bình Phục,tức đến xóm nhà ông Trưởng Thể,Trưởng Chẩn,số đất nầy do ông Trần văn Ba Bí thư xã Bình Nguyên và ông Phan công Nghiêu chủ tịch xã Bình Nguyên cắt giao. ) .
- Thành lập xã Sơn Viên trên cơ bản một phần xã Quế Lộc. Xã Sơn Viên có diện tích tự nhiên 2.517 ha,với 3.215 nhân khẩu.
- Thanh lập xã Phước Ninh trên cơ bản một phần xã Quế Phước và xã Quế Ninh. Xã Quế Ninh có diện tích tự nhiên : 12.228 ha, với 3.586 nhân khẩu.
- Thành lập xã Phước Hòa, huyện Phước Sơn trên cơ bản một phần xã Phước Hiệp. Xã Phước Hòa có diện tích tự nhiên: 18.815,4 ha,với 2.076 nhân khẩu.
-Thành lập huyện Nông Sơn trên cơ bản một phần huyện Quế Sơn. Huyện Nông Sơn có tổng diện tích tự nhiên: 45.592 ha,với 34.524 nhân khẩu, có 7 đơn vị hành chánh trực thuộc,bao gồm các xã Quế Lộc,Quế Trung,Quế Ninh,Quế Phước,Quế Lâm, Sơn Viên và Phước Ninh.
* Năm 2009,thành lập thị trấn Phú Thịnh thuộc huyện Phú Ninh.
* Năm 2011, chia tách một số xã thuộc huyện Nam Giang.
- Thành lập xã Chơ Chun trên cơ bản một phần xã Laêê. Xã Chơ Chun có tổng diện tích tự nhiên 10.950 ha,với 964 nhân khẩu.
- Thành lập xã Đắc Tôi trên cơ bản một phần xã Ladêê. Xã Đắc Tôi có diện tích tự nhiên là: 6.900 ha,với 813 nhân khẩu.
- Thành lập xã Tà Pơơ trên cơ bản một phần xã Tà Bhing và xã Zuôih. Xã Tà Pơơ có diện tích tự nhiên 17.563,91 ha,với 1.032 nhân khẩu.
* Năm 2015, thành lập thị xã Điện Bàn trên cơ bản toàn bô huyện Điện Bàn.
- Thành lập các phường thuộc thị xã Điện Bàn.
-Thành lập phường Vĩnh Điện trên cơ bản toàn bộ thị trấn Vĩnh Điện.Phường Vĩnh Điện có diện tích tự nhiên: 205,35 ha với 8.244 nhân khẩu.
- Thành lập phường Điện An trên cơ bản toàn bộ xã Điện An. Phường Điện An có diện tích tự nhiên 1.014,85 ha,với 14.464 nhân khẩu.
- Thành lập phường Điện Ngọc trên cơ bản toàn bộ xã Điện Ngọc.Phường Điện Ngọc có diện tích tự nhiên là: 2.121,60 ha,với 31.392 nhân khẩu.
- Thành lập phường Điện Nam Bắc trên cơ bản toàn bộ xã Điện Nam Bắc. Phường Điện Nam Bắc có diện tích tự nhiên : 750,97 ha,với 10.159 nhân khẩu.
- Thành lập phường Điện Nam Trung trên cơ bản toàn bộ xã Điện Nam Trung. Phường Điện Nam Trung có diện tích tự nhiên 803,74 ha,với 9.273 nhân khẩu.
- Thành lập phường Điện Nam Đông trên cơ bản toàn bộ xã Điện Nam Đông. Phường Điện Nam Đông có diện tích tự nhiên: 879,98 ha,với 8.879 nhân khẩu.
-Thành lập phường Điện Dương trên cơ bản toàn bộ xã Điện Dương.Phường Điện Dương có diện tích tự nhiên: 1,563,97 ha,với 19.039 nhân khẩu.
* Thành lập thị xã Điện Bàn trên cơ bản toàn bộ thị xã Điện Bàn.Thi xã Điện Bàn có tổng diện tích 21,471 ha,với 229.907 nhân khẩu.Và 20 đơn vị hành chánh cấp xã,gồm 7 phường và 13 xã.
* Năm 2020, hợp nhất và thành lập một số xã,thị trấn thuộc các huyện Hiệp Đức,Nông Sơn, Quế Sơn.
* Sắp xếp các đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Quế Sơn.
-Thành lập xã Quế Mỹ trên cơ bản toàn bộ xã Quế Cường à xã Phú Thọ.Xã Quế Mỹ có diện tích tự nhiên là 39,45 km2. Với 9.430 nhân khẩu.
- Thành lập thị trấn Hương An trên cơ bản toàn bộ xã Hương An. Thị trấn Hương An có diện tích tự nhiên là 11,17 km2. Với 8.267 nhân khẩu.
Sau khi sắp xếp, Huyện Quế Sơn có 13 đơn vị hành chánh cấp xã,gồm 11 xã và 02 thị trấn.
*Sắp xếp các đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Nông Sơn:
- Thành lập xã Ninh Phước trên cơ bản toàn bộ xã Quế Ninh và xã Quế Phước.Xã Ninh Phước có diện tích tự nhiên 61,61 km2 với 4.847 nhân khẩu.
Sau khi sắp xếp, huyện Nông Sơn có 06 đơn vị hành chánh cấp xã, gồm 06 xã.
*Sắp xếp các đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Hiệp Đức:
-Thành lập thị trấn Tân Bình trên cơ bản toàn bộ thị trấn Tân An và xã Quế Bình. Thị trấn Tân Bình có diện tích tự nhiên 23,17 km2. Với 6.249 nhân khẩu.
Sau khi sắp xếp,huyện Hiệp Đức có 11 đơn vị hành chánh cấp xã gồm 10 xã và 01 thị trấn.
* Năm 2023, thành lập một số phường,thị trấn thuộc thị xã Điện Bàn và huyện Nông Sơn.
- Thành lập một số phường thuộc thị xã Điện Bàn:
- Thành lập phường Điện Thắng Bắc, trên cơ bản toàn bộ xã Điện Thắng Bắc. Phường Điện Thắng Bắc có tổng diện tích tự nhiên: 3km2,79 với 7.670 nhân khẩu.
- Thành lập phường Điện Thắng Trung trên cơ bản toàn bộ xã Điện Thắng Trung. Phường Điện Thắng Trung có tổng diện tích tự nhiên: 3 km2,78, với 8.553 nhân khẩu.
- Thành lập phường Điện Thắng Nam, trên cơ bản toàn bộ xã Điện Thắng Nam. Phường Điện Thắng Nam có diện tích tự nhiên: 5km2,38,với 8.553 nhân khẩu.
-Thành lập phường Điện Minh trên cơ bản toàn bộ xã Điện Minh.Phường Điện Minh có diện tích tự nhiên: 7km2,57 với 11.558 nhân khẩu.
- Thành lập phường Điện Phương trên cơ bản toàn bộ xã Điện Phương. Phường Điện Phương có diện tích tự nhiên: 9km2,94 với 15.129 nhân khẩu.
-Thành lập thị trấn Trung Phước,huyện Nông Sơn trên cơ sở toàn bộ xã Quế Trung. Thị trấn Trung Phước có diện tích tự nhiên 49km2,24 với 11.466 nhân khẩu.
* Năm 2024, sáp nhập huyện Nông Sơn vào huyện Quế Sơn,sắp xếp đơn vị hành chánh cấp xã giai đoạn 2023-2025 thuộc các huyện Quế Sơn,Hiệp Đức,Thăng BÌnh,Duy Xuyên,Tiên Phước, Phú Ninh và thành phố Tam KỲ.
*Sáp nhập toàn bộ huyện Nông Sơn vào huyện Quế Sơn. Huyện Quế Sơn có diện tích tự nhiên 1929 km2,10 với dân số 139.566 nhân khẩu.
*Sáp nhập các đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Quế Sơn:
-Sáp nhập toàn bộ xã Sơn Viên vào xã Quế Lộc. Xã Quế Lộc có diện tích tự nhiên 63km2,30. Với 9.674 nhân khẩu.
-Sau khi sắp xếp,huyện Quế Sơn có 18 đơn vị hành chánh cấp xã gồm 15 xã và 3 thị trấn.
* Sắp xếp các đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Hiệp Đức.
-Thành lập xã Quế Tân trên cơ bản toàn bộ xã Hiệp Thuận và xã Hiệp Hòa. Xã Quế Tân có diện tích tự nhiên 91 km2,28 với 4.420 nhân khẩu.
-Sau khi sắp xếp,huyện Hiệp Đức có 10 đơn vị hành chánh cấp xã,gồm 09 xã và 01 thị trấn.
* Sắp xếp các đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Thăng Bình:
-Thành lập xã Bình Định trên cơ bản toàn bộ xã Bình Định Bắc và xã Bình Định Nam. Xã Bình Định có diện tích tự nhiên 33,21 km2. Với 10.220 nhân khẩu.
* Sáp nhập toàn bộ xã Bình Chánh vào xã Bình Phú,xã Bình Phú có diện tích tự nhiên 43 km2,74 với 9.736 nhân khẩu.
-Sau khi sắp xếp,huyện Thăng Bình có 20 đơn vị hành chánh cấp xã,gồm 19 xã và 01 thị trấn.
* Sắp xếp các đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Duy Xuyên:
-Sáp nhập toàn bộ xã Duy Thu vào xã Duy Tân. Xã Duy Tân có tổng diện tích tự nhiên 21 km2,56.Với 11.658 nhân khẩu.
*Sau khi sắp xếp,huyện Duy Xuyên có 13 đơn vị hành chánh cấp xã gồm 12 xã và 01 thị trấn.
* Sắp xếp các đơn vị hành chánh cấp xã thuộc huyện Tiên Phước:
-Sáp nhập xã Tiên Cẩm vào xã Tiên Sơn. Xã Tiên Sơn có diện tích tự nhiên 40 km2,11.Với 7.382 nhân khẩu.
-Sau khi sắp xếp huyện Tiên Phước có 14 đơn vị hành chánh cấp xã, gồm 13 xã và 01 thị trấn.
* Sắp xếp các đơn vị hành chánh thuộc huyện Phú Ninh:
-Sáp nhập toàn bộ xã Tam Vinh vào thị trấn Phú Thịnh.Thị trấn Phú Thịnh có diện tích tự nhiên 20,32 km2.Với 10.928 nhân khẩu.
-Sau khi sắp xếp,huyện Phú Ninh có 10 đơn vị hành chánh cấp xã,gồm 09 xã và 01 thị trấn.
* Sắp xếp các đơn vị hành chánh thuộc thành phố Tam Kỳ.
- Sáp nhập toàn bộ phường Phước Hòa vào phường An Xuân. Phường An Xuân có diện tích tự nhiên 1,75 km2. Với 18.580 nhân khẩu.
- Sau khi sắp xếp thành phố Tam Kỳ có 12 đơn vị hành chánh cấp xã gồm 08 phường và 04 xã.
Các Đơn vị hành chánh thuộc tỉnh Quảng Nam trước ngày 12 tháng 6 năm 2025
Tên Thành phố; Thị xã ; Huyện.
Thành phố : Phường (8) An Mỹ,An Phú,An Sơn,An Xuân,Hòa Hương,Hòa Thuận,Tân Thạnh,Trường
Tam Kỳ : Xuân
(Tỉnh Lỵ) : Xã (4) Tam Thanh,Tam Thăng,Tam Ngọc,Tam Phú.
Thành Phố : Phường (9) Cẩm An, Cẩm Châu, Cẩm Nam,Cẩm Phô,Cửa Đại,Minh An,Sơn Phong,
Hội An : Tân An, Thanh Hà.
: Xã (4) Cẩm Hà,Cẩm Kim, Cẩm Thanh,Tân Hiệp.
Thị Xã : Phường (12) Điện An,Điên Dương,Điện Minh,Điện Nam Bắc,Điện nam Đông,
- Điện Bàn : Điện Thắng Trung,Điện Ngọc, Điện Phương, Điện Thắng Bắc,Điện
- Thắng Nam
-
Điện Thắng Trung, Vĩnh Điện.
-
Xã (8) Điện Hòa,Điện Hồng,Điện Phong,Điện Phước, Điện Quan,Điện Thọ,
-
Điện Tiến, Điện Trung.
Huyện : Thị trấn (1) Trà My (Huyện Lỵ).
- Bắc Trà My : Xã (12) Trà Bui, Trà Dương,Trà Đốc,Trà Đông, Trà Giác,
- Trà Giang.
-
Trà Giáp,TRà Ka,Trà Kót,Trà Nú,Trà Sơn,Trà Tân.
Huyện : Thị Trấn (1) Nam Phước (Huyện Lỵ) :
- Duy Xuyên : Xã (12) Duy Châu,Duy Hải,Duy Hòa,Duy Nghĩa,Duy Phú,Duy
- Phước,
-
Duy Sơn. Duy Tân,Duy Thành, Duy Trinh,Duy Trung,Duy Vinh.
Huyện : Thị TRấn (1) Ái Nghĩa (Huyện Lỵ )
- Đại Lộc : Xã ( 17) Đại An,Đại Chánh,Đại Cường, Đại Đồng , Đại
- Hiệp,Đại Hòa,
-
Đại Hồng,Đại Hưng,Đại Lãnh,Đai Minh,Đại Nghĩa, Đại Phong, Đại Quang
-
Đại Sơn,Đại Tân, Đại Thạnh,Đại Thắng.
Huyện : Thị Trấn (1) Prao (Huyện Lỵ).
Đông Giang : Xã (10) A Rooi, A Ting, Ba, jơ Ngây, Kà Dăng, Mà Cooih,Sông Kôn,Tà Lu. Tư,Zà Hung.
Huyện : Thị Trấn (1) Tân Bình (Huyện Lỵ)
- Hiệp Đức : Xã (9) Bình Lâm,Bình Sơn, Phước Gia, Phước Trà, Quế Lưu,
- Quế Tân,
-
Quế Thọ, Sông Tà, Thăng Phước.
Huyện : Thị Trấn (1) Thạnh Mỹ (Huyện Lỵ)
- Nam Giang : Xã (11) Cà Dy,Chà Vàl, Chơ Chun, Đắc Pre, Đắc Pring,Đắc
- Tôi, La Dêê,
-
La Êê , Tà Bhing,Tà Pơơ, Zuôih.
Huyện : Xã ( 10) Trà Mai (Huyện Lỵ) Trà Cang,Trà Don, Trà Dơn, Trà Leng, Trà Linh,
Nam Trà My : Trà Nam,Trà Tập, Trà Vân. Trà Vinh.
Huyện : Thị Trấn (1) Núi Thành ( Huyện Lỵ).
- Núi Thành : Xã (16) Tam Anh Bắc, Tam Anh Nam, Tam Giang,Tam Hải, Tam
- Hiệp.
-
Tam Hòa, Tam Mỹ Đông,Tam Mỹ Tây, Tam Nghĩa, Tam Quang, Tam Sơn,
-
Tam Thạnh,Tam Tiến, Tam Trà, Tam Xuân I,Tam Xuân II.
Huyện : Thị trấn (1) Phú Thịnh (Huyện Lỵ)
- Phú Ninh : Xã (9) Tam An,Tam Dân, Tam Đại, Tam Đàn,Tam Lãnh, Tam
- Lộc.
-
Tam Phước, Tam Thái, Tam Thành.
Huyện : Thị trấn (1) Khâm Đức (Huyện Lỵ)
- Phước Sơn : Xã (11) Phước Chánh, Phước Công, Phước Đức, Phước Hiệp,
- Phước Hòa,
-
Phước Kim, Phước Lộc,Phước Mỹ, Phước Năng,Phước Thành,Phước Xuân.
Huyện : Thị Trấn ( 3) Đông Phú, (Huyện Lỵ) Hương An, Trung Phước.
- Quế Sơn : Xã ( 15) Ninh Phước, Phước Ninh, Quế An, Quế Châu, Quế
- Hiệp, Quế Lâm.Quế Long
-
Quế Lộc, Quế Minh, Quế Mỹ, Quế Phong, Quế Phú,Quế Thuận, Quế Xuân I,Quế Xuân II.
Huyện : Xã (10) A Tiêng (Huyện Lỵ) A Nông, A Vương, A Xan, Bha Lêê, Ch’Ơm,Dang,
Tây Giang : Ga Ri, Lăng, Tr’ Hy.
Huyện : Thị Trấn (1) Hà Lam (Huyện Lỵ)
- Thăng Bình : Xã (19)BÌnh An, Bình Dương, Bình Đào, Bình Định,Bình
- Giang, Bình Hải.
-
Bình Lãnh, BÌnh Minh, BÌnh Nam, Bình Nguyên, Bình Phú, Bình Phục.
-
Bình Quế, Bình Quý, Bình Sa, Bình Trị, Bình Triều, Bình Trung,Bình Tú.
Huyện : Thị Trấn (1) Tiên Kỳ (Huyện Lỵ)
- Tiên Phước. : Xã (13) Tiên An, Tiên Cảnh,Tiên Châu, Tiên Hà,
- Tiên Hiệp, Tiên Lãnh.
-
Tiên Lập, Tiên Lộc, Tiên Mỹ, Tiên Ngọc, Tiên Phong, Tiên Sơn, Tiên Thọ.
(Tổng cộng gồm 17 đơn vị hành chánh, 2 cấp Thành phố, 1 Thị Xã và 14 Huyện
Trực thuộc Tỉnh Quảng Nam được tính trước ngày 12 tháng 6 năm 2025)
* Ngày 12 tháng 6 năm 2025.Quốc hội ban hành nghị quyến số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chánh cấp tỉnh. (Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025) Theo tinh thần nghị quyết nầy tỉnh QUẢNG-NAM được sáp nhập vào thành phố ĐÀ-NẴNG. (Thời ông Tô Lâm làm TBT/ĐCS/ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với sự chỉnh lý dưới đây, bắt đầu có hiệu lực từ 1 tháng 7 năm 2025).
| STT | Sáp nhập từ các đơn vị hành chính cấp xã | Phường, xã sau sắp xếp |
|---|---|---|
| 1 | Phường An Mỹ, An Xuân, Trường Xuân | Phường Tam Kỳ |
| 2 | Phường An Phú, Tam Thanh, Tam Phú | Phường Quảng Phú |
| 3 | Phường An Sơn, Hòa Hương, Tam Ngọc | Phường Hương Trà |
| 4 | Phường Tân Thạnh, Hòa Thuận, Tam Thăng | Phường Bàn Thạch |
| 5 | Phường Điện Phương, Điện Minh, Vĩnh Điện | Phường Điện Bàn |
| 6 | Phường Điện Nam Đông, Điện Nam Trung, Điện Dương, Điện Ngọc, Điện Nam Bắc | Phường Điện Bàn Đông |
| 7 | Phường Điện An, Điện Thắng Nam, Điện Thắng Trung | Phường An Thắng |
| 8 | Phường Điện Thắng Bắc, Điện Hòa, Điện Tiến | Phường Điện Bàn Bắc |
| 9 | Phường Minh An, Cẩm Phô, Sơn Phong, Cẩm Nam, Cẩm Kim | Phường Hội An |
| 10 | Phường Hội An Đông | Phường Hội An Đông |
| 11 | Phường Thanh Hà, Tân An, Cẩm An, Cẩm Hà | Phường Hội An Tây |
| 12 | Thị trấn Núi Thành, Tam Quang, Tam Nghĩa, Tam Hiệp, Tam Giang | Xã Núi Thành |
| 13 | Xã Tam Mỹ Đông, Tam Mỹ Tây, Tam Trà | Xã Tam Mỹ |
| 14 | Xã Tam Hòa, Tam Anh Bắc, Tam Anh Nam | Xã Tam Anh |
| 15 | Xã Tam Sơn, Tam Thạnh | Xã Đức Phú |
| 16 | Xã Tam Xuân I, Tam Xuân II, Tam Tiến | Xã Tam Xuân |
| 17 | Xã Tam An, Tam Thành, Tam Phước, Tam Lộc | Xã Tây Hồ |
| 18 | Thị trấn Phú Thịnh, Tam Đàn, Tam Thái | Xã Chiên Đàn |
| 19 | Xã Tam Dân, Tam Đại, Tam Lãnh | Xã Phú Ninh |
| 20 | Xã Tiên Lãnh, Tiên Ngọc, Tiên Hiệp | Xã Lãnh Ngọc |
| 21 | Thị trấn Tiên Kỳ, Tiên Mỹ, Tiên Phong, Tiên Thọ | Xã Tiên Phước |
| 22 | Tiên Lập, Tiên Lộc, Tiên An, Tiên Cảnh | Xã Thạnh Bình |
| 23 | Xã Tiên Sơn, Tiên Hà, Tiên Châu | Xã Sơn Cẩm Hà |
| 24 | Xã Trà Đông, Trà Nú, Trà Kót | Xã Trà Liên |
| 25 | Xã Trà Ka, Trà Giáp | Xã Trà Giáp |
| 26 | Xã Trà Giác, Trà Tân | Xã Trà Tân |
| 27 | Xã Trà Bui, Trà Đốc | Xã Trà Đốc |
| 28 | Thị trấn Trà My, Trà Sơn, Trà Giang, Trà Dương | Xã Trà My |
| 29 | Xã Trà Mai, Trà Don | Xã Nam Trà My |
| 30 | Xã Trà Cang, Trà Tập | Xã Trà Tập |
| 31 | Xã Trà Vinh, Trà Vân | Xã Trà Vân |
| 32 | Xã Trà Nam, Trà Linh | Xã Trà Linh |
| 33 | Xã Trà Dơn, Trà Leng | Xã Trà Leng |
| 34 | Thị trấn Hà Lam, Bình Nguyên, Bình Quý, Bình Phục | Xã Thăng Bình |
| 35 | Xã Bình Triều, Bình Giang, Bình Đào, Bình Minh, Bình Dương | Xã Thăng An |
| 36 | Xã Bình Nam, Bình Hải, Bình Sa | Xã Thăng Trường |
| 37 | Xã Bình An, Bình Trung, Bình Tú | Xã Thăng Điền |
| 38 | Xã Bình Phú, Bình Quế | Xã Thăng Phú |
| 39 | Xã Bình Lãnh, Bình Trị, Bình Định | Xã Đồng Dương |
| 40 | Xã Quế Mỹ, Quế Hiệp, Quế Thuận, Quế Châu | Xã Quế Sơn Trung |
| 41 | Thị trấn Đông Phú, Quế Minh, Quế An, Quế Long, Quế Phong | Xã Quế Sơn |
| 42 | Thị trấn Hương An, Quế Xuân 1, Quế Xuân 2, Quế Phú | Xã Xuân Phú |
| 43 | Thị trấn Trung Phước, Quế Lộc | Xã Nông Sơn |
| 44 | Xã Quế Lâm, Phước Ninh, Ninh Phước | Xã Quế Phước |
| 45 | Xã Duy Thành, Duy Hải, Duy Nghĩa | Xã Duy Nghĩa |
| 46 | Thị trấn Nam Phước, Duy Phước, Duy Vinh | Xã Nam Phước |
| 47 | Xã Duy Trung, Duy Sơn, Duy Trinh | Xã Duy Xuyên |
| 48 | Xã Duy Châu, Duy Hòa, Duy Phú, Duy Tân | Xã Thu Bồn |
| 49 | Xã Điện Hồng, Điện Thọ, Điện Phước | Xã Điện Bàn Tây |
| 50 | Xã Điện Phong, Điện Trung, Điện Quang | Xã Gò Nổi |
| 51 | Thị trấn Ái Nghĩa, Đại Hiệp, Đại Hòa, Đại An, Đại Nghĩa | Xã Đại Lộc |
| 52 | Xã Đại Đồng, Đại Hồng, Đại Quang | Xã Hà Nha |
| 53 | Xã Đại Lãnh, Đại Hưng, Đại Sơn | Xã Thượng Đức |
| 54 | Xã Đại Phong, Đại Minh, Đại Cường | Xã Vu Gia |
| 55 | Xã Đại Tân, Đại Thắng, Đại Chánh, Đại Thạnh | Xã Phú Thuận |
| 56 | Thị trấn Thạnh Mỹ | Xã Thạnh Mỹ |
| 57 | Xã Cà Dy, Tà Bhing, Tà Pơơ | Xã Bến Giằng |
| 58 | Xã Zuôih, Chà Vàl | Xã Nam Giang |
| 59 | Xã Đắc Pre, Đắc Pring | Xã Đắc Pring |
| 60 | Xã Đắc Tôi, La Dêê | Xã La Dêê |
| 61 | Xã Chơ Chun, La Êê | Xã La Êê |
| 62 | Xã Tư, Ba | Xã Sông Vàng |
| 63 | Xã A Ting, Jơ Ngây, Sông Kôn | Xã Sông Kôn |
| 64 | Thị trấn Prao, Tà Lu, A Rooi, Zà Hung | Xã Đông Giang |
| 65 | Xã Kà Dăng, Mà Cooih | Xã Bến Hiên |
| 66 | Bhalêê, Avương | Xã Avương |
| 67 | Xã Atiêng, Dang, Anông, Lăng | Xã Tây Giang |
| 68 | Xã Ch’ơm, Gari, Tr’hy, Axan | Xã Hùng Sơn |
| 69 | Thị trấn Tân Bình, Quế Tân, Quế Lưu | Xã Hiệp Đức |
| 70 | Xã Thăng Phước, Bình Sơn, Quế Thọ, Bình Lâm | Xã Việt An |
| 71 | Xã Sông Trà, Phước Gia, Phước Trà | Xã Phước Trà |
| 72 | Thị trấn Khâm Đức, Phước Xuân | Xã Khâm Đức |
| 73 | Xã Phước Đức, Phước Mỹ, Phước Năng | Xã Phước Năng |
| 74 | Xã Phước Công, Phước Chánh | Xã Phước Chánh |
| 75 | Xã Phước Lộc, Phước Kim, Phước Thành | Xã Phước Thành |
| 76 | Xã Phước Hòa, Phước Hiệp | Xã Phước Hiệp |
| 77 | Không thực hiện sắp xếp | Xã Tam Hải |
| 78 | Không thực hiện sắp xếp | Xã Tân Hiệp |
Trên đây là danh sách 78 xã,phường mới của tỉnh Quảng Nam (cũ) ,từ 1/7/2025
Sau khi sáp nhập Quảng Nam chính thức vào thành Phố Đà Nẵng,mà được gọi với tên
Chính thức là Thành Phố Đà Nẵng..
Tìm hiểu cụm từ “Địa Linh,Nhân Kiệt”
Khi nói đến xứ đất Quảng Nam mà không tìm hiểu về cụm từ “Địa Linh Nhân Kiệt” một cụm từ đặc biệt được dùng riêng cho vùng đất Quảng Nam, đó là một thiếu sót lớn, tại sao?.Bởi tạo hóa đã tạo nên xứ đất Quảng Nam, một vùng đất hẹp được kẹp giữa bởi phía Đông là Biển cả,phía Tây là dãy Trường Sơn với những ngọn núi cao sừng sững, biển,núi đã tạo nên một cảnh trí hùng vĩ. Sống giữa cái cảnh trí hùng vĩ ấy của thiên nhiên,ắt phải tạo được những con người xuất sắc vừa có tâm,vừa có tầm đã góp phần vào việc xây dựng đất nước. Nhất là chuyện đèn sách, những con dân Quảng Nam đã chăm chỉ với sách đèn nên đã thu lượm được những kiến thức sâu rộng. Tạo được những con người nổi tiếng,là do đâu?,chính bởi do cái “Địa Linh”mà đã tạo ra được cái “nhân kiệt” ấy. Quảng Nam phải thừa nhận là nơi phát tích những nhà ái quốc,những nhà cách mạng, bên cạnh đó,con dân Quảng Nam với tính cách làm việc một cách chăm chỉ,siêng năng đã chống chọi lại được với cái khắc nghiệt của trời đất,bên cạnh đó lại chăm lo đèn sách đã tạo nên những khoa bảng lừng danh,làm đẹp cho xứ sở của mình xứ đất Quảng Nam.,Không những thế con người Quảng Nam cũng đã làm rạng danh chung cho mọi người trên cả đất nước Việt,để cả dân tộc được tôn vinh với danh xưng là “con Rồng,cháu Tiên”.
Địa linh nhân kiệt là gì? Chúng ta hãy đọc ngược lại,để nhìn thấy cái kết quả từ cái “ nhân kiệt” mà hiểu biết về cái “địa linh”. Như vậy địa linh là gì? Đó là kết tinh từ sự linh thiêng của sông núi,đã cấu tạo nên một dãy đất hẹp được kẹp giữa hai yếu tố rất hùng vĩ là núi rừng và biển cả.Cảnh núi rừng và biển cả áp nhau tạo nên một dãy đất hẹp ắt phải tạo nên một cảnh trí hùng vĩ,những con người được sống trên dãy đất hùng vĩ ấy,chắc chắn phải được tiêm nhiễm sự mầu nhiệm từ linh khí của thiên nhiên mà tạo nên sự kiệt xuất ,để từ đó trở thành những “Nhân Kiệt”.
Hiểu như vậy,thì chúng ta thấy toàn bộ địa hình vùng đất Quảng Nam đã ứng nghiệm cho các điều trên.Một vùng đất hẹp được kẹp giữa một bên về phía Đông là biển cả,và một bên về phía Tây là núi rừng trùng điệp,cảnh trí ấy và mô hình ấy đã tạo nên một vùng đất gấm vóc được ban phát bởi thiên nhiên. Có thể nói rằng Quảng Nam là một vùng đất nghèo nàn,từ cái nghèo ấy đã ung đúc cho con người không những phải luôn phấn đấu để vượt cái khó.Từ ý chí vượt khó ấy,con người Quảng Nam đã tạo nên một định hướng là cầu tiến, từ sự cầu tiến đó tạo nên một sự hội tụ gồm những con người đầy kiến thức qua sự dùi mài kinh sử với ý chí là : “Làm trai đứng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông.”( Nguyễn công Trứ)
Người dân Quảng Nam đã đáp ứng được đầy đủ điều đó.Phải chăng “Địa Linh” là yếu tố duy nhất tạo nên cái :Nhân Kiệt”.Như vậy, chúng ta đã hiểu được những yếu tố nào đã tạo nên cái “Địa linh”,phải chăng đó là Sông,Núi,biển cả cái mà thiên nhiên đã dành cho những người là con dân Quảng Nam .
Trước hết chúng ta hãy xét về công cán của sự đèn sách.Đây là kết quả rất đáng được tự hào: Vào năm Mậu tuất 1898,niên hiệu Thành Thái năm thứ 10,Khoa thi Hội do triều đình Huế tổ chức,đã có 17 vị tân khoa trúng tuyển gồm 8 vị đỗ Tiến sĩ,9 vị đỗ Phó Bảng, trong đó tỉnh Quảng Nam đã chiếm hết 5 vị gồm 03 Tiến sĩ và 02 Phó Bảng, còn lại 12 vị được trải ra cho khắp các tỉnh từ Nam chí Bắc.Kết quả trên đã tạo thành một sự kiện đặc biệt của khoa cử nước nhà.Do vậy mà vua Thành Thái đã ban cho năm vị tân khoa Quảng Nam lá cờ thêu 04 chữ “NGŨ PHỤNG TỀ PHI”,mang ý nghĩa 05 con phụng cùng bay,bên cạnh đó vị vua lại ban chiếu cho tỉnh đường Quảng Nam tổ chức một cuộc đón rước thật long trọng đối với 05 vị tân Khoa trên.Ngoài 05 vị tân khoa thuộc nhóm “ngũ phụng tề phi” Các thí sinh Quảng Nam còn chiếm thêm danh hiệu “tứ hùng”,”Tứ Hổ” và “tam Kiệt” nữa.
Chúng ta lần lượt xướng danh các vị ấy sau đây:
- Năm vị trong nhóm “Ngũ Phụng Tề Phi”
a) 03 Tiến Sĩ gồm các ông:
- Ông Phạm Liệu,sinh quán làng Trừng Giang,huyện Điện Bàn,tỉnh Quảng Nam.
- Ông Phan Quang,sinh quán làng Phước Sơn,huyện Quế Sơn,tỉnh Quảng Nam.
- Ông Phạm Tuấn, sinh quán làng Xuân Đài,huyện Điện Bàn,tỉnh Quảng Nam.
Hai vị Phó Bảng:
- Ông Ngô Chuân tức là Ngô LÝ,sinh quán làng Cẩm Sa,huyện Điện Bàn,tính Quảng Nam.
- Ông Dương hiển Tiến,sinh quán làng Cẩm Lậu,huyện Điện Bàn ,tỉnh Quảng Nam.
2) Danh hiệu Tứ Hùng:
Khoa thi Hương tại trường Thừa Thiên năm Canh Tý (1900),có 42 vị trúng tuyển,thì Quảng Nam đã chiếm được 14 vị.Trong số 14 vị lại có 4 vị đỗ cao nhất.
-Ông Huỳnh thúc Kháng với vị thứ 1/42,quê làng Thạnh Bình,huyện Tiên Phước,tỉnh Quảng Nam.
-Ông Nguyễn Đình Hiến với vị thứ 2/42,quê làng Trung Lộc,huyện Quế Sơn,tỉnh Quảng Nam.
-Ông Phan Châu Trinh với vị thứ 3/42 quê làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước,tỉnh Quảng Nam.
-Ông Lê bá Trinh với vị thứ 4/42 quê làng Hải Châu,huyện Hòa Vang,tỉnh Quảng Nam.
3) Tứ Hổ,
Khoa thi hội năm Tân Sửu tại kinh đô Huế (1901) 4 vị đồng hương Quảng Nam cùng đỗ Phó Bảng
-Ông Nguyễn đình Hiến,sinh quán làng Trung Lộc,huyện Quế Sơn,tỉnh Quảng Nam.
-Ông Phan châu Trinh, sinh quán làng Tây Lộc,huyện Tiên Phước,tỉnh Quảng Nam.
- Ông Võ Vỷ ,sinh quán làng An Phú,huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng Nam.
-Ông Nguyễn mậu Hoán, sinh quán làng Phú Cốc,huyện Quế Sơn,tỉnh Quảng Nam.
4) Tam KIệt,
Ba vị là đồng hương Quảng Nam đã đỗ thủ khoa trong 3 kỳ Thi Hương liên tiếp gồm các ông:
-Ông Phạm Liệu,sinh quán làng Trùng Giang,huyện Điện Bàn,Tỉnh Quảng Nam đỗ thủ khoa năm
Giáp ngọ (1894).
-Ông Huỳnh thúc Kháng sinh quán làng Thạnh Bình,huyện Tiên Phước,tỉnh Quảng Nam,đỗ thủ
Khoa năm Canh Tý (1900).
-Ông Võ Hoành, sinh quán làng Nam Phước,huyện Duy Xuyên,tỉnh Quảng Nam,đỗ thủ khoa
Năm Quý Mão năm ( 1903).
Trên đây là thành tích mà những người con dân Quảng Nam đã đạt được qua sự cố gắng dùi mài đèn sách,kinh sử đã góp phần làm rạng danh cho xứ đất Quảng Nam,một vùng đất được mệnh danh là “Địa Linh Nhân Kiệt”. những con người được đề tên lên bảng vàng của quốc gia qua các kỳ thi do Triều Đình tổ chức tại kinh đô Huế, đó là những nhân tố đã tạo được những thành tích xuất sắc về học vấn,làm cho người cả nước phải đem lòng ngưỡng mộ,chính họ là những người đã làm rạng danh,mà không phải hổ thẹn với câu thành ngữ đã được ghi bên trên là “Địa Linh,nhân Kiệt”. Không những thế, ý nghĩa từ sách đèn đã ung đúc nên những con người Quảng Nam, đã thu nhận sâu sắc ý nghĩa đạo lý nhân bản. Từ đó trên mãnh đất Quảng Nam cũng lại là nơi phát tích thật nhiều nhà ái quốc,nhà cách mạng, cũng như nhiều nhà văn nổi tiếng khác, tất cả đều thuộc vào tầng lớp đã là tiền bối của chúng ta, đã được ghi nhận dưới đậy:
____________________________
TỔNG ĐỐC HOÀNG DIỆU.
-Tống đốc Hoàng Diệu (1828-1882) tên thật là Hoàng kim Tích sau mới đổi lại là Hoàng Diệu, tự là Quang Viễn,hiệu Tinh Trai.Ông sinh ngày 10 tháng 2 năm Kỷ sửu,(tức 14 tháng 3 năm 1829) tại làng Xuân Đài,huyện Diên Phước (nay là thị xã Điện Bàn,tỉnh Quảng Nam) gia đình ông gồm 7 anh em mà họ đều nổi tiếng là những người thông minh trong vùng. Sử ghi chép gia đình Hoàng Diệu có 1 người đỗ Phó Bảng, 3 người đỗ Cử Nhân,hai người đỗ Tú Tài trong các kỳ thi dưới triều vua Tự Đức.Một trong các hậu duệ của ông là nhà toán học Hoàng Tụy. Hoàng Diệu là người nổi bậc nhất trong số các anh em của gia đình.Năm 20 tuổi ông đã đỗ cử nhân cùng một lần với người anh trai Hoàng kim Giám lúc nầy đã 23 tuổi.Năm 25 tuổi ông đỗ phó bảng năm Quí Sửu (1853).Năm 1854 ông được vua Tự Đức bổ nhiệm làm Tri Phủ Tuy Phước,rồi Tuy Viễn (Bình Định).
Năm 1864 tại triều đình Huế xảy ra vụ án Nguyễn Phúc Hồng Tập,con Hoàng thân Miên Áo là em chú bác với Hồng Nhậm ( tức vua Tự Đức). Công việc bại lộ Hồng Tập và Nguyễn văn Viện bị án chém. Hoàng Diệu đến nhậm chức Tri huyện Hương Trà thay Tôn Thất Thanh bị đổi đi nơi khác. Bấy gờ đã có mặt trong lúc hành quyết và đã nghe Hồng Tập nói: “Vì tức giận về hòa nghị mới bị tội,xin chớ ghép vào tội phản nghịch” Sau đó các quan Phan huy Kiệm,Trần gia Huệ và Biện Vĩnh tâu lên vua Tự Đức,đề nghị nhà vua nên theo gương Hán minh Đế,thảm tra lại vụ án.Tự Đức phán là vụ án đã được đình thần thẩm xét kỹ,nay nghe Phan huy Kiệm nói Hoàng Diệu đã kể lại lời trăng trối của Hồng Tập,bèn quyết định giáng chức Phan huy Kiệm,Trần gia Huệ,Biện Vĩnh và Hoàng Diệu.
Được phục chức sau vụ “tẩy oan” Hồng Tập,Hoàng Diệu lần đầu ra Bắc năm 1868,làm Tri Phủ Đa Phúc.rồi Tri Phủ Lạng Giang (Bắc Giang) Án Sát Nam Định,Bố Chính Bắc Ninh.Trong chín năm ấy,ông lập nhiều quân công,dẹp trộm cướp và an dân, ở nơi đâu ông cũng được sĩ dân quý mến.
Năm 1873,ông được triệu về kinh đô Huế giữ chức tham tri Bộ Hình,rồi Tham Tri Bộ Lại,kiêm quản Đô Sát Viện, dự bàn những việc ở Cơ mật Viện.Năm 1878,đổi làm Tuần Phủ Quảng Nam,thăng Tổng đốc An Tịnh (tức Nghệ An và Hà Tỉnh ngày nay) nhưng vì Tổng Đốc Nguyễn Chính vẫn còn lưu nhiệm nên ông phải ở lại Huế,làm Tham tri Bộ Lại. Chẳng bao lâu sau,ông được sung chức Phó Toàn Quyền Đại Thần, đàm phán với sứ thần Tây Ban Nha một hiệp ước giao thương.Đầu năm 1880,ông làm Tổng Đốc Hà Ninh lãnh chức hàm Thượng Thư bộ Binh, kiêm quản cả việc thương chính.
Biết rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp lúc bấy giờ, Hoàng Diệu bắt tay ngay vào việc chuẩn bị chiến đấu,kinh lý,biên phòng,như Đại Nam Chính Biên liệt truyện đã nêu,tổng đốc Hà Ninh đã, “cùng với tổng đốc Sơn Tây Nguyễn hữu Độ dâng sớ nói về việc bố phòng,lại cùng với Nguyễn đình Nhuận mật tâu về chước phòng vệ sẵn” Vua Tự Đức khen, “ Nhưng sau đó như trong di biểu nêu- vua lại trách cứ lưu binh…vì sợ giặc” … chế ngự không đúng cách”?
Như vậy Hoàng Diệu, ông đã làm quan đến chức Tổng Đốc Hà Nội. Năm 1882 quân Pháp đánh thành Hà Nội,Thống Đốc đã chỉ huy quân lính chống trả mãnh liệt, trong lúc chiến sự diễn ra khốc liệt,thì kho thuốc súng của Hà Nội lại bị nổ tung,có thể là do Việt gian bị Pháp mua chuộc làm việc nầy.dẫn tới dám cháy lớn trong thành làm cho lòng quân hoang mang .Quân Pháp thừa cơ phá dược cổng Tây mà ùa vào thành.Bố chính Nguyễn văn Tuyển,Đề đốc Lê văn Trinh và các lãnh binh bỏ thành chạy,còn Tuần phủ Hoàng hữu Xứng trốn trong hành cung.
Trong tình thế tuyệt vọng,ngài Tổng Đốc vẩn tiếp tục bình tỉnh dẫn đầu quân sĩ chiến đấu chống lại quân Pháp,dù lực lượng ngày càng yếu đi.Không thể giữ được thành nữa.Cuối cùng,ngài Tổng Đốc đã ra lệnh cho tướng sĩ giải tán để tránh thương vong.Một mình ông vào hành cung,thảo tờ di biểu dâng vua với các ý: “Tướng lược phi trường,tử quý sanh nhi vô ích.Thành vong mạc cứu,túng nhiên từ hữu dư cô ..” ( Làm tướng bất tài, thần nghĩ sống cũng vô ích, Thành mất không cứu được,dẫu chết cũng chưa hết tội…) Rồi quay mặt hướng về kinh đô mà lạy vua bốn lạy rồi đi lại vỏ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ mà tự tử, ông hưởng thọ mới vừa được 54 tuổi.Thống Đốc Hoàng Diệu ngoài người cháu trai Hoàng Tụy giỏi toán,ông còn có hai người cháu ngoại là hai nhà văn nổi tiếng của Quảng nam, đó là Phan Khôi và Bùi Giáng.
Người Hà Nội vô cùng đau đớn trước cái chết của ông,ngày hôm sau nhiều người họp lại,sắm sửa mền nệm tử tế,rước quan tài của Tổng Đốc từ trong thành ra,tổ chức việc khâm liệm lại và mai táng ông tại khu vườn Dinh Đốc Học ( Nay là địa điểm khách sạn Royal Star nơi đường Trần quí Cáp, cạnh chợ Ngô Sĩ Liên,sau ga Hà Nội).
Hơn một tháng sau hai người con trai của ông ra Hà Nội,lo liệu việc đưa thi hài của ông về quê quán Quảng Nam và mai táng vào mùa thu năm ấy để theo cùng với tổ tiên.
Viết về danh tướng Hoàng Diệu có bài thơ “ Vô danh” dưới đây rất hay nói lên khí phách của ông, xin ghi lại:
Đã tay cầm bút lại cầm binh / Muôn dặm giang sơn nặng một mình / Phò chúa,chúa lo,lo với chúa / Giữ thành,thành mất,mất theo thành / Suối vàng ắt hẳn mài gươm bạc / Huyết đỏ âu đành chép sử xanh / Di biểu hãy còn sôi chánh khí / Nghìn năm sùng bái bậc khoa danh ./
Lịch sử nước nhà đã ghi,danh tướng Tổng đốc Hoàng Diệu cũng giống như Trần Bình Trọng đời Trần, “ Thà làm quỷ nước Nam / Còn hơn làm Vương đất Bắc.
Thật đáng kính thay “ Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây / Một giấc sa trường phận rủi may”
- (1) (Thơ Nguyễn đình Chiểu khóc Phan công Tòng).
________________________
QUAN ĐẠI THẦN PHẠM PHÚ THỨ.
- Phạm phú Thứ (1821-1881), ông có tên lúc nhỏ là Phạm Hào,khi đỗ Tiến sĩ được vua Thiệu Trị đổi tên ông là Phú Thứ, tự Giáo Chi,hiệu là Trúc Đường,biệt hiệu là Giá Viên,thụy hiệu là Văn Ý Công,là một Đại thần nhà Nguyễn,ông là một trong số Đại thần có quan điểm luôn muốn canh tân nước Việt ,trong khoản thời gian cuối thế kỷ 19.
Ông Phạm Phú Thứ sinh năm Tân Tỵ (1821) tại làng Đông Bàn,huyện Điện Bàn,tỉnh Quảng Nam, nhà nghèo,mẹ ông mất sớm,nhưng nhờ ông là người rất thông minh,lại chăm chỉ học hành và được Tùng thiện Vương Miên Thẩm dạy dỗ,nên ông sớm có tiếng là người học giỏi.Năm Thiệu trị thứ II,Phạm phú Thứ dự thi Hương,đỗ Giải nguyên khi mới 21 tuổi.Năm 1843 ông dự kỳ thi Hội đỗ Hội Nguyên,Khi vào thi Đình ông đỗ luôn Tiến sĩ khoa Quý Mão (1843).
Con đường Quan lộ:
Năm 1844,đang dưới triều vua Thiệu Trị Phạm phú Thứ được bổ làm Biên Tu,rồi thăng lên làm Tri Phủ Lạng Giang (nay là Bắc Giang),rồi thăng làm thị độc.Một thời gian sau ông xin được nghỉ chức vì có tang cha.
Tiếp đến năm Tự Đức thứ 2 (1849) ông được chuyển qua Tập hiền viện làm chức Khởi cư chú ( tức Thư ký ghi lời nói và hành động của vua) rồi sang tòa Kinh Diên.
Năm 1850,thấy nhà vua ham vui chơi,lơ là việc triều chính,ông mạnh dạng dâng sớ can gián,nên bị cách chức và giam ở nhà giam Thừa Phủ (ngay trong thành phố Huế). Xét án,triều đình khép ông vào tội đồ và phạt đày đi xa,song nhà vua cho rằng đó chỉ là “*lời nói khí quá khích,không nở bỏ,nhưng răng về (tính) nóng bậy”,*nên ông chỉ bị đày làm thừa nông dịch (tức là lính trạm chuyên chạy về việc canh nông (Huế).
Được phục chức làm quan lần thứ hai:
Năm 1852,ông được khôi phục hàm Biên tu (hàm lúc sơ bổ) năm 1854,ông được cử đi nhận chức Tri Phủ Tư Nghĩa tại tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây ông tổ chức và vận động dân chúng lập được hơn 50 kho nghĩa thương để phòng khi chẩn tế cho dân. Với việc làm đó,ông lại được cử giữ chức Viên ngoại Lang ở Bộ Lễ.
Năm 1855, ông được điều động sang công tác quân sự để giải quyết cuộc bạo động của người thượng ở Đá vách,Quảng Ngãi. Sau khi dẹp yên,ông được thăng chức Án Sát Sứ ở hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Nội.
Năm 1858,ông được chuyển về làm việc ở Nội Các tại Huế.
Năm 1859,ông xin về quê để dưỡng bịnh và cải táng mộ cha. Khi trở lại triều,ông dâng sớ xin đắp đê Cu Nhí,đào sông Ái Nghĩa,đồng thời xây dựng công sự bố phòng và luyện tập quân sự ở tỉnh nhà Quảng Nam.
Năm 1860.từ Nội các,ông được thăng chức Thị Lang Bộ Lại,rồi được thăng làm Thự Tham tri bộ nầy.
Đi sứ sang Châu Âu:
Sau khi vua Tự Đức xét trong mấy điều khoảng thuộc Hòa Ước Nhâm Tuất**,**còn có nhiều điều khoảng chưa thỏa, liền sung Phạm phú Thứ làm Khâm sai vào ngay Gia Định,hội với Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp (hay Thiếp) để đàm phán với quan soái Pháp và quan Đại Thần nước Y pha Nho (Tây ban Nha) không hoàn thành nhiệm vụ,ông bị gián một cấp. Tháng 5 (âm lịch) năm nầy ông được cử làm Phó sứ,cùng với Chánh sứ Phan thanh Giản và Bồi sứ Ngụy khắc Đản,sang Pháp và tây Ban Nha với nhiệm vụ xin chuộc lại ba tỉnh Miền Đông Nam Kỳ.
Năm 1864, tháng 2 sứ bộ về đến Huế, Sau đó,ngoài bản tường trình cốt để thuyết phục vua Tự Đức mau “cải cách việc học tập và phát triển nông nghiệp”Phạm phú Thứ còn dâng lên vua hai tác phẩm do ông làm trong chuyến đi,đó là Tây hành nhật ký và Tây Phù thi thảo. Vua xem cảm động,có làm một bài thơ để ghi lại việc nầy. Được tin cậy nhà vua thăng ông là Tham Tri Bộ Lại ( là cơ quan xét thăng cấp ). Năm 1865 ông được thăng chúc Thượng Thư Bộ Hộ (ngang với bộ Tài Chánh),sung Cơ mật viện Đại Thần,ở chức vụ nầy ông đã mật tâu xin đặt 4 Tuyên phủ sứ ở Quảng Trị,Bình Định,Nghệ An và Hưng Hóa; đồng thời xin đặt “trường giao dịch chợ búa,sửa thuế thương chính,lập thổ tù” ở các nơi ấy để làm “vững mạnh nơi biên phòng,nhưng việc rút cuộc không thành”.
Năm 1866, quan soái Pháp phái tàu đến cửa Thuận An (Huế) đưa thư đòi “quản luôn ba tỉnh Vĩnh Long,An Giang và Hà Tiên”; vì ở đây “bọn trộm cướp thường qua lại” .Nhà vua liền sai Phạm phú Thứ và Phan huy Vịnh đến “xin giữ giao ước cũ lâu dài”.
Năm 1867,Phan thanh Giản mất,triều đình cử Phạm phú Thứ đến điều đình với Pháp.Song thực dân Pháp không hài lòng về cách xử sự cứng rắn của ông,còn triều đình Huế,thì không hài lòng vì việc thương lượng cứ đổ vỡ.Cuối cùng ông bị Ngự Sử đàn hặc,và bị gọi về kinh “ hậu cứu”.
Năm 1873,vì phạm lỗi,ông bị giáng làm Thị Lang,rồi sau đó được khôi phục chức Tham Tri.
Năm 1874,triều đình cho mở nhà thương chính Bắc Kỳ,nhà vua cho ông là người “am hiểu” và “có tài cán lão luyện” nên vào tháng 10 ÂL năm đó,đổi ông làm Thự Tổng Đốc Hải Yên (hay Hải An gồm Quảng Yên và Hải Dương) kiêm sung Tổng lý thương chánh Đại thần . Đến nơi gặp lúc đê huyện Văn Giang (nay là Hưng Yên) bị vỡ,nước lũ tràn cả hai phủ Bình Giang và Ninh Giang tỉnh Hải Dương. Thấy dân đói khổ,ông lập tức xin trích năm vạn phương gạo ở kho Hưng Yên để phát chẩn.Đồng thời lại phái thuộc hạ,đem những người dân còn khỏe đến Đông Triều,Nam Sách…khẩn hoang,cày cấy kiếm sống.
Năm 1876,nhà vua chuẩn cho Phạm phú Thứ thực thụ chức Tổng đốc Hải An.Để yên dân,ông xin đặt trường mua gạo ở chợ An Biên (huyện An Dương,Hải Phòng) và Đồ Sơn (huyện Đông Triều,tỉnh Quảng Ninh); đồng phái thương biện là Lương văn Tiến (anh em họ ngoại với ông) đi hiểu dụ lưu dân tạo công ăn việc làm cho họ để họ thôi “càn rỡ, ngang ngược”. Ngài ra ông còn cho khai rộng sông ở phủ Bình Giang,mở nha Thương Chánh và trường học chữ Pháp ở Hải Dương vào năm 1878.
Năm 1878,ông cũng được thăng làm Thự Hiệp biện Đại học sĩ,song vẫn giữ chức vụ cũ. Cũng trong năm nầy,Khâm phái Ngự Sử là Dương Hoàn tâu lên rằng “Lương văn Tiến ( Lúc nầy đang làm Giám đốc việc tuần phòng ngoài biển) cậy thế chở gạo ra ngoại quốc”…. Vì vậy Phạm phú Thú phải về Huế để chữa bệnh và đợi án. Năm 1880,khi bản án dâng lên,ông bị giáng làm Quang lộc tự khanh,lĩnh chức Tham tri Bộ Binh.Nhân có bịnh trong người,ông xin về quê.
Năm Tự Đức thứ 35 (1881) Phạm phú Thứ mất tại quê nhà,giữa những ngày u ám nhất của vận mệnh nước nhà dưới triều vua nhà Nguyễn,ông hưởng thọ được 61 tuổi.
Sau khi ông mất,vua Tự Đức thương tiếc ban dụ,trong đó có đoạn : “ Phú Thứ kinh lịch nhiều khó nhọc,đi Đông,sang Tây,dẫu yếu đuối cũng vâng mệnh không dám từ chối. Về việc trông coi thương chính ở Hải Dương,khi tới nơi công việc đều có manh mối,sau nầy nên lấy đó noi theo. Những lưu dân,gian phỉ chứa cả ở Quảng Yên,Thứ tới kinh lý cũng được yên. Rồi mở đồn điền ở Nam Sách,thực là lo xa chu đáo,đó là công cán ngày thường rực rỡ đáng nêu.Gia ơn cho truy phục nguyên hàm Thự Hiệp Biện Đại Học Sĩ và chuẩn cho thực thụ, cũng sắc cho địa phương tới tế một tuần.Sau đó ông còn được đặt tên Thụy là Văn Ý Công ( theo trần văn Giáp)
Tóm lại: Phạm Phú Thứ ông làm quan tại triều đình nhà Nguyễn đã đạt đến chức Thừa tướng Bộ Hộ,và đã từng đi sứ sang Pháp trong phái bộ Phan Thanh Giản,trong sứ mệnh thương thuyết để chuộc lại 3 tỉnh Miền Đông Nam Kỳ.Tuy cuộc thương thuyết bất thành,nhưng khi về nước, Phạm phú Thứ đã dâng lên vua nhiều kiến nghị về việc muốn thay đổi chính sách để thích ứng với tình thế mới,Nhưng vua Tự Đức và các triều thần không chịu lắng nghe những lời đề nghị của ông,nên tình thế không thay đổi gì được.Trong chuyến xuất ngoại nầy,quan Đại Thần Phạm phú Thứ,đã học được cách xử dụng kéo xe nước bằng trâu từ Ai Cập khi phái bộ đi ngang và ghé chơi nước Ai Cập thấy trên bờ sông Nil,thổ dân có thứ xe nước dùng trâu kéo cũng tiện.Ông bảo người tư ký riêng của ông là Lương Văn Tân (người Bảo An) lấy kiểu.Và ông đã đem cái học được ấy dạy lại cho dân chúng dùng trâu làm sức kéo trong việc đạp nước.Dân chúng đã ứng dụng phương thức nầy để cải thiện phương cách dẫn thủy nhập điền, tiết kiệm được rất nhiều công cán trong công việc nông tang.
Phạm Phú Thứ,ông thường giao du với các thi nhân thời bấy giờ như anh em Tùng thiện Vương,Tuy Lý Vương,Phan Thanh Giản,Trương Đăng Quế, Bùi văn Dị .v…v.
Ông được đánh giá là một viên quan tốt dưới triều nhà Nguyễn và ông còn lưu lại cho đời nhiều tác phẩm bằng chữ Hán dưới đây:
-
Tây phù thi Thảo ( Bản thảo tập thơ đi sứ Tây Phương).
-
Tây hành Nhật Ký ( Nhật ký đi sứ Tây Phương) hai tập văn nầy ghi lại khá tỉ mỉ những điều mắt thấy tai nghe về kinh tế,chính trị,phong tục,tập quán của người phương tây trong chuyến đi sứ dài ngày năm 1863.
-
Trúc Đường Thi Văn Tập (tập thơ văn của Trúc Đường)
-
Giá Viên Toàn Tập (Toàn tập Giá Viên) cả thảy có 26 quyển: 13 quyển thơ,13 quyển văn,gồm đủ các thể loại,thơ,tấu,phú,văn tế, ký….
-
Bản triều liệt thánh sự lược toát yếu.
-
Thuật tiên đức.
. Lịch triều thống hệ niên phả toát yếu.
______________________
NHÀ CÁCH MẠNG NGUYỄN DUY HIỆU
Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887) sinh quán làng Thanh Hà,Huyện Diên Phước,(tức Điện Bàn),tỉnh Quảng Nam. Đỗ Phó Bảng khoa Kỹ Mão (1879) làm quan giữ đến chức Hồng Lô Tự Khanh,nên được gọi là “Hường Hiệu”.Là thủ lãnh Nghĩa Hội Quảng Nam,lập tân tỉnh ở Trung Lộc,huyện Quế Sơn,đánh nhau cùng quân Pháp nhiều trận.Sau vụ bị thua ở núi An Lâm,ông bị Pháp bắt đóng củi giải về kinh để chịu án tử hình. Trong bài thơ tuyệt mệnh viết khi trung dung tựu nghĩa,ông cũng đã nói:
Tây nam vô địch xích đồng tri.
Tảo cập kim thời thế khả vi,
(Không địch được quân Tây chuyện đã biết/ Thời cơ như thế lẽ nào ngồi trơ).
Tháng 7 năm 1885 (thang 5 năm Ất Dậu) cuộc phản công của phe chủ chiến ở kinh thành Huế thất bại.Phụ chính Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm nghi ra Quảng Trị (cổ thành) xuống dụ Cần Vương (13 tháng 7 năm 1885).
Hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước của nhà vua,Nguyễn duy Hiệu cùng Trần văn Dư ,Phan bá Phiến (tức Phan thanh Phiến,cùng với Tiểu La Nguyễn Thành (còn gọi là Ấm Hàm) thành lập Nghĩa hội và cử Trần văn Dư làm Thủ hội. Sau đó ra bản cáo thị kêu gọi toàn dân trong tỉnh cùng đứng lên đáp nghĩa sông núi.
Ngày 4 tháng 9 năm 1885,nghĩa quân Quảng Nam bao vây chiếm tỉnh thành La Qua (tức thành tỉnh Quảng Nam,cũng còn được gọi là La Thành) Tri phủ Nguyễn Ngoạn phải dẫn quân rút chạy.
Được tin khẩn, quân Pháp và quân Nam triều (thuộc triều đại vua Đồng Khánh) dưới quyền chỉ huy của tướng Pháp tên Schants phản công chiếm lại thành nầy. Trước sức mạnh vũ bão mà vũ khí tối tân của đối phương,mãi cho đến tháng 10 năm 1885,các căn cứ ở Dương Yên,An Lâm,Đại Đồng cũng đều bị bao vây và thất thủ.
Trước tình thế nguy ngập đó,bộ chỉ huy nghĩa quân phải chọn giải pháp “giải binh quy điền” để bảo an toàn sinh mạng binh lính nghĩa binh.Và đến tháng 12 cùng năm, Trần văn Dư giao quyền thủ hội cho Nguyễn Duy Hiệu để ra Huế gặp vua Đồng Khánh là học trò cũ của ông, nhằm tìm ra một giải pháp.Nhưng dọc đường ông lại bị quyền Tổng đốc Quảng Nam Châu đình Kế bắt giữ và báo cho quân Pháp.Với lòng bất khuất,ông mắn chửi tên chó săn nầy thậm tệ.Để trút nỗi uất ức bị mắn chửi ,viên quan nầy lại mượn tay quân Pháp giết chết ông tại góc thành La Qua. Vào ngày 13 tháng 12 năm 1885.
Lúc bấy giờ Nguyễn duy Hiệu lại chính thức làm Hội Chủ mới của Nghĩa Hội,ông đã chọn thung lũng Trung Phước thuộc huyện Quế Sơn đặt Tổng Hành Dinh với tên gọi la Tân Tỉnh Trung Lộc.
Từ đó, Nguyễn duy Hiệu tổ chức đi đánh nhiều trận,gây cho đối phương nhiều thiệt hại.Điển hình là trận tập kích đơn vị công binh Pháp đang mở đường qua đèo Hải Vân tiêu diệt toàn bộ toán công tác nầy.Tập kích trận Bãi Chài đánh đội Ca Nô Vàm Ly trên sông Thu Bồn. Trận phục kích quân Pháp và quân triều đình ở Cấm Muồng. v..v.
Tháng 2 năm 1886.viên Khâm sứ Trung Kỳ là Hector đã điều động khoảng 400 lính Pháp cùng với khoảng 200 quân của triều đình do Nguyễn Thân chỉ huy đã rầm rộ tiến vào căn cứ Tân Tỉnh Trung Lộc.Tại trận kịch chiến Gò May,nghĩa quân bị thất bại,bản doanh tại Trung Lộc bị đốt cháy,san bằng. Thấy không thể cầm cự được nữa Nguyễn duy Hiệu cùng Phan bá Phiến liền ra lệnh đánh vượt vòng vây để chạy về một địa điểm gần cửa biển An Hòa,Tam Kỳ.
Nguyễn Thân liền xua quân càn quét rất ngặt, Nghĩa quân lại thất bại tại Phước Sơn (Tiên Phước) lực lượng do Tiểu La Nguyễn Thành chỉ Huy. Sau trận nầy tuy Nguyễn duy Hiệu và Phan bá Phiến đều chạy thoát,nhưng lực lượng thực sự đã cùng.Không thể để nghĩa quân của cả ba tỉnh bị giết hại hết.Nghe lời thủ lĩnh Nguyễn duy Hiệu. Phan Bá Phiến uống thuốc độc tự vẩn để tránh sự bị bắt.còn lại Ông Hường Hiệu tự trói mình nạp mạng cho đối phương và nhận lãnh hết trách nhiệm về mình.Hôm đó nhằm ngày 21 tháng 9 năm 1887 (tức 5 tháng 8 Bính Tuất).
Các sự kiện diễn biến kế tiếp:
Chứng kiến cái chết oan liệt của người đồng sự tâm phúc nhất Phan Bá Phiến.Nguyễn duy HIệu về quê thăm viếng mẹ già. Xong ông ra miếu Quan Công ở giữa bãi cát Thanh Hà,mặc áo dài đen, đầu vấn khăn cẩn thận,ngồi xếp bằng trước bàn thờ,rồi sai người đi báo cho Nguyễn Thân đến bắt.
Sau đó Nguyễn Duy Hiệu liền bị giãi về Huế,triều đình Đồng Khánh liền dùng danh lợi dụ ông,nhưng ông đều từ chối. Cuối cùng,Cơ mật Viện triều đình kết án tử hình ông. Và ông được xử tử vào ngày rằm tháng 8 năm Bính tuất ( 15/10/1887) tại Huế) Ông hưởng hướng dương được vừa ở tuổi 40. Phần mộ ông Hường Hiệu được táng tại xã Cẩm Hà,thị xã Hội An.
Sau khi dẹp được nghĩa đảng cách mạng Quảng Nam thành công, Nguyễn Thân được nhà cầm quyến Pháp tặng Bắc đẩu Bội Tinh ngũ hạng.và vua Đồng Khánh ban cho Nguyễn Thân gia hàm Thượng Thư nhưng sung Nghĩa Định Tiểu phủ Sứ, thưởng thêm một Kim khánh hạng Lớn.
Bức thư tuyệt mệnh:
Cần Vương thệ dữ Bắc Nam đồng / Vô nại khuông tương lộ vị thông / Vạn cổ cương thường vô Ngụy Tháo / Bách niên tâm sự hữu Quan Công / Thiên thư phận dĩ sơn hà định / Địa thế sầu khan thảo mộc cùng / Ký ngữ phù trầm tư thế giả / Hưu tương thành bại luận anh hùng .
Và cụ Huỳnh thúc Kháng dịch thơ:
Cần vương Nam Bắc kết tơ đồng /Cứu giúp dường kia khởi chẳng thông / Muôn thuở cương thường ai Ngụy Tháo? / Trăm năm tâm sự có Quan Công / Non sông phần tự thơ trời định / Cây cỏ buồn trông thấy đất cùng / Nhắn bảo nỗi chìm ai đó tá? / Chớ đem thành bại luận anh hùng .
Ghi nhận công lao:
Năm Ất Tỵ, nhà chí sĩ Phan bội Châu đã viết trong Việt Nam vong quốc sử như sau:
Nguyễn Hiệu (và Phan bá Phiến) người Quảng Nam, khởi nghĩa ba năn huyết chiến,người Pháp chưa lúc nào đánh thua được. Gặp phải Nguyễn Thân,người Quảng Ngãi,trước cũng dự tên Nghĩa hội,sau phản Nghĩa hội theo Pháp (đây) là tay đầu sỏ nhất trong bọn nô-lệ Pháp ( đồng ) đảng nó là Lê Khiết cũng cùng là chó dữ của Pháp; (Nếu dù) Hiệu,Phiến ở đâu,tất nó hết sức dò la, Than Ôi! Hai người ấy,nhà tan không nghĩ đến, chăm chăm chỉ nghĩ đến bảo toàn đảng để mưu về sau,trong mắt họ,trong bụng họ chỉ có tổ quốc,có đồng bào mà thôi, can tràng như thế,thật là trời đất phải khâm phục, quỷ thần phải kính nể..
___________________________
NHÀ CÁCH MẠNG TRẦN VĂN DƯ.
Trần văn Dư (có sách viết là Trần Dư) ông sinh vào ngày rằm tháng mười một năm Kỷ Hợi (31/12/1839) tại làng An Mỹ,huyện Hà Đông phủ Thăng Bình (nay là Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng nam) .Xuất thân trong một gia đình nhà nho.Năm 1858 ông được 19 tuổi ông thi đỗ Tú Tài, Năm 1868 ông đỗ Cử Nhân Ân Khoa.Năm Ất Hợi 1875 ông đổ đệ tam giáp đồng Tiến Sĩ cùng khóa với Phạm như Xương người cùng tỉnh. Đỗ Tiến Sĩ năm nầy ông được bổ chức Hàn Lâm Viện tu soạn.Thời gian trước đó khi đỗ Cử Nhân,ông được cử làm sơ khảo trường thi Bình Định. Tháng 7 ( ÂL) 1873,triều đình bổ ông chức Hàn Lâm viện điển tịch,sung hành tẩu cơ mật viện.
Sau khi đỗ Đại Khoa,tháng 11 (ÂL) năm đó,tức nắm 1875. Năm 1876 ông được cử làm Tri Phủ Ninh Giang. Tháng 2 (ÂL) năm 1879,ông được điều động đến nhậm chức Tri Phủ Quảng Oai (nay là Ba Vì,Hà Nội).Ở đây,ông bí mật liên lạc với Hoàng kế Viêm cùng với các sĩ phu yêu nước để cùng mưu việc đánh Pháp, nhưng đang trong vòng bí mật.
Tháng 10 (ÂL) năm 1880,ông lại được điều về Huế giữ chức Hàn Lâm Thị Độc, sung chức Giảng tập tại Dục Đức đường. Đến tháng chạp năm đó lại sung ông làm Tán Thiện Chánh Mông đường ( lo việc dạy học cho Dục Đức và Đồng Khánh là lúc mà hai hoàng tử nầy chưa lên ngôi)
Tháng 4 (ÂL) năm 1883. Trần văn Dư được cử làm Án Át tỉnh Hà Tỉnh.Đến tháng 11 ÂL năm đó,ông được đổi làm Hồng Lô Tự Khanh Biện Lý Bộ Lại, sung chức Tham Biện Thương Bạc sự vụ.
Cuối năm 1884,ông được cử giữ chức Sơn Phòng Sứ Quảng Nam.
Tháng 5 năm Ất Dậu ( tháng 7 năm 1885) Pháp tấn công kinh thành Huế, phe chủ chiến tại kinh thành chống trả mãnh liệt,nhưng bị thất bại. Phụ chính Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị (Cổ Thành) xuống dụ Cần Vương, nhằm ngày 13 tháng 7 năm 1885.Hưởng ứng lời kêu gọi của nhà vua yêu nước nầy, ông đã cùng với cụ Nguyễn duy Hiệu, Phan bá Phiến,Tiểu La Nguyễn Thành,Nguyễn Hanh… thành lập Nghĩa Hội để chống Pháp,ông được cử làm Hội Thủ.
Tháng 7 năm Ất Dậu (tháng 8 năm 1885) ông thay mặt Nghĩa Hội ra Bản Cáo Thị kêu gọi toàn dân trong tỉnh đứng lên chống Pháp.
Ngày 4 tháng 9 năm đó, ông cùng Nguyễn Duy Hiệu,Tiểu La Nguyễn Thành,Phan bá Phiến,Nguyễn hanh…chia quân ra làm nhiều cánh,rồi cùng tiến đánh thành tỉnh La Qua ( còn gọi la La Thành) là thành tỉnh Quảng Nam.Bố chánh Bùi tiến Tiên,Tuần phủ Nguyễn Ngoạn,Án sát Hà thúc Quán phải dẫn quân bỏ chạy.
Làm chủ thành La Qua được 20 ngày,đến ngày 25 tháng 9 năm 1885,quân Pháp cùng quân của triều đình Huế,dưới quyền chỉ huy của tướng Schauts,cùng với Nguyễn Thân,tiểu phủ sứ,cùng Bố chánh Lê Khiết mở cuộc tấn công để tái chiếm thành La Qua.Trước lực lượng đông đảo và vũ khí tối tân của đối phương.Ông cùng Nguyễn duy Hiệu quyết định rút đại bộ phận quân kháng chiến về Sơn Phòng Dương Yên thuộc vùng cao phủ Tam Kỳ.
Liên quân Pháp- Việt của triều đình lại tiếp tục truy kích,bên cạnh các căn cứ quân của Nghĩa Hội ở Đại Lộc,Quế Sơn, Tam Kỳ, An Lâm,Đại Đồng và kể cả tại Dương Yên cứ lần lượt bị bao vây và thất thủ.
Trước tình thế nguy ngập đó,Bộ chỉ huy nghĩa quân hộp bàn nhau phải chọn kế sách “giải binh,qui điền” để bảo toàn sinh mạng của Nghĩa Hội viên,đó cũng là cách trong lúc không còn cách, để bảo toàn lực lượng của tổ chức, mong một ngày tổ chức sẽ tụ hội về sau.
Tháng 12 năm 1885,Trần văn Dư giao quyền Thủ hội lại cho Nguyễn Duy Hiệu,để ra Huế gặp vua Đồng Khánh là học trò cũ của mình,bàn tính tìm một giải pháp để cứu nước.
Trên đường đi,ông bị tên quyền Tuần Phủ sứ Quảng Nam Châu Đình Kế bắt giữ và báo cho quân Pháp.Với tinh thần bất khuất,ông mắn Tuần phủ Kế thậm tệ, Căm tức,viên quan nầy đã mượn tay người Pháp giết ông,tại nơi góc thành La Qua vào ngày 13 tháng 12 năm 1885.Lúc bấy giờ ông mới vừa được 46 tuổi.
Hiện nay phần mộ của nhà chí sĩ Trần văn Dư đã được cải táng về thôn An Thọ,xã Tam An (Kỳ Lý cũ) huyện Phú Ninh,tỉnh Quảng nam. Gần sát mép đường Quốc lộ IA bên tay mặt,nếu tính từ ngoài vào, trước mặt tháp Chiên Đàn, mọi người đều nhìn thấy khu đền thờ của cụ Trần văn Dư, nhưng không được trang nghiêm cho lắm,từ cách xây dựng cùng việc thờ phượng.
Nhà nước Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay,đã dùng tên nhà chí sĩ Trần Văn Dư đặt tên cho một con đường tại quận Tân Bình ,thành phố Hồ chí Minh (tức Sài Gòn cũ),Tại Quảng nam một con đường tại quận Ngũ Hành Sơn Đà nẵng và tại Tam kỳ một con đường cũng mang tên cụ,tại quận Phú Ninh,Quảng Nam tên cụ cũng được dùng đặt cho một trường Trung Học Phổ Thông thuộc quận nầy.
Ghi chú: Lê Khiết người Quảng Ngãi cùng với Nguyễn Thân trong vụ tiêu diệt nghĩa hội,nhưng về sau Lê Khiết thức tỉnh và năm 1908,Lê Khiết đã tham gia vào phong trào Duy Tân,nên bị Pháp giết.Tại Quảng Ngãi có trường Trung Học mang tên Lê Khiết thời Việt Minh trước năm 1954,chúng ta không lấy làm lạ vì ông đã được người Quảng Ngãi tôn vinh là nhà cách mạng.
_______________________________
CHÍ SĨ TRẦN QUÝ CÁP:
- Trần quí Cáp (1870-1908) ông có tên là Nghị,sau đổi là Quý Cáp,Tự Dã Hàng, Thích Phu,hiệu là Thái Xuyên,Ông được sinh ra vào năm Canh Ngọ (1870) tại làng Bất Nhị,huyện Điện Bàn,tỉnh Quảng Nam. Lúc nhỏ ông đã nổi tiếng là một trong sáu học trò lỗi lạc của cụ Đốc Học Trần đình Phong,tại trường Thanh Chiêm cùng với Phạm Liệu,Nguyễn Đình Hiến, Phan Châu Trinh, Huỳnh thúc Kháng và Phan Quang. Ông tham gia phong trào Duy Tân chống pháp,sau đó ông bị bắt giam và vào năm 1908 ông chịu án chém ngang lưng.Hiện nay tại tỉnh Khánh Hòa,huyện Diên Khánh, ngay tại thị trấn Diên Khánh đang có đền thờ và dân chúng tại đây đang thờ cúng ông một cách long trọng.
Là một học trò xuất sắc,tuy nhiên,con đường khoa cử trong khoa trường của ông lại khá lận đận.Năm 1903 ông vẫn còn là một Tú tài. Trong khi các bạn đồng môn người thì Tiến sĩ,kẻ thì Phó Bảng hay Cử Nhân,nhưng rồi ông cũng đỗ Tiến sĩ vào khoa Giáp Thìn (1904) Ông giành giải nhất khoa nầy đứng trên Hội Nguyên Huỳnh thúc Kháng,và đứng trên Đình Nguyên Đặng văn Thụy người Nghệ An.Tuy bằng cấp cao như vậy,nhưng lúc ban đầu không ra làm quan chỉ ở nhà dạy học và chăm sóc cha mẹ,và cổ xúy cho tân học.Về sau vì hoàn cảnh gia đình,ông phải ra làm Giáo Thụ tại phủ Thăng Bình,rồi bị đổi vào tỉnh Khánh Hòa.Và sau đó ông bị tố cáo là có liên hệ trong vụ chống thuế ở Quảng nam,mặc dầu là không bằng chứng, nhưng vẫn bị trảm quyết tại Nha Trang.Người đời cho rằng bản án của ông giống nguyên như bản án “Mạc tu hữu” của Nhạc Phi đời Tống bên Tàu.
Trần quý Cáp,tuy ông xuất thân Nho học,nhưng ông sớm giác ngộ tư tưởng Duy Tân,và muốn mang những hiểu biết đó để nâng cao dân trí và vận động cải cách xã hội.Ông cùng với Huỳnh Thúc Kháng,Phan châu Trinh cùng với những bạn bè tâm giao khác khởi xướng phong trào Duy Tân.Mục đích của phong trào nầy là “khai dân trí,chấn dân khí,hậu dân sinh” thông qua việc mở các trường tân học,bỏ lối học tầm chương trích cú,phát triển công thương và cải cách xã hội.
Năm 1906,Tổng đốc Nam Ngãi Hồ Đệ xin bổ Trần quý Cáp làm giáo thụ phủ Thăng Bình,tỉnh Quảng nam. Châu bản ngày 05 tháng 07 năm Thành Thái thứ 18 (1906) của Bộ Lại cho biết “Ngày 21 tháng 5 năm nay,nhận được tờ tư của Tổng đốc Nam Ngãi Hồ Đệ trình rằng: Chức Giáo thụ phủ Thăng Bình thuộc hạt hiện khuyết. Xét có đồng Tiến sĩ Trần quý Cáp xin về dạy học để tiện chăm sóc cha mẹ là người cần mẫn,văn học đáng khen,được sĩ tử lấy làm tấm gương,xin đưa viên ấy bổ làm giáo thụ phủ ấy.
Trần quý Cáp vốn không thích con đường quan lộ,mà chỉ say sưa nhóm họp mọi người để diễn thuyết,truyền bá những tư tưởng canh tân,đổi mới. Sự say sưa đó khiến nhiều người cho rằng ông mắc chứng cuồng. Chính viên Khâm Sứ Đại Thần Lévecque cũng cho rằng “ Tiến sĩ Trần Quý Cáp có chút chứng cuồng, chưa chắc có thể khỏi hẳn,nhưng tỉnh đó đã xét bổ chức Giáo thụ nghĩ đồng ý điển bổ”.Tuy nhiên, theo lời khuyên của gia đình và bằng hữu,ông đã nhận chức Giáo thụ phủ Thăng Bình.
Lãnh chức xong ông mời những người biết chữ Quốc ngữ,chữ Pháp về dạy cho sĩ tử trong trường,từ đó tư tưởng đổi mới nầy đã lan rộng ra các trường trong tỉnh. Trước sự thay đổi đó, thực dân Pháp nhận ra sự nguy cơ từ những hoạt động của ông. Vì vậy, ông bị đổi vào làm Giáo Thụ tại phủ Ninh Hòa thuộc tỉnh Khánh Hòa. Trong bản tấu ngày 27 tháng 12 năm Duy Tân thứ nhất (1907) của Bộ Lại. Đại ý như sau “ Vâng, xét viên Giáo Thụ phủ Thăng Bình.tỉnh Quảng nam Trần quý Cáp là người tỉnh ấy,nhận được quý tòa Khâm Sứ nói rằng nên hoán bổ tỉnh khác.Viên đó xin đổi bổ chức Giáo thụ phủ Ninh Hòa”. Đặc biệt,phần cuối châu bản còn trình rõ ý của Khâm Sứ đại thần Lévecque “Tựu trung Trần Quý Cáp nếu không an phận thủ thường sẽ xét cho về” Việc Trần quý Cáp diễn thuyết,truyền dạy tư tưởng mới,mở trường dạy tân học,mời thầy dạy quốc ngữ, chữ Pháp, đã làm cho quan lại tỉnh Quảng nam và cả người Pháp e ngại.Vì vậy,bọn chúng quyết tìm cách điều ông đi nơi khác.
Sau khi Trần Quý Cáp nhận chức Giáo Thụ phủ Ninh Hòa, thì tại huyện Đại Lộc,tỉnh Quảng nam nổ ra cuộc biểu tình chống đi phu và đòi giảm thuế.Biết được tin ấy Trần quý Cáp gửi thư cho các bạn hữu của ông tại Quảng Nam.Biết được việc nầy,thực dân Pháp cho lùng bắt ông ngay.Nội dung bản tấu của Bộ Binh ngày 04 tháng 05 Duy Tân thứ 2 (1908) như sau: “ Ngày 13 tháng trước nhận tư văn của tỉnh Khánh Hòa Phạm ngọc Quát trình rằng: đã nhận được tư văn của Chính Phủ nói dân hạt Quảng nam,Quảng Ngãi tụ tập đòi xét giảm tiền sưu.Hạt ấy tư mong tăng cường tuần phòng nghiêm ngặt,ngăn chận,lùng bắt.Và gần đây ngài Công Sứ tỉnh (Khánh Hòa) bàn việc cùng rà bắt viên Giáo thụ Trần quý Cáp ở Ninh Hòa và tra xét các trường Ấu học,thầy dạy,thân sĩ,hương lí tình nghi”. Sau đó Trần quý Cáp bị bắt. Bản tấu ngày 19 tháng 3 năm Duy Tân thứ 3 (1909) của bộ Lại viết rõ: “Nay nhận được tư văn của Phủ Phụ Chính nói rằng: Ngày tháng 5 năm ngoái nhận được tập tấu của tỉnh Khánh Hòa trình rằng : Ngày tháng 3 năm đó tỉnh ấy bàn cùng ngài Công Sứ lục bắt Trần quý Cáp và nhiều người liên can”.
Quan tỉnh Khánh Hòa kết án ông tội “mưu phản đại nghịch” . Sử liệu,Châu bản triều Nguyễn nhắc tới bản án nầy như sau: “ Ngày 19 tháng trước nhận được bản án do tỉnh Khánh Hòa đệ trình,ghi rằng: Trần quý Cáp là người đỗ đạt trong khoa giáp lại dám mưu đồ làm phản .Trước đây cùng bọn Huỳnh Thúc Kháng,Phan Châu Trinh,Hoàng thượng Trung cấu kết với người nước ngoài âm mưu phản nghịch.Nay lại ngấm ngầm tàng trữ giấy tờ của bọn giặc (Sào Nam tử thi tập) Nguyễn ty Trực biết rõ âm mưu,không tố cáo,sau khi đem ra tra xét mới chịu cung kkai tất cả sự thực. Vậy xin theo luật “ Mưu phản đại nghịch” xử Trần quý Cáp bị lăng trì xử tử. Xin theo luật “mưu phản” xử Nguyễn ty Trực bị chém ngay. Phủ tuần vâng xét: Trong án nầy.Trần quý Cáp mưu đồ làm phản,Nguyễn ty Trực cũng biết rõ âm mưu,tội tình giống nhau,nhưng lại kiêm dẫn hai điều luật,rồi phân biệt xét xử là ra hai đầu mối. Vậy xin theo luật nầy,xử Trần quý Cáp bị chém ngay,miễn tội lăng trì.
Ngày 17 tháng 5 năm Duy Tân thứ 2 (1908*)* Trần quý Cáp bị đưa ra bãi sông Cạn xử trảm. Khi ra pháp trường ông vẫn ung dung,điềm tỉnh như khi đang giảng sách cho học trò. Trong bài điếu văn ông Sào Nam Phan bội Châu viết: “Nhớ khi ông tới trường chém,dao đã kề cổ,còn ung dung xin với quan giám trảm cho đặt án,đốt hương, áo mão nghiêm trang,bái lạy quốc dân năm bái,rồi khẳng khái tựu hình,sắc mặt in như khi nhóm trò giảng sách”. Đó là khí phách của bậc anh hùng,của một chí sĩ yêu nước đã sống trọn một đời khinh tài,trọng nghĩa đầy khí tiết. Ông bỏ mình dưới lưỡi đao oan nghiệt khi mới 38 tuổi,nhưng mãi là tấm gương sáng về người chí sĩ yêu nước,là người thầy truyền bá tư tưởng Duy Tân “khai dân trí,chấn dân khí “ vậy.
Không những cụ Sào Nam Phan Bội Châu đã viết,để mô tả về tính khí khái của Trần Quý Cáp, mà Ông “Tôn Thất Doãn là người bạn đồng tâm chí thiết của chí sĩ Trần quý Cáp trong phong trào Duy Tân,cũng đã viết lời ca ngợi lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước của Chí Sỹ Trần Quý Cáp như sau: “Chí sỹ Trần quý Cáp luôn tỏ ra là một sĩ phu yêu nước,khẳng khái trước mặt quan đầu tỉnh Khánh Hòa.Án sát Phạm ngọc Quát tên tay sai đắc lực của công sứ Bréda”. Để dập tắc phong trào yêu nước của các sĩ phu tỉnh Khánh Hòa,vào giữa tháng 5 năm 1908, Công sứ Bréda đã đồng tình với Án Sát Phạm Ngọc Quát vô cớ bắt giam Tiến sĩ Trần Quý Cáp”.
Những tấm gương trên của Tiền nhân rất đáng được cho hậu thế chúng ta soi xét bản thân trong việc làm người vậy*./.
_____________________________
THÁI PHIÊN NHÀ CÁCH MẠNG TÀI BA TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
Trước tiên chúng ta nên đọc trước Bản tuyên Ngôn của Hội Đồng quân Sự Việt Nam do chí sĩ Thái Phiên phụ trách biên soạn và ông Mai Dịch tu chỉnh:
Tuyên ngôn có đoạn nêu lên trách nhiệm công dân đối với dân tộc,đồng thời vạch rõ tội ác của thực dân Pháp như sau:
“Công ơn mở nước và giữ nước của cha ông đã ghi sâu trong tâm khảm mỗi người.Đó không phải những dòng lịch sử khô khan mà chính là đạo lý dân tộc, là nghĩa vụ của mỗi công dân phải được thực hiện ngay trong tình thế hiện nay: Những cuộc nổi dậy chống lại ách nô dịch của nước Pháp – những kẻ cai trị quen giọng điệu hiểm sâu.
Bọn bảo hộ người Pháp rất ngang ngược,bề ngoài thì họ giả dạng người bảo hộ, nhưng bên trong là nọc rắn độc,lòng lan,dạ sói.Chúng có đầy tham vọng độc ác,xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ nước ta.,đối xử tàn bạo với dân chúng,áp đặt đủ các loại thuế khóa để chúng chiếm đoạt hết tài nguyên,của cải của dân ta… Chúng không khai sáng trí óc người bản xứ. Tự do ngôn luận và sinh hoạt cộng đồng bị cấm đoán. Điều quan trọng là chúng khinh rẻ Hoàng Gia,bạc đãi những người trung thành với nhà Vua. Thượng Hoàng bị truất ngôi mà không hề có lỗi ( vua Thành Thái bị truất phế) Mộ của vua Tự Đức bị đào xới mà không có lý do..”
Bản Tuyên ngôn kêu gọi, thúc dục mọi công dân hãy đứng lên tranh đấu cho nền độc lập của nước nhà. “ Đây là lúc tràn đầy hy vọng để chúng ta khôi phục lại quyền lợi của nước nhà của mình và cởi bỏ gông xiềng nô lệ! Cờ Tổ quốc sẽ bay cao và ta sẽ thấy rạng ngời non sông Hồng Lạc! Nòi giống da vàng sẽ phồn vinh tươi sáng và người ta sẽ thấy rạng rỡ hình ảnh con Rồng cháu Tiên!
Hỡi tất cả công dân! Cơ hội có một không hai đã đến! Trên đầu chúng ta là Trời xanh bao la và mặt trời đang sáng soi chứng giám!”
Qua nội dung bản tuyên ngôn trên cho chúng ta nhìn thấy,tiền nhân của chúng ta đã ý thức rất cao về tính thần dân tộc,ý niệm được cái nhục nhã của một dân tộc bị ngoại xâm,dân chúng phải trở thành “nô lệ”.
Điển hình qua tinh thần yêu nước ấy là nhà chí sĩ Thái Phiên,Trần Cao Vân,Nguyễn quang Siêu,Tôn thất Đề. Trong số người yêu nước trên,nổi bậc là chí sĩ Thái Phiên, chúng ta nên tìm hiểu về thân thế nhà cách mạng nầy,để có cơ hội học hỏi về tinh thần yêu nước nơi người.
________________________
Chí sĩ cách mạng THÁI – PHIÊN
* Thái Phiên (1882-1916) người làng Nghi An,Tổng Phước Tường,huyện Hòa Vang,tỉnh Quảng nam.Ông là con trai duy nhất của Thái duy Tân và bà Lê thị Lý là người Nghĩa An.Thái Phiên tham gia Việt Nam Quang Phục Hội.Cùng với Trần cao Vân hai người chủ xướng cuộc khởi nghĩa cùng với vua Duy Tân chống Pháp tại Trung Kỳ Việt Nam.Ông được bầu làm Tổng chỉ huy cuộc kháng chiến nầy.Nhưng đại cuộc không thành.Ông bị bắt và bị chém cùng với Trần cao Vân, Tôn thất Đề,Nguyễn quang Siêu là hai tùy tùng của nhà vua tại cửa An Hòa,phía tây thành phố Huế. Thi hài hai ông được bọn Pháp chôn chung cùng một huyệt mộ ới Trần Cao Vân.
Nội Vụ: Hội Việt Nam Quang Phục tại Huế họp toàn kỳ, vào tháng 9 năm 1915,đã ủy thác cho Thái Phiên và Trần Cao Vân liên lạc với vua Duy Tân,đây là một công việc rất khó,vì vị vua trẻ nầy cũng bị người Pháp nghi ngờ ngầm theo dõi.Để được tiếp xúc với vua Duy Tân,Thái Phiên và Trần Cao Vân phải vận động người lái xe cho nhà vua nghỉ việc,để đưa Phạm hữu Khánh,người đồng chí của mình vào thay.Chính Khánh là người làm công việc liên lạc giữa nhà vua và các ông Thái Phiên và Trần cao Vân. Lúc nầy, thế chiến thứ I bùng nổ ,nước Pháp đang sa lầy bởi cuộc chiến nầy.Hơn lúc nào hết,các yếu nhân của phong trào như Thái Phiên,Trần cao Vân,Lê Ngung…quyết định nhân cơ hội tốt nầy phát động cuộc khởi nghĩa,để đánh đổ bọn thực dân Pháp, xây dựng một nước “Việt Nam Cộng Hòa Dân Quốc”.
Và rồi để thực hiện ý định nầy đem đến một kết quả tốt, là phải tổ chức một cuộc kháng chiến đồng bộ, nên Việt nam Quang phục Hội,phải tiến hành một cuộc họp tất cả các yếu nhân tại Huế, để bàn việc chuẩn bị khởi nghĩa. Đồng thời phân công phụ trách chịu trách nhiệm từng vùng.Cuộc họp tán thành việc thành lập Ủy Ban khởi nghĩa đứng đầu là Thái Phiên và Trần cao Vân, trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa tại kinh đô Huế. Các yếu nhân khác phụ trách ở các tỉnh: Phan thành Tài phụ trách Quảng nam, Lê Ngung,Nguyễn Thụy phụ trách Quảng Ngãi,Nguyễn Chánh Quảng Bình,Đoàn Bảng Thừa Thiên Huế.
Hiệu lệnh khởi nghĩa: đúng 1 giờ sáng ngày khởi nghĩa,quân khởi nghĩa sẽ đốt lửa trên đồi Thiên Mụ để báo hiệu cho các cánh quân đồng loạt nổi dậy. Lính lệ Trường Thi sẽ hợp với quân của một sĩ quan người Đức tại đồn Mang Cá,tiến hành đánh chiếm Tòa Khâm, và trụ sở các bộ.Súng thần công tại kinh thành sẽ được bắn, để đúng 1 giờ sáng ngày 3 tháng 5 năm 1916 thì trên đỉnh Hải vân sẽ được nổi lửa phát tín hiệu để truyền đi khắp mọi nơi.
Tuy nhiên,việc tiếp xúc với vua Duy Tân chưa có cơ hội,nên cuộc khởi nghĩa lại tiếp tục bị trì hoãn.
Nhưng rất may, vào ngày 14 tháng 4 năm 1916, nhân lúc nhà vua đi duyệt binh tại Trường Thi, Phạm hữu Khánh đã tìm cách đưa nhà vua đến chỗ gặp Thái Phiên và Trần Cao Vân.Do mưu đồ việc lớn nên Thái Phiên và Trần Cao vân bất chấp nguy hiểm,giả làm người câu cá trên sông Ngự Hà để vào Hoàng thành gặp vua.
Sau khi xem duyệt binh xong,nhà vua thả bộ dọc theo sông Ngự Hà rồi tạt vào hậu hồ để gặp các ông mà bàn mọi việc. Sau cuộc gặp đó mọi chỉ thị của tố chức “Việt Nam Quang phục Hội” đều do một mình Thái Phiên thảo và ký tên là “Cô Đà” tức Bí danh của ông lúc bấy giờ. Chính Thái Phiên đã thảo chương trình,mật chiếu cùng bài hịch cho cuộc khởi nghĩa, rồi cho người đem trình vua Duy Tân xem.Mọi việc làm trên chứng tỏ Thái Phiên, ông là một yếu nhân của phong trào. Bài hịch đã được ghi nơi phần đầu của bài nầy.
“Giữa đêm 3 tháng 5 năm 1916,theo kế hoạch đã định,vua Duy Tân đi chân đất, đầu chít khăn đen,mình mặt áo cụt đỏ sẩm và quần vải trắng” được bí mật đưa ra khỏi hoàng thành,để đến nhà Thương Bạc gặp Thái Phiên và Trần cao Vân. Tại đây, nhà vua được hai ông đưa xuống thuyền xuôi về Hà Trung Phú Vang,Huế. Sau khi đưa vua đến bến Ngự.Thái Phiên nghe Nguyễn quang Siêu báo “Khi đưa vua ra đến Thương Bạc thì tôi gặp Trần quang Trứ hớt hải cho chèo thuyền qua tòa Khâm !” Thái Phiên giật mình nhìn Trần Cao Vân và hỏi : “Trứ được giao nhiệm vụ phối hợp hành động ở trấn Bình Đài, tại sao hắn lại qua Tòa Khâm nầy làm gì” ?”. Đến đây, các lãnh tụ phong trào Duy Tân có dự cảm kế hoạch nổi dậy đã bị bại lộ.
Đến 3 giờ sáng mà súng hiệu vẫn chưa nổ,biết cơ mưu bị bại lộ,Thái Phiên và Trần Cao Vân đưa nhà vua rời Hà Trung,theo đường núi để về Bà Nà như đã định. Khi vua tôi đi ngược lên vùng Tây Nam Huế và trọ lại tại chùa Ngũ Phong thuộc xóm Ngũ Tây,thôn An Cựu,thì tại đây đã có mặt bọn mật thám Pháp, Đổng Lý văn phòng Le Front,Khâm Sứ Chartles, quan quân Nam Triều cùng với lính Pháp đã vây kín khắp mọi nơi.Cả Vua Duy Tân,Thái Phiên và Trần Cao Vân cùng nhiều đồng chí của các ông đều bị bắt .
Công việc khởi nghĩa như vậy là bị bất thành,bởi tên nội gián Trần quang Trứ, là nhân viên của Tòa Công sứ Thừa Thiên và cũng là cơ sở của hội hoạt động trong lính bảo hộ. Nhưng Trứ toan làm phản vì một chút danh lợi vinh thân phì da. Nên vào cái đêm định mệnh mồng 2 tháng 4 năm 1916, Trứ đã vội vàng xuống đò qua sông thẳng đến toàn Khâm sứ phi báo mọi sự việc đã xảy ra.
Sau lúc đó,thì ở khắp các trại lính tại Huế đều bị lệnh cấm ra vào,vũ khí bị tước sạch đưa vào kho khóa lại. Vì vậy mà đến giờ phát lệnh cuộc kháng chiến không còn tiếng súng báo hiệu. Và tất nhiên lửa báo hiệu trên đèo Hải Vân,Quảng Nam,Quảng Ngãi cũng không đốt lên được nốt. Cuộc khởi nghĩa đã chuẩn bị một cách công phu, dưới sự chỉ đạo từ vị vua trẻ yêu nước Duy Tân,đã bị dập tắt từ trong trứng nước,bởi từ một tên phản bội.Cái nguy hiểm của các tổ chức cách mạng là không thể đề phòng được tư tưởng hủ lậu từ những tên phản trắc, nên đã bị hỏng đại sự cho công cuộc cứu nước.
Tại kinh thành Huế sau giờ bọn Pháp cũng như Triều Đình An Nam biết được tin cuộc khởi nghĩa do tên phản trắc Trần quang Trứ báo tin. Bọn thực dân tức tốc ban lệnh truy lùng tìm bắt vua Duy Tân. Chúng đã lần theo dấu tích mà phát hiện được nhà vua cùng hai lãnh đạo phong trào Thái Phiên và Trần Cao Vân đang trú trong ngôi chùa bên núi Ngũ Phong.Bọn chúng điệu nhà vua về và giữ ở đồn Mang Cá. Còn các ông Thái Phiên,Trần Cao Vân,Tôn thất Đề, Nguyễn quang Siêu đều bị dẫn về và tống giam vào lao Thừa Phủ.
Trước tòa án Nam Triều,Thái Phiên và Trần Cao Vân khẳng khái nhận mọi công việc đều do hai ông thủ xướng, Trần Cao vân với chức danh là Quân sư, Thái Phiên là phó quân sư.
Ngày 17 tháng 5 năm 1916,chính phủ bảo hộ và Bộ Hình của Nam Triều, đã đưa các ông Thái Phiên,Trần Cao Vân cùng hai tùy tùng của nhà vua là Tống thất Đề,Nguyễn quang Siêu ra chém ở pháp trường An Hòa. Còn vua Duy Tân chờ đến mùa hè năm Bính Thìn đưa vào Vũng Tàu,để sau đó đày sang Phi Châu. Bọn thực dân Pháp sau đó đưa Khải Định,con trai của vua bù nhìn Đồng Khánh lên thay. Trước khi chết Thái Phiên và Trần Cao Vân viết một bản trần tình khẳng khái nhận hết tội lỗi về mình và đề nghị thực dân Pháp tha tội chết cho vị vua trẻ Duy Tân.Bài trần tình có câu:
“Trung là ai? Nghĩa là ai? Cân đai võng lọng là ai? Thà để cô thân tử biệt.Trời còn đó! Xã tắc sơn hà còn đó! Mong cho Thánh Thượng sinh toàn!”
Rất nhiều yếu nhân trong hội,mưu cầu khởi nghĩa,làm một cuộc cách mạng cứu nước đều đã bị bắt, bị giết.Cả hai trăm người khác bị kết án khổ sai đày ra Côn Đảo,ra Lao Bảo và Thái Nguyên,gia sản của họ đều bị tịch biên.
Tháng 6 năm 1925,bà Trương thị Dương là đồng chí của hai ông trong tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội,đã bí mật đưa hài cốt hai ông từ An Hòa về chôn gần tháp Hòa thượng Kiết Mao,thuộc xã Xuân Thủy.Sau đó 11 ngày,việc cải táng có nguy cơ bị bại lộ.Bà Dương từ Quảng Trị vào,rồi đêm đến bí mật đào hài cốt hai ông đem chôn chung một mộ tại đồi thông Từ Hiếu (trên đường lên lăng Tự Đức). Bà Dương đã dựng bia cho hai ông với các dòng chữ “Trần cao quý Công –Thái duy quý Công Chi mộ”.
_________________________
CHI SĨ YÊU NUỚC TRẦN CAO VÂN.
Trước khi ra pháp trường thọ án chém bay đầu, Chí sĩ Trần Cao Vân đã ung dung đọc bốn cấu thơ:
TrờI chung không đội với thù Tây
Quyết trả ơn vua,nợ nước nầy
Một mối ba giếng xin giữ chặt
Thân dù thác xuống rạng đài mây.
Trần Cao Vân ( sinh năm 1866, bị chém ngày 17 tháng 5 năm 1916) bị bọn thực dân Pháp cùng với nhà nước Nam Triều kêu án tử hình bởi tội, cùng với Thái Phiên lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự đồng tình và cổ xúy của vị vua trẻ yêu nước Duy Tân,như mọi người trong chúng ta đều biết,nhưng cuộc kháng chiến bị thất bại trong trứng nước,bởi do bọn giá áo,túi cơm phản bội ngay trước giờ hành động.Cuộc khởi nghĩa đã thất bại,dĩ nhiên những người cầm đầu đều bị bắt.Để bảo vệ vị vua trẻ yêu nước,Thái Phiên và Trần Cao Vân đã nhận chịu toàn bộ trách nhiệm về mình, đồng thời chịu án tử hình của bọn thực dân Pháp và chính phủ Nam Triều.Các chí sĩ đã hy sinh một cách anh dũng.Tuy nhiên trong số ấy,đặc biệt cuộc đời hoạt động của nhà cách mạng Trần Cao Vân đã để lại cho đời những dấu ấn riêng biệt,rất đặc sắc.
Khí tiết từ con người yêu nước Trần Cao Vân:
Ông có tên thật là Trần công Thọ,(hay Trần cao Đệ),sinh năm Bính Dần 1866,tại làng Tứ Phú, một làng trong mấy chục ngôi làng tại vùng Gò Nổi, huyện Điện Bàn,tỉnh Quảng Nam.ông được người đương thời nhận định là người có học vấn uyên thâm,văn chương lỗi lạc của xứ đất Trung Kỳ.Ông tham gia phong trào Cần Vương của cụ Nguyễn duy Hiệu khá sớm.Sau khi phong trào bị tan vỡ.Năm 1892,ông vào Bình Định dạy học,kiêm nghề địa lý bói toán,cốt dùng triết lý về dịch lý “trung thiên dịch” để lồng nhiều ẩn ý vào dùng tuyên truyền.
Năm 1887,sau thất bại của Nghĩa Hội Quảng Nam với kết thúc ban đầu bi tráng của hai lãnh tụ Nguyễn duy Hiệu và Phan bá Phiến,ông tìm cách ẩn mình nên phải vào tu ở chùa Cổ Am (làng An Định,xã Đại Đồng,Huyện Đại Lộc) với ý định lẩn tránh sự dòm ngó của bọn mật thám Pháp + Việt,ông mang pháp danh là Như Ý, hiệu là Hồng Việt,Bạch Sĩ. Tại ngôi chùa nầy ông gặp được một vị thầy chùa yêu nước là Thừa Tô tức Võ Thạch cũng là người đồng hương là con trai của Tổng Trưng, ở làng Đại Giang vốn là bạn học cũ tại trường Huấn lúc xưa. Năm Tân Mão (1891) chùa Cổ Am bị khám xét,thấy tình thế không êm, không thể ẩn mình trong chiếc áo tu hành, ông về làng Đại Giang mở trường dạy học. Cũng trong năm nầy,ông Thừa Tô vì yêu nhân cách của ông, nên đã vun quén em gái ông là Võ thị Quyên cùng với Trần Cao Vân trở thành một cặp vợ chồng.
Thời kỳ nầy,đất nước ta đã bị thực dân Pháp chiếm gần hết,trước tình thế nguy nan ấy, năm 1892 Trần Cao Vân đã giã từ quê hương để vào Bình Định,Phú Yên gặp Võ Trứ để cùng nhau lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp ở Phú Yên. Trần Cao Vân đã nghiên cứu và khởi xướng thuyết “Trung thiên dịch” học thuyết nầy nằm giữa thuyết Tiên Thiên dịch của Phục Hy và Hậu Thiên dịch của Văn Vương thời cổ đại.Sau khi gặp Võ Trứ hai người đã dùng thuyết Trung thiên dịch để làm vũ khí tuyên truyền vận động và lôi kéo được một số dân chúng ( kể cả đồng bào thiểu số sống trên dãy Trường Sơn phía tây các tỉnh Quảng Ngãi,Bình Định,Phú Yên…Tổ chức thành một lực lượng chống Pháp khá mạnh.Bọn Pháp gọi đội quân nầy là “Giặc Thầy Chùa” hoặc là “Giặc rựa”.
Năm 1898 cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ bùng nổ,nhưng bị đàn áp ngay nên cuộc khởi nghĩa bị thất bại.Võ Trứ và Trần Cao Vân bị bắt,Võ Trứ đã chịu tất cả trách nhiệm về mình,do vậy Trần Cao Vân chỉ bị xử giam 11 tháng (do bọn Pháp không đủ chứng cớ) Mãn hạn tù ông về Phú Yên mở trường dạy học, chủ yếu là giảng dạy với sách thuyết “Trung Thiên Dịch” Trung thiên dịch vốn dĩ là : Kinh Dịch của Phục Hy gọi là Tiên Thiên.Do Văn Vương chỉnh sửa lại gọi là Hậu Thiên,và Trần Cao Vân sửa chữa,thêm bớt một số ý kiến nên gọi là “Trung Thiên”.Thực tế,trong sách nầy ngoài những thứ gọi là thái cực,lưỡng nghi,hay là bát quái bí hiểm,ông chỉ lồng vào đó những lời kêu gọi yêu nước,qua đó đã thu hút được rất đông đồng bào từ hai tỉnh Bình Định, Phú Yên tin tưởng mà theo học.
Sau khi cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ thất bại,Trần Cao Vân lại tiếp tục bị bệnh trầm trọng,cơn sốt quật đổ người nghĩa sĩ,ông được các đệ tử thân tín chuyển lên ở động Bà Thiên. Trong lúc Trần Cao Vân bị bịnh nguy kịch,vợ ông bà Võ thị Quyên- đã cho Nguyễn Nhuận (Xã Soạn) đệ tử tâm phúc của Trần Cao Vân mang hai con nhỏ ra Bình Định nhờ Bổn Đạo tại chùa nơi nầy nuôi dưỡng- một mới lên 5 tuổi- một mới vừa thôi nôi,nhờ người thân thiết trong bổn đạo chăm nôm để bà lên núi chăm sóc chồng.Bà đã vượt qua muôn ngàn thử thách,lặn lội vào các buôn làng người dân tộc,tìm thuốc để chữa bệnh cho ông.
Giữa rừng sâu, lương thực thiếu thốn,nhất là muối ăn.,sức khỏe của Trần Cao vân bị cạn kiệt,bệnh phù thủng nổi lên,các khớp trong thân thể bị sưng đỏ,làm ông không thể đi lại được. Cuộc sống của vợ chồng Trần Cao Vân và Võ thị Quyên và cả đội bảo vệ chỉ còn trông nhờ vào củ rừng,ốc đá, rau xanh,cả rau tàu bay để đỡ lòng (theo tư liệu tỉnh Phú Yên).Người ăn các loại rau nầy da xanh,mắt trắng, người bị bịnh sốt lâu ngày môi thâm,da vàng. Trần Cao Vân chưa hết bịnh thì bà Võ thị Quyên lại bị ngã nước.Mỗi lần cơn sốt nổi lên thân thể bà run dữ dội.Trần Cao Vân chỉ còn biết lấy tấm mền rách đắp lên cho vợ và ôm cứng người bà.Thế nhưng dứt cơn run bà gượng dậy ra suối bắt cua đá và mò cá khe đem về nấu bồi dưỡng cho ông.Một bửa bà lỡ làm bể trã cua,cá còn để giành cho bửa sau,bà suýt xoa tiếc mãi,thương vợ,Trần Cao vân viết bài thơ để an ủi bà:
Vịnh trã bể: Hầm đúc rừ xưa sẵn núi Đồng / Ăn rồi trách trã bể vừa xong / Kho lâu rịn nước bầu Nhan tử / Nấu chín còn manh mẽ Thạch Sùng / Nướng thịt toan nhen lò Triệu tướng / Điều canh muốn ném đỉnh Lai công / Thôi thôi đổ đất phương chi tiếc / Dành để bếp trời hiếm chảo bung./.
Sau khi bệnh tình được thuyên giảm,Trần Cao Vân vẫn tiếp tục dạy học đồng thời vẫn dùng thuyết “Trung thiên dịch” để phổ biến cho đám học trò,cốt là gây tinh thần yêu nước trong họ.
Với cách dạy học khéo léo để tuyên truyền như vậy, tại Phú Yên, Bố chính Bùi xuân Nguyên,dưới sự chỉ đạo của người Pháp,lo sợ ông sẽ vận động nhân dân làm một cuộc khởi nghĩa lần nữa,nên đã bắt ông với tội danh là phổ biến “Yêu Thư,Yêu Ngôn” xúi dục dân làm loạn,Lúc đầu chúng dự định tử hình ông,nhưng không đủ chứng cớ kết tội,nên án phạt chỉ còn 3 năm. Năm 1908,phong trào chống thuế nổ ra tại Quảng Nam,Quảng Ngãi,ông bị chúng bắt lại và kết án khổ sai,đày ra Côn Đảo 6 năm mới được thả về.Sau khi được tự do ít lâu.Trần cao Vân đã liên hệ,tham gia vào phong trào yêu nước của Việt Nam Quan Phục Hội do cụ Phan bội Châu lãnh đạo. Trần Cao Vân và Thái Phiên được giao nhiệm vụ bí mật xin hội kiến với vị vua trẻ yêu nước là Duy Tân,nhằm vận động nhà vua tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp.Sau khi nghe ý kiến của hai vị.Vua Duy Tân đồng ý tham gia cuộc khởi nghĩa. Theo kế hoạch cuộc khởi nghĩa sẽ được tiến hành vào lúc 1 giờ sáng ngày 3 tháng 5 năm 1916.Nhà vua,Trần Cao Vân và Thái Phiên sẽ chỉ huy cuộc khởi nghĩa tại Huế.Nhưng đáng tiếc cuộc khởi nghĩa bị bại lộ trước giờ khởi sự.Vua Duy Tân, Thái Phiên,Trần Cao vân cùng một số đồng chí của các ông đều bị bắt. Thái Phiên và Trần Cao Vân đều nhận chịu hết trách nhiệm về phần mình. Trần cao Vân nhận là Chánh cố Vấn,Thái Phiên là Phó cố vấn,để giữ mạng cho nhà vua không phải bị án chém. Hai ông cùng với Tôn thất Đề,Nguyễn quang Siêu là hai hộ vệ thân tín của nhà vua đều bị chém đầu nơi cổng An Hòa phía tây thành phố Huế vào ngày 17 tháng 5 nắm 1916.
Tại sao gọi là Chánh cố vấn và Phó cố Vấn. Trước khi khởi nghĩa,phải có một Chính phủ lâm Thời để được hợp pháp đối với cuộc cách mạng. Do vậy mà tổ chức đã hình thành nên một chính phủ lâm Thời mà hai ông giữ chức chánh,phó cố vấn của chính phủ nầy. Phan thành Tài là Thống lãnh quân đội toàn quyền,giữ ấn Kinh lược Nam Ngãi. Lê Đình Dương làm Bộ Trưởng Ngoại Giao giữ ấn Tổng Trấn Nam ngãi. Thái Phiên là phó cố vấn giữ ấn Tổng trấn kinh thành Huế.Đó là một số chức vụ được giao để hình thành nên một chính phủ lâm thời , hợp thức hóa cho cuộc khởi nghĩa.
Trần Cao Vân là một trong những chiến sĩ yêu nước tiêu biểu của những nhà yêu nước vào đầu những năm của thế kỷ XX tại Quảng Nam.Cuộc đời của ông là một chuỗi dài gian nan trong việc vào tù ra khám vì những mưu đồ quyết đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.
Trước khi sắp bị hành hình,ông làm bài thơ để bày tỏ khí tiếc như dưới dây:
Đứa nào muốn chết,chết như chơi.
Chết vị non sông,chết vị trời
Chết thảo,bao nài xương thịt nát
Chết ngay,há ngại cổ đầu rơi
Chết trung,tiếng để ngoài muôn dặm
Chết nghĩa,lưu danh đến trọn đời
Chết được như vầy là hả lắm
Ta không sợ chết, hỡi ai ơi!
Danh lưu cho hậu thế: Tên ông được đặt cho nhiều đường phố tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Ngay trên đất Quảng Nam, Quảng Tín,và thành phố Đà Nẵng, tên ông đã được đặt cho một con đường tại trung tâm thị xã Tam Kỳ (Quảng Tín),và trên con đường nầy cũng lại có một ngôi trường Mang tên ông “đó là Trường Trung Học Trần Cao Vân Tam Kỳ”.Đường Trần Cao vân, bắt đầu từ ngã ba Nam Ngãi tức ngã ba Phan Châu Trinh -Trần Cao Vân. Trường Trần Cao Vân luôn được xếp vào loại trường dạy giỏi, học giỏi của Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ,nhưng vẫn được đánh giá và xếp hạng thứ 3 sau hai trường trong tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng cũ,đó là Phan Châu Trinh Đà nẵng,Trần quý Cáp Hội An,và tiếp theo mới đến Trần Cao vân Tam Kỳ.
Còn bầy giờ trong nước,tên tuổi ông ra sao! chúng tôi là những người bị thua cuộc,phải xa quê mẹ Việt Nam khá lâu rồi nên không được rõ cho mấy.
_____________________________
CHÍ SĨ LÊ ĐÌNH DƯƠNG.
Lê Đình Dương (1894-1919) sinh năm Giáp Ngọ (1894) tại làng Đông Mỹ (Na Kham) tổng Phú Khương Thượng (Gò Nổi,Phù Kỳ) huyện Diên Phước (Điện Bàn),Ông tốt nghiệp Á khoa khóa đầu tiên trường Cao Đẳng Y Khoa Hà Nội năm 1915,sau khi tốt nghiệp Bác sĩ,ông về làm việc tại bệnh viện Hội An.Với nhiệt tình yêu nước,ông tham gia Việt Nam Quan phục Hội đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.Trong cuộc họp lần thứ II tại Huế vào tháng 3 năm 1916,ông được dự kiến bầu làm Tổng Trấn Quảng Nam,khi cuộc khởi nghĩa thành công.Như vậy là ông đã tham gia trong cuộc khởi nghĩa cùng vua Duy Tân, Trần Cao Vân và Thái Phiên.Ông Phụ trách việc liên lạc với viên quan tư người Đức chỉ huy đồn Mang Cá,qua trung gian của vị cố đạo Bàu Gốc.Đại cuộc bị thất bại.Ông bị quân Pháp bắt đưa vào Khánh Hòa rồi bị đày lên Buôn mê Thuộc.Không chịu nỗi với cách đối xử tàn tệ của bọn thực dân Pháp cũng như bọn quan lại nhà nước Nam Triều vào lúc nầy.Ông dùng độc dược để tự vận năm 1916, ông chỉ hướng dương được 26 tuổi, để lại một người vợ trẻ.Thi hài ông được mai tán ngay trong khuôn viên Bệnh xá Buôn Mê Thuộc và 2 năm sau gia đình cải táng,đem hài cốt ông về mai táng tại quê nhà tại xứ Phần Nhứt, làng Đông Mỹ (Na Kham) Điện Bàn,Quảng Nam.
Năm 1945,sau cuộc đảo chánh Nhật,chính phủ Trần Trọng Kim,Hội Đồng Nhân Dân thị xã Huế,quyết định đổi tên viện Nhãn Khoa thành Viện Nhãn Nhĩ Tỷ Hầu Lê Đình Dương (Viện Tai, Mắt,Mũi,Họng Lê Đình Dương). Đây là sự vinh danh ông,cũng là cách để các thế hệ trẻ tưởng nhớ một nhà cách mạng tiền bối của Việt Nam,một lòng quyết đánh Tây để mưu cầu độc lập cho dân tộc.
Lê Đình Dương là người con trai lớn của ông Lê Đỉnh, một Đại Thần dưới triều vua Tự Đức,với quan hàm Đông Các Đại Học Sĩ, Binh Bộ Thượng Thư,và là Tổng Đốc Hà An (Hà Nội).Lê Đình Dương là anh trai ông Lê đình Thám,sinh năm 1897, mất năm 1969. Ông Lê Đình Thám có hiệu là Tâm Minh,cũng là một bác sĩ,và là một cư sĩ Phật Giáo,nhà hoạt động hòa bình,và là người sáng lập Gia Đình Phật Tử Việt Nam.Từ nhỏ ông đã tỏ ra là người có năng khiếu văn chương thi phú.Ông tốt nghiệp thủ khoa y sĩ Đông Dương tại Hà Nội năm 1916,và sau đó ông đậu Bác sĩ Y khoa năm 1930,tại y khoa Đại Học Đường Hà nội.Trước đó năm 1928 ông giữ chức Y sĩ trưởng viện bào chế và vi trùng học Louis Pasteur,ông phát minh ra Sérum Normet (dịch chuyền) cùng một số dược liệu khác ,được y giới Pháp-Việt thời đó rất trân trọng.
Lê Đình Dương và Lê Đình Thám là hai anh em ruột ,cũng là hai y bác sĩ giỏi, là hai người con trai của ông Lê Đỉnh cũng là một nhân tài giàu lòng yêu nước,có tư tưởng tiến bộ,ý thức sâu sắc về việc canh tân đất nước,nhờ vậy ông đã dạy các con ông theo hướng mới,các con ông nhờ đó mà thành đạt và mạnh dạng tham gia vào các phong trào yêu nước như trên.
Lê Đình Dương,trước năm 1975,tại thành phố Đà Nẵng, con đường mang tên ông “đường Lê Đình Dương” là con đường nối từ đường Hoàng Diệu,băng ngang qua Phan châu Trinh mà chạy thẳng đến Viện cổ tháp Chàm, sát đường Bạch Đằng,trên bờ sông Hàn.
_____________________________
CHÍ SĨ PHAN THÀNH TÀI.
Một câu thơ của một thi sĩ vô danh tỏ ý thán phục Phan Thành Tài,là người theo tân học,nhưng không cầu danh lợi, mà chỉ lo việc nước cho đến phải lên đoạn đầu đài.
“Khẩn bả tây văn khứ tác nô,
Bất thành cam từ đoạn đầu lô”
Phan thành Tài sinh năm Canh Ngọ (1869) tại làng Bảo An,phủ Điện Bàn,tỉnh Quảng nam. Nguyên học sinh tại trường đốc học Quảng Nam.Ông là rể ông Bùi Thân (Quản Nghi) làng Vĩnh Trinh. Phan thành Tài là con thuộc một gia đình đại phú gia,nhưng ông chì có chí làm cách mạng,không muốn ra Làm quan,ông từng tham gia phong trào Duy Tân, giúp tiền bạc cho du sinh sang Nhật Bản.
Năm 1915,ông cùng Trần Cao Vân,Thái Phiên…lãnh đạo cuộc khởi nghĩa,tôn vua Duy Tân làm minh chủ để chống Pháp.nhà vua phong ông làm kinh lược Nam,Ngãi.
Ông phụ trách tổ chức quân đội bí mật tại Quảng Nam.Theo lệnh của ông hễ ai mộ được 100 nghĩa dũng thì được làm suất đội coi trăm người ấy.
Lúc ấy người ta âm thầm ủng hộ rất đông,ông tự xuất tiền bạc để may quân trang,cấp mỗi người một cái áo cụt đen và một cái dao,hai cái mác. Ông Tú Trương Kính làng Phú Bông làm thủ quỷ và cũng có góp tiền chi phí.
Theo như chương trình khởi nghĩa đã định,đồng thời sẽ cử sự vào trưa ngày mồng 2 tháng 4 năm Bính Thìn ( tức 3/5/1916). Trước đó một ngày,thì các lính ứng mộ đến tại nhà ông Tú Kính lãnh mỗi người một cái áo cụt đen và 10 đồng,rồi bí mật đi rải rác đến khuya rồi nhất tề tụ tập chung quanh tỉnh thành Quảng nam,chờ hiệu lệnh phát hỏa của y sĩ Lê đình Dương tại Hội An,tức thì công hãm tỉnh thành.
Theo lệnh khi vào được tỉnh thành,bắt giết hết quan lại trong ấy,chỉ trừ người nào nói: “ Xuân đây” mật khẩu của đảng thì khỏi giết.
Công việc sắp đặt xong, thang đã bắt sẵn ở thành chờ thấy lửa cháy ở Hội An là leo lên vào thành, không ngờ cơ mưu bị bại lộ vì có tên Quản Trí ở Hội An bội phản,đồng thời ở Quảng Ngãi có tên Võ Huệ tiết lậu,nên Pháp biết đề phòng trước.
Y sĩ Lê Đình Dương bị bắt trong đêm ấy, nên không ai phát hiệu cử hỏa.Đến gần sáng biết sự thất bại,quân của ông Phan Thành Tài tức thời giải tán,mạnh ai nấy chạy,hoặc đào đất chôn dao mác,hoặc liệng xuống sông.
Còn một bó sắc bằng của Nghĩa Hội,có ấn vua đóng,nhưng chưa điền tên ai,thì tú Kiên đem về gởi lại nhà bà con bên vợ là Trần Lực. Trần Lực lại sợ,đem bó ấy giao cho Ấm Thạc,con ông Trần Dĩnh làng An Quán cất.
Bất đồ Ấm Thạc lựa những tên con nhà giàu trong tỉnh điền vào trong bằng,rồi đem đến nhà dọa lấy tiền,mới cho chuộc cái bằng ấy.Đó là “thế thái nhân tình, một thói đời”.
Khi ấy ông Phan Thành Tài trốn về nhà,chạy lên núi,ý chừng muốn tìm đường chạy sang Lào,nhưng Pháp đã cho bắt ông chú ruột là Phan Tiết, bắt ông Tiết viết thư kêu ông Tài về đầu thú. Ông Tiết chưa kịp viết thư,thì quân Pháp đã bắt được ông Phan thành Tài rồi, lúc đó ông đang đau yếu,nhưng ông nhận hết công việc mà ông đã làm,không khai cho ai cả.Quan tỉnh Quảng Nam kết án tử hình ông,rồi đem xử tử ông tại Vĩnh Điện.
Trước cái chết của ông và ông Thái Phiên,một thi sĩ vô danh đã cảm khái mà thốt ra câu:
“Quốc trung tân học,nhân như tức,thanh dạ môn tâm quí tử vô?"
Ông Mính Viên (Huỳnh thúc Kháng) đã dịch:
“ Kìa phường học mới đen như kiến,
Đêm hỏi lòng chăng có hổ ngươi!”
Là một chí sĩ cách mạnh,ông Phan thành Tài tuy đã chết nhưng tiếng thơm hãy luôn luôn còn với đồng bào của ông trên đất nước Việt.Rất đúng với câu thơ của nhà cách mạng Đặng văn Bá .’1’
“ Chết xác,tinh thần đâu có chết,
Chết mà vì nước,chết vì dân”
(‘1’ Đặng văn Bá hiệu là Nghiêm Khê,người Hà Tỉnh làm cách mạng bị đày ra Côn đảo).
__________________________
CHÍ SĨ CHÂU THƯỢNG VĂN.
Châu Thượng Văn,ông sinh tại làng Minh Hương,Hội An,văn học uyên bác,ít giao du,ít nói,cả ngày chỉ xem sách. Ông hoạt động cách mạng,tham gia phong trào Đông Du,ông phụ trách liên lạc với Sào Nam ở Nhựt và đồng bào trong nước.Ông lập hội “Hiệp Thương” ở Hội An để kiếm tiền giúp người du học.
Khi người Pháp khám phá ra,soát nhà ông, lấy được nhiều thư từ và sách vở từ nước ngoài gởi về.Lúc bị bắt giải về tòa sứ Hội An, gặp tên Quản Thái (tên quản lính khố xanh) một tay sai đắc lực của người Pháp mà thường hiếp đáp đồng bào. Ông kêu tên Thái lại và nói: Thái,mày là một con chó săn,mày có biết không? Đáng lẽ tao giết mầy đã lâu,nhưng tao đợi xem hành vi của mày có cải thiện chút nào không? Nay tao gặp mầy đây, tao phải giết mầy,nói xong ông lấy một cái chàng ( một dụng cụ của thợ mộc) liệng vào Quản Thái,làm cho tên nầy bị đứt một lỗ tai. Từ đó ông tuyệt thực luôn hai mươi ngày. Đó là người tuyệt thực cho đến chết,ông hơn Thánh Cam Địa một bậc,đó là Châu thơ Đồng tức Châu thượng Văn, mà ông Mính Viên Huỳnh thúc Kháng đã nói trong quyển “THI TÙ TÙNG THOẠI”.
Khi xét hỏi ông về tổ chức cách mạng,ông nhận tất cả.Người nước Nam sang Nhật Bản và hạt dân nổi lên chống thuế,ông nói là chính tôi chủ mưu,không ai dự vào cả.
Lúc giải về Huế, thì ông đã yếu quá rồi,có người bạn thân khuyên ông dùng một chút nước đường phèn, ông có hớp một hớp mà thôi,ông nhịn ăn 24 ngày rồi chết tại lao Thừa Phủ,trước khi đày ra Lao Bảo
Trong quyển vụ kháng thuế Trung Kỳ năm 1908 của ông Mính Viên có chép như sau: “ Châu Thượng Văn ,hiệu Thơ Đồng,bạn thân với các cụ Tiểu La,Sào Nam. Trong ngoài thường có thơ từ qua lại,mà chính nhà Châu là cơ quan,Tiểu La Nguyễn Thành thường ở đó.”
Bị bắt Châu mắng chửi chính sách bóc lột của Pháp và nhận tất cả việc tổ chức cách mạng đến cuộc chống sưu,đều đều một tay ông đề xướng.
Vào ngục rồi và giải về tỉnh kết án,ông bị án khổ sai chung thân đày ra Lao Bảo,nhưng đi tới Huế là ông tắt thở.
Ông tuyệt thực và bảo người bạn cùng giam: “ Tôi làm phần dễ, còn các bạn sau nầy gắng lấy” người bạn ấy có câu khóc ông:
Nhân đại úy tử, quân độc bất tham sanh,bát xích tu mi,tu giữ hà sơn dinh nhứt bảo.
Thùy vi kỳ nạn,quân khước vi kỳ dị,nhứt phần trách nhiệm,các tương tâm huyết các đồng bào.
DỊCH:
Người đều sợ chết,người chẳng tham cái sống nhơ, tám thước mày râu, thẹn với non sông lo bữa gạo.
Ai đương việc khó, người đành làm việc dễ, một phần gánh vác,hãy đem tâm huyết tỏ đồng bào .
Lại câu đối điếu của Trần Cao Vân:
Ngã bất nan xả sinh,nại hà tai! Trung thiên dịch sơ khai,Dũ Lý thất niên tiền vị diễn.
Quân nải năng tựu nghĩa, nan đắc giả vạn thế kinh độc thủ, Thú Dương thiên tải hận do văn!
Dịch: Ta có tiếc cái sống đâu? Khổ vì bệnh dịch Trung Thiên mở đầu, Dũ Lý bảy năm chưa diễn trọn (1).
Người làm trót điều nghĩa ấy,khó là kinh muôn đời giữ vẹn.Thú Dương ngàn thuở vẫn nghe thơm. (2)
-
Dũ Lý là nơi vua Văn Vương bị vua Trụ cầm tù,mà cũng là nơi vua Văn Vương làm ra kinh dịch Hậu Thiên.
-
Thú Dương là núi mà Bá Di Thúc Tề lên đó ăn rau,không chịu theo nhà Châu.
-
(Sau ông Vân lên đoạn đầu đài trong cuộc Duy Tân khởi nghĩa rõ không phụ với câu đối trên). Lúc ông Châu mất chừng 50 tuổi,chôn ở Huế,sau ba năm người con trưởng của ông là Châu Khải Vị xin phép ra hốt cốt đem về chôn tại địa phận Thanh Hà.
Ca Dao:
Di,Tề lên núi ăn rau,
Thú Dương để tiếng về sau muôn đời!
__________________________
NHÀ CÁCH MẠNG TIỂU - LA - NGUYỄN THÀNH
Nhà cách mạng Tiểu La - Nguyễn Thành (1863- 1911) còn có tên là Nguyễn Hàm,tự là Triết Phu,hiệu là Nam Thanh,sau đổi là Tiểu La Nguyễn Thành quê quán làng Thạnh Mỹ, nên được người đời gọi quen là Tiểu La Nguyễn Thành,hay Tiểu La Thành,hoặc là Nguyễn Tiểu La.Ngoài ra ông còn được gọi là Ấm Hàm.( vì ông là con nhà quan nên được mang tước Ấm) Ông có hiệu là Tiểu La (tức là người lo vòng trong) và cụ Phan Bội Châu là Đại La ( người lo vòng ngoài).Ông là một chí sĩ yêu nước cận đại trong lịch sử nước nhà.Ông Tiểu La Nguyễn Thành là người thôn Thạnh Mỹ,phủ Thăng Bình ngày trước, nay là thôn Quý Thạnh xã Bình Quý,huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng Nam (Quảng Tín cũ).Cụ Nguyễn Hàm được sinh ra trong một gia đình nho giáo.
Theo Phan bội Châu,cụ Tiểu La là người thông minh có lập trường và ý chí yêu nước ngay từ lúc nhỏ,vì vậy khi trưởng thành ông đã trở thành một kiện tướng trong phong trào Cần Vương chống Pháp. Thân sinh ông là ông Nguyễn Trường làm Bố chánh Sứ tỉnh Bình Định,hàm Tham Tri dưới thời Tự Đức,sau đó ông cũng mất tại Bình Định.Nguyễn Hàm khi đó hãy còn là một thiếu niên,đã đứng ra thủ trí việc đưa thi hài thân sinh từ Bình Định về chôn cất tại quê nhà,đã thể hiện được tính tháo vát và tự chủ.
Năm 1885 ông ra Huế thi Hương,nhưng do vụ binh biến kinh thành Huế, kỳ thi không tổ chức được,ông trở lại quê nhà,từ bỏ sách đèn,hưởng ứng phong trào Nghĩa Hội. Với tư cách là ấm sinh, ông chiêu mộ một cánh quân,hiệp cùng Nghĩa Hội đánh thành Quảng Nam,lúc nầy ông mới 22 tuổi.
Sau khi Pháp chiếm lại thành tỉnh Quảng Nam,bọn chúng đưa quân đi càn quét vào các xã, huyện.Ông đã cho quân mai phục,đánh thắng nhiều trận,uy tín ông được nâng cao. Phó Bảng Nguyễn duy Hiệu lúc nầy nhận chức chủ soái Nghĩa Hội,thay cho Trần Văn Dư giao cho ông chức Tán Tương Quân vụ kiêm Thương Biện tỉnh vụ và Khi Án Nại hy sinh tại mặt trận Phú Thượng,ông được chỉ định thay thế. Nghĩa binh dưới quyền của ông đã mở nhiều trận đột kích vào Đà Nẵng,được thắng trận nhiều lần.
Năm 1887,khi phong trào Nghĩa Hội bị thất bại, Tiểu La Nguyễn Thành chỉ huy cánh quân của ông vẫn tiếp tục chiến đấu,ông dùng dãy núi Gai Cao Ngạn, Eo Gió, Phước Sơn,Phước Cẩm,Phước Hà thuộc huyện Tiên Phước làm căn cứ,chọn nơi đây là các điểm dễ hiệp lực cùng các cánh quân của ông Trần Văn Dư còn lại cũng đang trú quân chiến đấu tại vùng Sơn,Cẩm,Hà Tiên Phước nầy.
Nhưng rồi tên bù nhìn Nguyễn Thân người Quảng Ngãi là viên quan dưới triều nhà Nguyễn,thân Pháp,quyết tình tìm cách bắt sống ông,và cuối cùng ông cũng bị chúng vây bắt tại vùng đồi cheo leo Cầu Cháy Bình Sơn,Quảng Ngãi.Vào lúc đầu chúng tìm cách mua chuộc ông nhưng không thành và chúng thả ông về,ông lập nông trang Nam Thịnh.Ngày 11/3/ 1908 nhân vụ xin xâu,giảm thuế tại Quảng Nam,Quảng Ngãi ,bọn chúng lùng sục và bắt ông tại quê nhà,sau đó bọn chúng kết án ông 9 năm khổ sai đày biệt xứ,chúng đày ông ra Côn Đảo. Trước đó tại nông trang Nam Thịnh ông vẫn tìm mọi cách bí mật hoạt động.
Năm 1903 Phan Bội Châu đã đến Nông Trang để tìm gặp Nguyễn Thành.Năm 1904 Hội nghị thành lập Duy Tân Hội đã diễn ra tại đây.Ông là một trong những người có công lớn trong việc sáng lập và tổ chức Duy Tân Hội và phong trào Đông Du. Sau khi Phan Bội Châu sang Nhật, Tiểu La bí mật hoạt động trong nước,ông vận động lo việc kinh phí để đưa thanh niên ra nước ngoài du học,để chuẩn bị cho lực lượng cứu nước sau nầy.Giúp ông trong công việc chuyển tiền bạc ra nước ngoài và đưa các thanh niên trong nước ra nước ngoài du học đó là cụ Tăng Bạc Hổ.
Năm 1908,cùng lúc phong trào Duy Tân đang phát triển mạnh, thì tại Trung Kỳ Quảng Nam,Quảng Ngãi lại nổ ra cuộc kháng thuế..Lúc nầy thì bọn thực dân Pháp thẳng tay đàn áp,chúng truy bắt các sĩ phu yêu nước,trong đó ông Nguyễn Thành cũng không thoát được,và rồi ông bị chúng kết án 9 năm khổ sai đày biệt xứ,ông bị đày ra đảo Côn Lôn. Tại đây,ông qua đời vào ngày 11 tháng 11 năm 1911.
Hài cốt của cụ Tiểu La đã được đưa về quê vào năm 1958 do ông Nguyễn Hoàng Huân,người cháu trai hệ thứ đảm nhận.Hiện Bài vị nhà cách mạng Nguyễn Thành được thờ tại nhà thờ riêng của gia đình tại thôn Quí Thạnh (Thạnh Mỹ),xã Bình Quý,huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng Nam.
Sinh thời Nguyễn Tiểu La có làm thơ để tỏ chí. Trích giới thiệu bài thơ cuối cùng,khi ông bị đối phương hành hạ đến thổ huyết sắp mất.
Bài thơ tuyệt mệnh
| Phiên Âm Hán - Việt | Huỳnh Thúc Kháng dịch thơ |
|---|---|
| Nhất sự vô thành mấn dĩ ban | Một việc chưa thành tóc nhuộm màu |
| Thử sinh hà diện kiến giang sơn | Non sông ngoảnh lại thẹn mày râu |
| Bổ thiên vô lực đàm thiên dị | Vá trời thiếu sức bàn nghe dễ |
| Tế thế phi tài tỵ thế nan | Cứu thế không tài tránh ở đâu? |
| Thời cuộc bất kinh vân biến huyễn | Cuộc biến ngại gì mây đổi sắc |
| Nhân tình chỉ khủng thủy ba lan | Tình người e nổi sóng thêm sầu |
| Vô cùng thiên địa khai song nhãn | Mở toang hai mắt xem trời đất. |
| Tái thập niên lai thí nhất quan | Ngắm thử mười năm vẫn thế ru. |
CÂU ĐỐI ĐIẾU:
Nghe tin Nguyễn Tiểu La mất,một đồng chí cũng là bạn tù của ông là Nguyễn đình Kiên ( ?- 1942), người Hương Sơn (Hà Tỉnh) có làm câu đối điếu:
“Quân hầu kỳ Hoành Sơn nam chi hào dư,tiền Cần Vương sự,hậu ứng nghĩa trào,trấp tải kinh doanh, điệp điệp cương trường lưu phiến mặc.
Ngô bối vị Hồng Lạc tổ giả tử nhĩ,hoành hữu bát hoang,tung hữu thiên cổ,đương niên tâm sự,ngao ngao dư luận phó gian vân”.
Huỳnh thúc Kháng dịch:
“Quân hầu rõ bực hào phía Nam núi Hoành Sơn chăng? Cần Vương lớp trước,Tân đảng lớp sau,nửa kiếp kinh doanh,khảng khái tâm thành ghi nét mực.
Chúng ta chết vì để báo đền cho tổ Hồng Lạc đấy! Tám cõi bề ngang,nghìn xưa bề dọc,một bầu tâm sự,xôn xao miệng thế phó chòm mây”.
Tiểu la Nguyễn Thành, người khai sáng Duy Tân Hội:
Như mọi người trong chúng ta đều biết,Quảng Nam đầu thế kỷ XX,miền đất địa linh nhân kiệt nầy,đã khai sinh ra hai phong trào cách mạng cứu nước rất quan trọng,ghi đậm nét trong lịch sử dân tộc là Duy Tân hội và phong trào Duy Tân.
Duy tân hội thường gọi là “Ám Xã” hoạt động bí mật theo đường lối quân chủ,chủ trương bài Pháp giành độc lập dân tộc”.
Còn phong trào Duy Tân thường gọi là “Minh xã” hoạt động công khai, theo đường lối dân chủ,chủ trương “ỷ Pháp tự cường” do Phan Châu Trinh khởi xướng cùng với Huỳnh thúc Kháng,Trần quý Cáp lãnh đạo.
Mỗi khi nói đến Duy Tân Hội và phong trào Đông Du lâu nay sử sách lại luôn viết và đề cao Phan Bội Châu,họ cho rằng Phan bội Châu mới là người chủ xướng và lãnh đạo phong trào nầy.Còn Tiểu la Nguyễn Thành chỉ là một sáng lập viên.Nhưng khi chúng ta đọc lại những bài tường thuật từ Phan bội Châu,ông đã viết lại với tất cả tâm can của mình về ông Nguyễn Thành thì chúng ta lại có cái nhìn khác cần phải đặt lại vấn đề,phải tìm hiểu một cách chính xác hơn, xác định lại vai trò người chủ xướng phong trào, để không phải nhầm lẫn hai danh hiệu Tiểu La và Đại La.Hai danh hiệu nầy, hai ông chỉ dùng để phân công công việc mà mỗi người cần đảm trách mà thôi.
Sự nhầm lẫn do sử sách đã chỉ nói đến Phan Bội Châu là người thành lập Duy Tân Hội, đồng thời cũng là người lãnh đạo phong trào Đông Du,mà không chú ý đến vai trò quan trọng của nhân vật Tiểu La Nguyễn Thành là một điều thiếu sót rất lớn. Tất cả đều ngược lại,chính Tiểu La Nguyễn Thành mới là người khai sáng Duy Tân Hội. Vai trò tổ chức và lãnh đạo của ông đã thể hiện rõ qua những sự kiện cụ thể do chính từ Phan Bội Châu kể và ghi lại trong Ngục Trung Thư và Tự Phán của ông vô cùng quý giá ,giúp chúng ta có cơ sở đánh giá lại đúng vai trò chủ chốt của tổ chúc nầy.
Tiểu La Nguyễn Thành gặp Phan bội Châu,đưa ra những kế sách để hành động.
Lúc bấy giờ ông Tiểu La Nguyễn Thành đang ẩn dật nơi nông trang để tránh tai mắt của mật thám Pháp,cũng như bọn tay sai bù nhìn của chính phủ Nam Triều,do vậy vào năm 1903 (Quý Mão) Phan Bội Châu từ trường Quốc Tử Giám kinh đô Huế vào Quảng Nam đến nông trang Nam Thịnh để gặp Tiểu La Nguyễn Thành,dưới sự hướng dẫn của ông Nguyễn Quýnh.
Khi Phan bội Châu đã xốp mặt với Tiểu La Nguyễn Thành,thế như là lửa lại gặp gió.Tiểu La lâu nay mới chỉ nghe nói,chưa biết mặt,khi đã gặp được Phan Bội Châu trông qua tướng mạo,Tiểu La đã rất ưng ý,vì thế ngay từ đầu mới gặp Phan bội Châu,Tiểu La Nguyễn Thành đã rất vui thích,coi như là bạn đã quen lâu ngày,hai người đã cùng nhau kể chuyện tâm phúc suốt đêm.
Trong cuộc hội kiến nầy,một số nhân tố đã được Nguyễn Thành chuẩn bị sẵn sàng,ông đưa ra ba kế sách hành động mà ông đã dày công suy ngẫm bấy lâu nay, khiến cho Phan Bội Châu vô cùng khâm phục. Trong Ngục Trung Thư,Phan bội Châu đã kể lại:
“Tôi đem chí muốn ra phân trần.Cụ vỗ tay nói: “Hay dữ! Ai muốn mưu toan đại sự,trước hết phải cần ba điều nầy: một là thu phục lòng người,hai là góp số tiền lớn,ba là sắp đặt mua số quân khí cho đủ.Hễ lòng người đã chịu tin phục thì số tiền lớn có thể góp được.Có tiền thì vấn đề quân giới không khó giải quyết đâu” (4,tr 279).
Tiểu la chủ trương tôn phù nhà Nguyễn để thu phục nhân tâm:
Nguyễn Thành cho rằng: Phải hiểu dân trí và tập quán của dân nước nhà,không thể nào bắt chước làm theo châu Âu cho được. Bọn ta muốn có cách kêu gọi nhân tâm cho dễ,nếu không mượn tiếng phò vua giúp chúa,thì những nhà sang,họ lớn kia,ai chịu phụ họa cho mình. Vậy thì ta dầu có bụng cứu nước mặc lòng,chẳng qua chỉ chết thân mình cho tròn được tiếng vậy thôi,ngoài ra không ăn thua lợi ích gì cho việc lớn.
“Vua Hàm Nghi trốn tránh ở chốn nào,đã lâu không nghe tin tức ra sao. Hiện những người nước ta bây giờ,ngoài tôn quân thảo tặc ra còn chưa có tư tưởng gì lạ.Sở Hoài Vương,Lê Trang Tôn.chẳng qua Là một thủ đoạn.Vả lại sắp tính việc lớn,tất phải trù có món tiền thật to. Kim tiền nước ta là ở Nam Kỳ,mà khai thác ra Nam Kỳ là công đức của triều Nguyễn làm. Vua Gia Long lấy lại nước là nhờ tài lực ở trong ấy.Bây giờ nếu ta tìm được chánh giòng Gia Long, đặt làm minh chủ,hiệu triệu Nam Kỳ tất ảnh hưởng mau lắm” (4 tr 36).
Đối với Tiểu La Nguyễn Thành trong hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ,chủ nghĩa tôn quân vẫn còn đắc dụng ,nó là nước cờ để thu phục nhân tâm,tập hợp quần chúng, vận động tài chánh,điều vô cùng quan trọng mà Phan Bội Châu chưa hề nghĩ đến.
Đặng (Đặng tử KÍnh), Lê ( Lê Võ) ban đầu thật chúng tôi chưa hề suy tính tới việc tôn người dòng dõi nhà vua.Tới đây nghe Nguyễn Quân,chúng tôi cho là phải lẽ lắm* (4 tr 279).
Phan Bội Châu tán đồng chủ trương tôn quân của Tiểu La Nguyễn Thành vì nó là “một biện Pháp”hữu hiệu đối với hoạt động cách mạng cứu nước lúc bấy giờ,nhất là ở Nam Kỳ,dân chúng vẫn còn nhớ triều đại cũ,nên muốn thu hút sự hợp tác của họ,cần phải xướng lên việc “phù trợ quân vương” để kêu gọi lòng người.
Về vấn đề nầy nhà sử học Nhật Bản ShiraiShi Massaya cũng nhận định: “Như vậy tuy Phan và các đồng chí của ông ủng hộ lập người trong hoàng tộc làm minh chủ,nhưng điều đó không có nghĩa Là họ thừa nhận ông vua bù nhìn hiện thực,mà họ có ý đồ phủ nhận ông ta,đặt vị vua “chính thống” đối lập với ông ta.Hơn nữa mục đích của họ không phải là để khư khư bám lấy hệ tư tưởng trung quân,mà suy cho cùng,chỉ là để đó làm một “phương tiện” tập hợp người và tiền của mà thôi” (5 tt.tr155-156).
Bấy nhiêu lời tự thuật của Phan bội Châu ghi lại trong các sách Ngục Trung Thư và Tự Thuật của Sào Nam Phan Bội Châu,đã đủ chứng minh cho chúng ta hiểu biết về người khởi xướng phong trào Duy Tân và Duy Tân Hội. Đúng là do cụ Tiểu La Nguyễn Thành khởi xướng và đưa ra nhiều kế sách để thực hiện,mà cụ Phan Bội Châu ngược lại là người tán thành đường lối theo chủ trương của cụ Tiểu La Nguyễn Thành,rồi từ đó Phan bội Châu là người bắt tay vào thực hiện những kế sách do cụ Tiểu La Nguyễn Thành đề ra,bên cạnh đó cụ luôn thường xuyên báo cáo những kết quả cụ thể từ việc làm của mình cho cụ Tiểu La biết để ông ta điều chỉnh kế sách cho thật sít sao phù hợp với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ
Những công việc mà cụ Phan nhận trách nhiệm từ cụ Tiểu La như sau đây:
Trước tiên Phan Bội Châu với điều kiện thuận tiện đang cư ngụ tại kinh thành Huế,lo việc tìm người thuộc dòng chính trong dòng tộc nhà vua để việc tôn quân mới đem lại hiệu quả .Và Cụ Phan đã tìm được Kỳ Ngoại Hầu Cường Để,là đích tự tôn của Đông Cung Anh Duệ Hoàng Thái Tử.
Lấy cớ xem tướng số,Phan bội Châu vào nhà Kỳ ngoại Hầu,dùng chuyện tướng mệnh dò la,khi biết được Kỳ Ngoại Hầu,có chí lớn,ông mới đem những lời của Tiểu La giải bày với Kỳ Ngoại Hầu,Kỳ Ngoại Hầu đồng thuận,hai người cùng ăn thề đính ước với nhau,nguyện xả thân vì đất nước. Thế rồi Cụ Phan đã gấp rút vào Quảng Nam báo cho cụ Tiểu La biết kết quả nầy.Rồi sau đó cụ Tiểu La đến gặp Kỳ Ngoại Hầu.Công việc cũng khá ly kỳ.
Tháng 10 năm Quý Mão (1903) cụ Tiểu La phải cải trang thành một lái buôn bí mật đến kinh thành Huế, gặp mặt Kỳ Ngoại Hầu Cường Để tại tư gia quan Bố Chánh Phạm quý Thích.Ông trình bày với Cường Để kế sách chống Pháp đồng thời ngỏ ý mời Cường Để tham gia với vai trò đứng đầu tổ chức,để đủ danh nghĩa hiệu triệu người trong nước,huy động kinh tài,đồng thời có chính danh để liên kết với nước ngoài.Kỳ Ngoại Hầu rất phấn khởi, ông hứa sẽ vào Quảng Nam tham dự các cuộc họp vào bất cứ lúc nào khi nhận được tin của ông và Phan bội Châu.
Tiểu La Nguyễn Thành sắp đặt cho Phan Bội Châu đi Nam Kỳ:
Tháng 12 năm Quý Mão (1903) cụ Tiểu La thúc dục Phan bội Châu đi Nam Kỳ.Ông nói bây giờ “Anh Nam hành được rồi”đó (4 tr 38).
Ông lo liệu cho Phan Bội Châu rất chu đáo,từ việc mua sắm giấy tờ thông hành,tiền lộ phí,đến cả việc phái người nhà là Tư Doãn đi theo giúp đỡ Phan Bội Châu,do đó cuộc Nam du của Phan Bội Châu chẳng những đạt được mục đích là gặp được Trần Thị,một nhà tu hành đang ẩn cư tại Thất Sơn,Châu Đốc để bàn việc.Tìm tin tức tàn dư của đảng nghĩa quân Nam Kỳ và giới thiệu Kỳ Ngoại Hầu Cường Để với nghĩa dân Nam Kỳ,là một kết quả thật to lớn mang lại lợi ích vô cùng cho phong trào Đông Du về Sau.Phan Bội Châu lúc trở về đã vào nhà Nguyễn Thành báo cáo thật đầy đủ kết quả của chuyến Nam hành,ở lại chơi một hôm rồi mới về kinh.
Sau đó thì Tiểu La Nguyễn Thành phải lập Hội Duy Tân.
Nam Thịnh Nông Trang là nơi ở của Tiểu La Nguyễn Thành,là địa điểm tụ hội thường xuyên của tổ chức hội.Tháng 3 năm Giáp Thìn (1904) Tiểu La tiếp đón ông Trần Thị từ Châu Đốc cùng nhiều đồng chí khác từ Nam kỳ đến Nam thịnh Nông Trang,rồi Phan Bội Châu ở Huế vào họp bàn định ước ngày khai hội.
Ngày 8 tháng 4 năm Giáp Thìn (1904) tại nhà Tiểu La Nguyễn Thành tổ chức cuộc hội nghị bí mật tại Nam Thịnh Nông Trang.Cuộc họp qui tụ hơn 20 nhân vật trọng yếu,để quyết định thành lập Duy Tân hội và bầu Kỳ Ngoại Hầu Cường Để là Hội Trưởng.Sự kiện lịch sử quan trọng nầy đã được Phan Bội Châu ghi lại trong Tự Phán: “ Đến ngày kỳ ước chính là thượng tuần tháng tư,tôi vào nhà Tiểu La,có cả ông Kỳ Ngoại Hầu tới.Giữa hội chỉ là người trọng yếu hơn hai chục người…Bắt đầu khai hội từ buổi sáng qua chính trưa tan hội. Tên hội chỉ người trong hội biết,không lập sỗ sách,không biên chép tên họ,chương trình kế hoạch,chỉ miệng trao lòng nhớ mà thôi.Đặt Kỳ Ngoại Hầu làm hội chủ,hể lúc xưng hô chỉ gọi bằng ông chủ,cấm không được hở chữ “Hội” ra. Hội viên trọng yếu lúc ấy thì có những người như: Nguyễn Thành,Phan Bội Châu,Tình Hiền.Lê Võ,Đặng tử Kính, Đặng thái Thân và các người khác nữa”.
Những tiếng xưng hô nhau,chỉ gọi bằng anh em,tuyệt không đặt ra danh mục gì (4,tr 43).
Cuộc họp đã quyết định khai triển kế hoạch hoạt động,chủ yếu có ba điểm:
-
Mở rộng lực lượng của hội.Muốn vậy phải nhanh chóng kết nạp hội viên,thu được nhiều hội Phí, trù tính cho đủ các món tài liệu.
-
Sau khi phát khởi bạo động,phải lo gấp các tài liệu để tiếp tục tiến hành hoạt động.
-
Xác định phương châm ra nước ngoài cầu viện và phương thức làm việc đó.
Trong Ngục Trung Thư Phan Bội Châu đã viết rất rõ: Đối với việc tập hợp đồng chí và quyên mộ quỷ,thì có thể giải quyết được,nhưng khó nhất lúc nầy là vấn đề quân giới.
“Phải chi mình ở vào thời Đinh,Lý,Lê,Trịnh thuở xưa,thì chỉ vung tay mà kêu lên một tiếng,tức thời sóng dậy sấm vang chỉ là việc thành trong giây lát mà thôi.
Nhưng đời nay thời khác hẳn.Từ lúc đời có súng đạn phát minh ra, bao nhiêu khí giới gọi là gươm giáo đao thương đã hóa ra đồ bỏ. Cái thứ để chặt cây Làm mác kia,đời xưa người ta vác đi đánh Tần,đuổi Sở được,chứ đời nay có dùng nó làm nên trò vè gì! Phải biết vũ khí của người Pháp tinh nhuệ hơn của người mình muôn lần ngàn lần” (4,tr285-286)…
Như vậy cái lo lắng của những người cách mạng Việt Nam hiện tại về tinh thần thì có dư,nhưng về phương tiện dùng để chiến đấu một khi tổ chức một cuộc kháng chiến thật sự,thì vấn đề quân giới là một vấn đề cần phải lưu ý,mà cần được quan tâm nhất.Để giải quyết vấn đề nầy có cơ may thuận lợi.Ông Tiểu La Nguyễn Thành phải tổ chức việc xuất dương,để chuẩn bị lực lượng cho phong trào cách mạng lâu dài về nhiều mặt,nhất là đào tạo nhân tài,bên cạnh là lo vấn đề quân giới.Với những ý nghĩa được đặt ra bên trên cụ Tiểu La phải :
Tổ chức cho Phan Bội Châu xuất dương để lo liệu việc cầu viện:
Muốn cho việc xuất dương cầu viện có kết quả, cần phải hội đủ hai yếu tố.
-Hành phí- Người có tài ngoại giao và người dẫn đường. Tiểu la đã tính trước và trù bị mọi việc một cách chu đáo,từ lo kinh phí,cử người xuất dương và người dẫn đường đều phân tích thời cuộc một cách rạch ròi ,để tìm nước nào có thể giúp đỡ mình được một cách hiệu quả.
Trong tự phán Phan bội Châu đã thuật lại rất đầy đủ: “kiên lắm Tiểu La mới bàn với tôi rằng: “ Về việc kinh phí chỉ mình Tiểu La với Sơn Tẩu (tức Ô Gia Đỗ đăng Tuyển) biện được xong, ngoại giao nhân tài hiện nay thật khó,đã không người khác,tất phải anh (Phan bội Châu) thân đi, còn hướng đạo viên thì tôi tính sẵn đã lâu ngày. Tôi tưởng liệt cường bây giờ,nếu không phải nước đồng chủng,đồng văn,tất không ai chịu giúp ta. Nước Tàu đã chịu nhượng Việt Nam cho Pháp,huống gì hiện nay quốc thể suy hèn,cứu mình không xong mà cứu được ai? Duy Nhật Bản là nước tân tiến ở trong nòi giống vàng,vừa mới đánh được Nga,dã tâm đương hăng hái lắm, qua tới đó đem lợi hại bày tỏ, tất có hiệu quả,dầu họ không xuất binh mã,mà mượn tư lương,mua khí giới tất có thể dễ dàng.Vậy nên chúng ta muốn đứng khóc sân Tần,không chi bằng Nhật Bản là phải. Ông Tăng Bạc Hổ từ ngày Cần Vương thất bại,từng chạy khắp nơi từ Quảng Đông,Quảng Tây,lại có mang quốc thư đi qua Lữ Thuận thông hiếu với Nga sứ,việc đó bất thành chuyển qua Đài Loan dựa Lưu Vĩnh Phúc.Nhật lấy Đài Loan,Vĩnh Phúc thua chạy.Tăng quay sang Xiêm,mượn đường về nước,hiện nay núp giấu ở Hà Nội, tấm lòng báo quốc càng kiên lắm. Tôi từng viết thư kêu anh ta về,chẳng rày thì mai,Tăng quân tất về đây. Gánh cái gánh người đưa đường,anh không phải không có xe chỉ nam nữa” (4,tr45,46).
-Ngày 20 tháng giêng năm Ất Tỵ (1905) Phan Bội Châu,Tăng bạt Hổ và Đặng Tử Kính xuống tàu thủy tại Hải Phòng ra đi.Từ đó theo phân công ba ông sẽ đảm đang những việc ở nước ngoài (Nhật Bản) còn Tiểu La Nguyễn Thành và Ngư Hải Đặng thái Thân lo việc điều hành đảng và các hoạt động trong nước.
-vấn đề không đơn giản như chúng ta tưởng,công việc nào cũng đầy dẫy khó khăn,chúng ta nên tìm đọc kỹ về đoạn lịch sử nầy để được hiểu tường tận hơn,ở đây chúng ta chỉ trích ghi lại một số đoạn do cụ Phan Bội Châu tường thuật lại nội dung về tất cả vấn đề để chúng ta hiểu rõ về người khởi xướng thành lập Hội Duy Tân,để khỏi nhầm lẫn giữa hai ông Tiểu La và Đại La mà từ lâu nay các nhà viết sử đã nhầm lẫn đưa chúng ta đến việc cũng nhầm lẫn nốt..
Bên cạnh đó để giải quyết một số nghi vấn về cụ Tiểu La một nhân vật được đánh giá là người có đầy đủ trí tuệ cao cùng tài nghệ mới là người khởi xướng phong trào, chúng ta hãy xem xét từng cử chỉ sau đây từ cụ.
-Chọn cái dễ và cái khó: Người Đại Tướng Nguyễn Hàm lúc bị cùng đường phải chịu thất trận tại Cầu Cháy, khi đem quân cứu viện cho Nghĩa Quân Bình Định trở về, về đến cuối tỉnh Quảng Ngãi nơi vùng Cầu Cháy Bình Sơn. Quân của hai ông Ấm Hàm và Hồ Học còn lại chỉ vỏn vẹn 60 người, mà trải qua mấy ngày di chuyển liên tục rất khó khăn vì phải đi đường vòng xa hơn lộ trình dự trù lúc ban đầu.Tuy vất vả nhưng cuộc hành trình vẫn bình yên.Cho đến một buổi chiều đoàn quân của ông đi đến một đoạn đường hiểm trở,hai bên vách núi cheo leo có địa danh là Cầu Cháy thuộc địa phận huyện Bình Sơn,Quảng Ngãi,nếu không trở ngại chỉ hai ngày nữa là đoàn quân của Nghĩa Hội Quảng Nam về đến Quảng Nam. Lúc bấy giờ trời đã xế chiều,núi rừng đã mờ mờ,nghĩa sĩ cũng đã quá mỏi mệt vì đã nhiều ngày vất vả gian truân.Ông Ấm Hàm bàn với tướng Hồ Học,vượt khỏi đoạn cheo leo nầy,tìm nơi ẩn khuất nghỉ ngơi,chờ sáng mai đi tiếp.
Nhưng khi đoàn quân của ông vừa đi khỏi đoạn đường cheo leo ấy, thì bổng nghe tiếng pháo lệnh nổ,quân Nguyễn Thân từ trong các hóc núi rậm rạp đổ ra chận đánh,là thế chẳng đặng đừng,hai bên vách núi cheo leo,bốn bề quân địch bao vây, không còn đường né tránh,ông cùng với tướng Hồ Học bắt buộc phải chiến đấu ,đem hết tâm huyết và tài năng để biến đường gươm của hai ông tung hoành như có phép mầu. Nhưng vì lực lượng chênh lệch quá, nghĩa quân lớp bị chết, lớp chạy trốn vào rừng sâu. Tướng Hồ Học cố chiến đấu để tìm đường thoát vào rừng mà tập họp số nghĩa quân còn lại,nhưng rủi thay tướng Hồ Học bị trúng đạn của quân thù mà tử thương,còn lại mình Ấm Hàm với những đường gươm xuất thần xốc tới không còn biết hiểm nguy,như để tìm một phát đạn hay một đường gươm vô tình nào đó để trọn tình cùng với anh em nghĩa sĩ,nhất là với người dũng tướng thân yêu Hồ Học.
Nhớ lời dặn của chủ tướng là Nguyễn Thân, phải dùng mọi kế sách bắt sống cho được Ấm Hàm,vì Nguyễn Thân có nhận xét thật đúng rằng: “Ấm Hàm với những đường gươm rất lợi hại,mưu trí và dũng lược.Nghĩa đảng Nam Ngãi duy chỉ có va là người có tài dụng binh.Các ngươi phải hết sức thận trọng mỗi khi giao chiến với va”.
Khi xáp trận với ông,tên tiểu tướng của Nguyễn Thân phải cho quân lui ra,rồi dùng “Câu Liêm” mà cắt đứt nhượng chân ngựa của cụ.Con ngựa trong lúc đang lồng lộn xông pha, bỗng nhiên bị đứt chân té nhào,hắt tung ông vào một hố trũng cạn. Tức thì quân của Nguyễn Thân ào tới vây bủa mà bắt ông.Bây giờ là hạ tuần tháng chạp năm Mậu Tý.
Như vậy là chủ tướng Ấm Hàm đã bị giặc bắt,Nghĩa Hội Cần Vương Nam - Ngãi - Định đã phải liệm tắt,chỉ còn Yên Thế,Ngàn Trươi Hùng Lĩnh Bắc Trung Kỳ và Yên Thế, Bãi Sậy và một số nơi khác tại Bắc Kỳ còn chiến đấu đến phút cuối cùng,vào năm 1913 trên toàn quốc đã gây cho giặc Pháp tổn thất rất nặng nề.
Khi đã bị bắt, người chủ tướng Ấm Hàm cứ yên chí là ngày mai chúng sẽ đóng ông vào tù xa mà giải về kinh thành Huế,để xử chém như cụ Nguyễn duy Hiệu.Nhưng dần dà ngày tháng nằm trong nhà lao tại Quảng Ngãi việc ấy lại không xảy ra,tạo cho ông cái suy nghĩ,tên phản quốc Nguyễn Thân lại làm gì đây? Rồi bất giác ông nhớ lại lời tên bộ tướng của Nguyễn Thân đã nói khi trận đánh cuối cùng nơi Cầu Cháy. “Nếu không có lệnh của Cụ lớn bảo phải bắt sống ngươi,thì ta đã cho ngươi làm quỷ không đầu từ sớm rồi” . Nhớ lại câu nói nầy là biết ý định của Nguyễn Thân nên phải chọn giữa cái dễ và cái khó cho mình. Cái dể là chết,chỉ cần chửi bới nhục mạ Nguyễn Thân một cách thậm tệ,y không kèm chế được cơn thịnh nộ ,với bản chất hiếu sát,với quyền hành có trong tay,y sẽ cho giáp sĩ lôi ra chém,thế là xong,như vậy mình sẽ lưu lại cho đời lời ca tụng là đảm lược,khí phách,trung liệt mà lưu danh thiên cổ: “Đó là cái dễ” Còn việc cứu nước cứu nòi mới là cái khó.Danh dự của Tổ quốc mới là quan trọng,trách nhiệm với nòi giống mới là chí thiết,cá nhân ta chỉ là bèo bọt,nên phải chọn cái khó mà làm. “Cái khó là phải sống” nhưng với tên phản quốc Nguyễn Thân thì việc chọn cái sống lại là việc vô cùng khó.Nhưng rồi việc đến nó đã đến.
Vào một buổi sáng nọ,tên gác ngục vào bảo người thanh niên Nguyễn Hàm tắm rửa,rồi một tùy tướng của Nguyễn Thân đem đến cho ông quần áo, khăn xếp,áo dài đàng hoàng,bảo ông mặc vào,tạo cho ông cái suy nghĩ hay là Nguyễn Thân sắp đem ông đi chém,nhưng sao chúng chẳng hỏi han gì,sao không áp giải về triều mà chém ở đây.Nhưng rồi Nguyễn Thân tiếp ông tại tư dinh,trà nước như tiếp một bạn thân.Qua các lời chào hỏi xả giao ban đầu,Nguyễn thân mở lời thân mật,không đả động gì đến việc kháng chiến Cần Vương và vai trò của ông trong Nghĩa Hội. Ông ta đem chuyện cổ kim mà ông ta biết ra mà rao giảng. “Ta biết Nam Ngãi đệ là người tài giỏi việc binh,lại còn trẻ tuổi, ta đã ra lệnh cho bộ hạ không được làm tổn thương đến tính mạng đệ,là có ý để đệ đem tài ra giúp nước. Một người tuổi trẻ mà tài cao như đệ thì trên đời chẳng có mấy người..Việc đệ vì Hàm Nghi mà gian khổ cũng có cái lý lẽ của nó, tuy nhiên là việc bất phùng thời mà thôi.Nay đức vua Đồng Khánh là bào đệ của Hàm Nghi đương ở ngôi cửu ngũ, cũng là một minh quân hiền đức thì việc đem thân tài phục vụ cho ngài nào có khác gì Hàm Nghi đâu.Ta nghĩ rằng trong lẽ quyền biến người quân tử như đệ,lời nói của ta cũng thừa.Hơn nữa lúc nầy Hàm Nghi đã được nhà nước Đại Pháp bảo vệ đưa đi nghỉ dưỡng một nơi xa để tránh những phiền lụy đến bản thân.Nhà nước Đại Pháp lại cho người, hầu hạ cho bản thân của Hàm Nghi còn sướng hơn khi còn ngồi trên ngôi”. Như vậy là Nguyễn Thân không giết Nguyễn Hàm vì quá phục tài của người cả về văn lẫn võ,cố tình bắt sống và giữ lại để chiêu dụ bằng con đường danh lợi mà ông ta nghĩ.
Nguyễn Thân nói: Xưa kia thân phụ ta đã có một thời làm việc tại huyện đường với thân phụ của đệ ở Bình Sơn.Giữa ta với đệ có xa lạ gì đâu mà phải lắm lời cho phí. Ta thực lòng mến phục tài trí của đệ,lúc nầy Hoàng Thượng,triều đình,Xã tắc đang rất cần những người như đệ.Đường công danh hiển hách đương trải ra trước mắt lẽ nào đệ lại không thấy.Vài tháng nay ta bận việc quân chắc đệ cũng biết,nên đã để cho đệ chịu cảnh giam cầm,lòng ta áy náy lắm……
Nguyễn Thân đã dùng hết sở trường về sự hiểu biết kể cả cái quan hệ đời trước giữa hai nhà mà chiêu dụ Nguyễn Hàm. Đây là cái khó,Nguyễn Hàm đã nắm được hết cái tẩy từ Nguyễn Thân, Nguyễn Hàm phải dùng hết trí thông minh của mình để ứng phó với Nguyễn Thân vừa để giữ mạng vừa để thối thác,mà không làm phật ý Nguyễn Thân.
Nguyễn Hàm đáp: Bẩm cụ lớn tôi lấy làm cảm kích về những lời cụ lớn đã dạy.Đối với tôi nay là kẻ có tội,mà cụ lớn lấy tình đãi tôi như hôm nay đã là hân hạnh lắm rồi. Tôi vì cha mất sớm,ở thôn quê,trí nghĩ nông cạn,gặp lúc nước sôi,triều dậy,lòng hiếu động non trẻ làm càng.Nay nếu được cụ lớn ra ân đức tha mạng đã là ân phước lắm rồi,dám đâu đèo bòng mơ ước công danh,dù sao tôi cũng đã mang tiếng ngụy đảng nay có xứng đáng gì để chen vai cùng các công hầu danh tướng của triều đình,vì tôi đứng với các quan gia ấy tất sẽ làm dơ bẩn họ,làm sao họ vui nhận.Dù nể trọng oai danh cụ lớn,họ không tiện chỉ trích,thì trong lòng họ cũng buồn phiền,làm tổn hại đến oai danh cụ lớn ,cũng như Hoàng thượng,lòng tôi thật tình là không dám,còn các chức tri huyện,tri phủ ,tôi chỉ Là một nông dân,thảo dã,không khoa bảng,cử nghiệp làm sao xứng đáng ở chức vụ ấy được.Việc ngồi ghế công đường cho đúng luật của triều đình từ trước đến nay, với tài đức của cụ lớn,Hoàng Thượng có trọng nể mà chuẩn tấu,thì trong chỗ các quan gia từ triều đình cho đến phủ,huyện sẽ không thật lòng vui vẻ ….
Bẩm cụ lớn: nếu vì từ tâm,vì nghĩ đến tình giao hảo của song đường ngày trước,xin cụ lớn ban cho tôi một ân huệ mà thôi.
Tôi hiện còn mẫu thân nay ở tuổi bát tuần.Tôi lại là con trai duy nhất của người.Tôi xin cụ lớn cho tôi được về quê làm nghề cày cuốc,theo nghiệp dĩ ông cha,để sớm hôm được bên mình thân mẫu mà phụng dưỡng người cho tròn đạo hiếu.Nay nếu vì công danh phú quí,mà đi xa để mẫu thân sớm chiều không người phụng dưỡng,sẽ mang đại tội bất hiếu,vô đạo.Cụ lớn lẽ nào đành lòng.Còn nếu như cụ lớn không nghĩ tình,đem tôi ra chặt đầu, thì âu cũng là số mệnh.
Với tất cả cách đối đáp trên có ân,có uy ẩn chứa bên trong,có lẽ Nguyễn Thân hiểu,nhưng đã lỡ vì nể trọng tài đức của người thanh niên tài cao nầy,nên Nguyễn Thân dần dà nhìn Nguyễn Hàm trong giây lát rồi cất tiếng: Ta lấy làm tiếc,ta vẫn chờ đệ nghĩ lại. Thôi được,ta đã ban ân cho đệ được sống,thì bửa nay ta gia ân cho đệ một keo nữa.Ta chấp thuận lời cầu xin của đệ,và chỉ một lần gia ân nầy nữa mà thôi. Đối với ta,đệ nên biết rằng ta không bao giờ vì tình mà quên lý.Sau đó Thân viết mấy chữ báo cho phủ Thăng Bình rõ về việc Thân cho Nguyễn Hàm về quê làm ăn sinh sống.Đồng thời lệnh cho nha phủ Thăng Bình theo dõi,quản thúc các động tỉnh của Ấm Hàm. Dũng tướng Ấm Hàm đem khăn áo trả lại cho tùy tướng của Nguyễn Thân,rồi lên đường về nhà. Về đến nhà cụ Nguyễn Hàm thuật lại các diễn biến cho đích mẫu, chị em,chú bác nghe.Sau đó cụ hỏi riêng với mình bà Nguyễn Hàm,về việc Nguyễn Thân đề cử ông làm quan thì có nên chăng? Bà chánh thất Nguyễn Hàm nhìn thẳng vào mắt chồng mà trả lời: “Thầy xưa nay vì đại nghĩa mà vào sanh ra tử,nay đại nghĩa không thành,xin hãy giữ tròn tiết tháo”. Người chồng Ấm Hàm hết sức xúc động,cảm phục câu nói của Bà.
Sau khi về đến nhà tại làng Thạnh Mỹ,phủ Thăng Bình,thanh niên Ấm Hàm phải tổ chức ngay một nông trang và đặt tên cho nông trang của mình là “Nam Thịnh” đồng thời cũng đổi tên mình luôn, không cho gọi là Ấm Hàm hay Nguyễn Hàm như trước,để tránh đi cái tên một thời đã bị thất bại từ Nghĩa Hội. Cậu Ấm đổi tên mình là Nguyễn Thành,là mong muốn cho sự thành công về sau nầy.
Nông trang Nam Thịnh là nơi để trình bày với làng xã,là người thanh niên Ấm Hàm đã quyết chí làm ăn,là như không mơ màng đến chuyện nước non như trước nữa.Ban ngày cụ theo những người lao động ra nông trang coi ngó và làm việc,cả ba năm liền như vậy.Nhưng tối lại lúc mọi người yên giấc,người chủ nông trang Nguyễn Thành,phải chong đèn mà nghiền ngẫm sách vở.
Nhưng chẳng ai biết rằng,mỗi đêm về dù là người chí thân,không một ai biết rằng,một bóng người hai tay chắp sau lưng,yên lặng đếm từng bước chậm rãi đi lại quanh vườn., yên lặng và suy tư. Có những lúc sương lạnh thấm qua vai áo,thanh niên Nguyễn Thành lại thả hồn để ngược dòng dĩ vãng,cái lịch sử chưa xa là mấy.Từ một thư sinh mới 22 tuổi đời,sinh ra và lớn lên trong một gia đình nho học,con quan,mang tước “ Ấm” mà đường công danh,hoạn lộ lại là một nghiệp dỉ, nhưng tiến đại bác của quân thù đã làm tiêu tán cái nghiệp dỉ ấy.,để trở thành một kiện tướng của nghĩa quân Nghĩa Hội, lại trở thành một mưu sĩ của Nghĩa Hội Cần Vương Nam,Ngãi,Định,dùng thanh gươm,quyết lấy da ngựa bọc thây để cứu nước, tuy nhiều phen đã làm cho quân thù khiếp đỡm,nhưng cuối cùng cái xã hội của người tây lại quá văn minh,họ dùng súng bắn đạn đồng,còn ta thì quá lạc hậu,vẫn là “Giáo, Mát” gậy gộc,vì vậy mà không có cách nào thắng nổi họ.Cái đó là bởi cái chính quyền quân chủ của xứ ta quá lạc hậu,không biết canh tân,làm cho dân tình phải chịu cảnh lạc hậu,phải làm giai tầng nô lệ cho bọn lan sa.
Nhìn được tất cả cảnh tình của đất nước hiện tại,thanh niên Nguyễn Thành mới đem tâm sự của mình mà trải lòng với các đồng chí Cần Vương ngày trước như là Châu Thượng văn và Đỗ đăng Tuyển.Vào một ngày người khách buôn vào nông trang để coi vườn quế,do người cháu nhỏ của thanh niên Nguyễn Thành chỉ đường. Vừa xáp mặt là chủ khách đều hớn hở vui mừng, chủ nhà đưa khách ra vườn xem quế, để cùng trò chuyện,rồi vào nhà uống nước,khách bí mật trao cho chủ nhà một văn bản chép tay bằng chữ Hán rất công phu. Người khách ấy là cụ Ô Gia Đỗ Đăng Tuyển,văn bản được trao là “THIÊN HẠ ĐẠI THẾ LUẬN” của tác giả Kỳ Am Nguyễn lộ Trạch.Đọc văn bản nầy người thanh niên Nguyễn Thành,đã mở bừng mắt vì quá hay, quá đúng.
Thời gian sau, qua các người em,người cháu của bà Nguyễn Thành ở Hội An,họ lại thường vào thăm chị,thăm cô.Cụ Châu thượng Văn đã chuyển đến Nguyễn Thành các sách báo của hai nhà chính trị Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu,cùng các đồng chí của hai vị nầy như:
Trung quốc hồn,Tân Văn Tùng báo,Dinh Hoàng Chí lược,Trung Đông chiến hỷ,Pháp-Phổ chiến hỷ,cùng các sách nói về nhân quyền,dân chủ và các nhà tư tưởng Âu Tây đã được dịch ra Hán Văn như Dân ước Luận (Contrat Social của J-J Rousseau) Thuyết tiến hóa ( Evolutionisme của H. Penter, Vạn pháp tinh lý ( De L’esprit de lois của Montesquieu v..v).do các người lái buôn Hoa kiều đến Hội An bằng thương thuyền đem bán,và cụ Châu thơ Đồng chọn mua.
Suốt nhiều năm trời Thanh niên Nguyễn Thành nằm nhà nghiền ngẫm sách vở,không ra khỏi nhà,người trong làng cũng như người các làng lân cận thường tò mò muốn biết là thanh niên Nguyễn Thành đã đọc những sách gì,nhưng không ai biết,khi đến thì chỉ thấy ông đọc những sách Chu Dịch,Địa Lý,Bói toán Phong Thủy.Con chó mực làm lính canh,bên cạnh đó ông để một gương chiếu hậu bên dưới hai bàn chân,vì ông luôn luôn nằm xây đầu ra ngoài sân,mà cửa lại mở toan, chó mực đánh hơi có người là hực hực,ông nhìn vào gương để nhận diện người,sách vở được cất, chỉ còn lại những sách bói toán ấy mà thôi. Nhờ đọc được nhiều sách hay ấy,mà kiến thức ông lại được mở rộng thênh thang, để trở thành người chủ chốt của Phong trào Duy Tân và Duy Tân Hội sau nầy như mọi người đã biết.
Tên Nguyễn Thành có lẽ ông mới dùng sau khi về tổ chức nông trang Nam Thịnh,để đánh lừa bọn mật thám Pháp cũng như bọn người tay sai của chế độ Nam Triều,còn cái hiệu Tiểu La có thể khi gặp Phan Bội Châu rồi,thì hai người mới đặt cho mình cái danh hiệu đó có thể suy đoán là như vậy,bởi chữ “Tiểu La” có nghĩa là người lo vòng trong, chữ “Đại La” có nghĩa là người lo vòng ngoài. Sau nầy danh hiệu Tiểu La mới gọi chung với tên ông là Nguyễn Thành,trở thành xuôi vần mà quen miệng.
Kể từ lúc nầy,thanh niên Tiểu La Nguyễn Thành quyết định không thi cử nữa,đó là thay đổi đầu tiên,khai tử cái tên mà cha mẹ đặt là Nguyễn Hàm,mà thời Cần vương Nghĩa Hội thường gọi là Tán Hàm. Khai sinh lại là tên Nguyễn Thành,biệt hiệu là Tiểu La để vừa che đậy cái thân thế,cũng vừa để nói lên ý thức thay đổi trong con người yêu nước nầy. Công việc hoạt động cách mạng của ông Tiểu La Nguyễn Thành từ đây về sau đối với tổ chức Cần Vương Hội,đã được trình bày nơi phần trên.
Vào năm 1908.tại Quảng Nam,Quảng Ngãi có phong trào xin thuế,giảm sưu,người Pháp đã dùng lý do nầy,đốc thúc chính phủ bù nhìn Nam triều,lùng bắt tất cả những người đang được hoài nghi dính líu đến vụ nầy,Tiểu La Nguyễn Thành không thoát khỏi,bởi Nguyễn Thân đã nói,hắn ta chỉ gia ân một lần nầy mà không có lần thứ hai,đây là cơ hội tốt để hắn ta thực hiện ý định tiêu diệt Tiểu La Nguyễn Thành,ông đã bị bắt,bị kêu án 9 năm khổ sai ,đày biệt xứ,như vậy là bị đày ra Đảo Côn Lôn. Có thể là có bàn tay Nguyễn Thân nhúng vào để tiêu diệt một kẻ thù lợi hại của y,mà y đã lỡ tha một lần.
Vì tức tối không thể chịu đựng được bởi cách trả thù dã mang của kẻ thù,bên cạnh đó ông lại bị nhiễm bịnh nặng khi mới ra Côn Đảo được nửa tháng và đã dồn dập đến với ông những tin buồn, trước là tin vợ ông chết, năm sau lại được tin con gái ông chết. Cái điều quan trọng nhất là những du học sinh ta tại nước Nhật bị chánh phủ Nhật trục xuất. Thế là kế hoạch của ông sắp đặt trong mười mấy năm nay bị hỏng cả, nhân lúc bị uất ức,bệnh phế uất lại tái phát sinh ra thổ huyết,ông tự biết là khó sống,nên có làm bài thơ vĩnh biệt các đồng chí như sau:
Nhứt sự vô thánh mính dĩ ban / Thử sanh hà diện kiến giang san / Bổ thiên vô lực đàm thiên dị / Tế phế phi tài,tỵ thế nan / Thế cuộc bất kinh vân biến ảo / Nhân tình chỉ khủng thủy ba lan / Vô cùng thiên địa vô song nhãn / Tái thập niên lai thị nhứt quan.
Bồ Nam dịch : Một việc chưa xong tóc bạc rồi / Mắt nào nhìn thấy núi sông ôi! / Vá trời kém sức bàn nghe dễ / Cứu nước không tài tránh khó nơi /Cuộc thế ngại gì mây biến chuyển / Tình đời e nổi sóng đầy vơi / Mở toang hai mắt xem trời đất / Chậm lắm mười năm phải đổi đời.
Vì quá buồn, nên ông lâm bịnh mà mất lúc vào nhà tù ở Côn Lôn mới chỉ được hai năm, chết vào ngày 11 tháng 11 năm 1911.
Hài cốt của cụ Tiểu La,năm 1958 đã được người cháu trai giòng thứ của ông là ông Nguyễn Hoàng Huân,đã cải táng từ Côn Đảo đem về an táng tại quê,bài vị của cụ Tiểu La được thờ tại Từ Đường riêng của gia đình,tại làng Quý Thạnh ( Thạnh Mỹ) ,xã Bình Quý,huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng Nam (Quảng tín cũ)./.
_____________________________
NHÀ CÁCH MẠNG TƯ TUỞNG PHAN CHÂU TRINH
“Ba tấc lưỡi mà gươm,mà súng,
Nhà cầm quyền trông ngó đã gai ghê!
Một ngòi lông mà trống mà chiêng,
Cửa dân chủ treo đèn thêm sáng chói”
Đó là chí sĩ can trường xứ Quảng : Ông Tây Hồ Phan Châu Trinh .
* Phan châu Trinh có tên chữ là Tử Cán,hiệu là Tây Hồ,biệt hiệu là Hi Mã. Người làng Tây Lộc,huyện Tiên Phước,tỉnh Quảng Nam,Việt Nam. Ông là một nhân vật lịch sử tiêu biểu của phong trào cách mạng tư tưởng đầu thế kỷ XX .Ông đề xuất các tư tưởng dân chủ và dân quyền sớm nhất và hùng hồn nhất tại Việt Nam.Ông kiên trì cổ vũ cho một giải pháp ôn hòa,chủ trương phát triển đất nước từng bước một bên trong hệ thống thuộc địa của người Pháp.
Từ khi còn trẻ,Phan châu Trinh đã là người thông Minh,tính tình lại rất khẳng khái.Công việc không kể lớn nhỏ,ông thường dùng phương pháp tranh biện để giải quyết vấn đề,nên ông được nổi tiếng khắp nơi từ Nam chí Bắc.Ông đỗ cử nhân hạng thứ 3 tại trường thi Thừa Thiên (1900) và đỗ Phó Bảng đồng khoa với ông Ngô đức Kế, và Nguyễn sinh Sắc.
Phan châu Trinh cũng như cha ông là ông Phan văn Bình một võ quan,sớm tham gia phong trào Duy Tân trong tỉnh.Tuy nhiên phong trào lại sớm bị thoái trào.Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn duy Hiệu chỉ cầm cự được hai năm (1985-1987).Trước hoàn cảnh đó Phan châu Trinh không khỏi suy nghĩ về hiệu quả của con đường đấu tranh võ trang bạo động.Từ đó ông nhận thấy những nhược điểm của con người và xã hội Việt Nam.Ông chủ trương phải nâng cao trình độ trí tuệ và đạo đức của con người Việt Nam làm được như vậy mới mong phát triển kinh tế,văn hóa,nhất là phải học những tư tưởng tiến bộ của Phương Tây.Phan châu Trinh cùng với Huỳnh thúc Kháng,Trần quí Cấp,đi khắp tỉnh cũng như các tỉnh lân cận để truyền bá tư tưởng gọi là phong trào “Khai dân Trí,chấn dân Khí, để tiến đến hậu dân sinh”.Phương thức hoạt động là bất bạo động,và công khai hoạt động để khai hóa dân tộc.
Thời gian nầy ông viết “TỈnh Quốc Hồn Ca” kêu gọi mọi người duy tân theo phương pháp “khai minh và phát triển thực nghiệp theo các khẩu hiệu đã đề ra:
-
Khai dân trí: tức bỏ lối học tầm chương trích cú,mở trường dạy chữ quốc ngữ cùng kiến thức khoa học thực dụng bài trừ hủ tục.
-
Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực,tự cường,mọi người phải giác ngộ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình,giải thoát khỏi tư tưởng chuyên chế quân chủ.
-
Hậu dân sinh: Phát triển kinh tế,cho dân khai hoang làm vườn,lập hội buôn,sản xuất hàng hóa nội địa.
Năm 1908,phong trào Duy Tân bị Triều Đình Huế cùng người Pháp đàn áp dữ dội,lúc ấy ông cùng nhiều thành viên trong phong trào Duy Tân bị nhà cầm quyền buộc tội là đã khởi xướng phong trào,rồi bắt tất cả giải về Huế. Tòa Khâm sứ Huế, và Chính Phủ Nam Triều đều muốn ghép ông vào tội chết,nhưng nhờ sự can thiệp của những người Pháp có thiện chí cùng Hội Nhân Quyền tại Hà Nội, họ buộc lòng kết án ông “ Trảm giam hậu,lưu tam thiên lý, ngộ xá bất nguyên” nghĩa Là: ( phải tội chém nhưng giam lại, đày xa ba ngàn dặm,gặp ân xá cũng không cho về). Rồi đày đi Côn đảo ngày 4/4/1908.Năm 1910,cũng nhờ Hội Nhân Quyền can thiệp,tại nhà tù Côn Đảo ông được phóng thích về đất liền và năm sau sang Pháp,tại Pháp ông Phan châu Trinh cùng với các đồng hương cũng là đồng chí như: Phan văn Trường,Nguyễn thế Truyền,Nguyễn An Ninh tiếp tục hoạt động ngay giữa lòng Paris.Năm 1922 vua Khải Định sang Pháp,ông gởi cho nhà vua bức thư thất điều phản đối kịch liệt chính sách hủ lậu của chính phủ Nam triều.Năm 1925 tháng 6 về nước ( tại Sài Gòn) tổ chức diễn thuyết được vài lần,rồi lâm bịnh mà tạ thế vào năm 1926.
Khi bị đày ra đảo Côn Lôn (1908-1910),Cụ Phan Châu Trinh có làm bài thơ “Đập Đá ở Côn Lôn” dưới đây để nói lên cái khí tiết của một nam nhi.
“Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn / Lừng lẫy làm cho lở núi non / Xách búa đánh tan năm bảy đống / Ra tay đập bể mấy trăm hòn / Tháng ngày bao quản thân sành sỏi / Mưa nắng chi sờn dạ sắt son / Những kẻ vá trời khi lỡ bước / Gian nan chi kể việc cỏn con /.
Bài thơ thất ngôn bát cú nầy đã mô tả được cái khổ nhục của loại tù khổ sai dưới chế độ thực dân Pháp và chế độ quân chủ chuyên chế bị nô dịch là như thế nào! Và cũng thể hiện tấm lòng sắt son bền bĩ đối với một (những) nam nhi đang nhìn Tổ quốc lúc còn bị nạn ngoại xâm. Và nó đã nói lên cái ý chí vừa sắt son và bất khuất của những người yêu nước thời bấy giờ.
X
Tuy được trui rèn trong môi trường Nho Học,nhưng Phan Châu Trinh đã sớm nhận thức được sự lạc hậu của thể chế quân chủ chuyên chế,và sự ưu việt của thể chế dân chủ,tự do. Bởi vậy hơn ai hết,Phan châu Trinh đã kịch liệt phê phán chế độ quân chủ chuyên chế,mạnh mẽ lên án vua quan thuộc chế độ nầy,một chế độ thối nát và tàn bạo.
Nhân chuyến đi sang Pháp của vua Khải Định dự cuộc đấu xảo tại Marseille ngày 14 tháng 7 năm 1922. Phan Châu Trinh đã gởi đến vua Khải Định một thư “Thất Điều” để phản đối chế độ quân chủ chuyên chế,đã làm suy yếu tiềm năng quốc gia, làm cho dân chúng phải nghèo nàn và lạc hậu.
“Thư thất điều” được viết bằng chữ Hán.Mà chính Phan Châu Trinh đã tự dịch ra quốc ngữ,đồng thời nhờ người dịch ra tiếng Pháp ( có thể là ông Phan văn Trường) để đăng trên các báo Pháp. Tác phẩm dài 24 trang A4, gồm: Phần khái quát nêu lý do và mục đích viết thư.Phần chính liệt kê 7 tội của Khải Định,phần kết gút lại những nội dung chủ yếu và phần bị chú ghi chú về cách thức viết thư,cách thức xưng hô.
Nội dung của thư thất điều là kể “Bảy”tội của vua Khải Định.
- Một là tội tôn quân quyền:
Phan Châu Trinh đã trích dẫn hàng loạt câu nói của Khổng Tử,Mạnh Tử và những thực tế trong lịch sử Âu-Á,rồi Á-Âu để khẳng định vua “phải thuận theo ý muốn của dân,phải làm những việc lợi dân,ích nước” và “nếu không thế, thời cũng bị phạt,bị tội như mọi người vậy”.
Ông đã vạch ra nguyên nhân khiến nước ta bị Pháp xâm chiếm và càng ngày càng bị sa sút tàn mạt: “ .. .ông bà nhà Nguyễn,trong 200 năm mở mang gần nửa nước Nam,công đức lớn biết là bao nhiêu,mà con cháu làm vua chỉ chưa đầy 50 năm,đã bị họa mất nước,là bởi cớ đó,thảm thay! Việc học hành thời hủ bại,nên học trò dốt nát,chỉ biết thi đậu làm quan để được ăn cướp của dân,chẳng biết nước nhà là gì.
Vậy cho nên đến nay nước nhà một ngày một sa sút,càng ngày càng tàn mạt,chẳng còn đứng vào bực nào cả…” “ Cứ sự đã qua đó mà buộc tội,chẳng vua thời ai? Dẫu có anh thầy kiện miệng lưỡi giỏi đến thế nào cũng không cãi cọ gì được”.
Phan Châu Trinh chỉ ra sự hư hỏng của Khải Định,kết án Khải Định một cách quyết liệt “ Nay bệ hạ … lúc chưa làm vua,chẳng nghe có một điều gì là hay,mà sự xấu xa đã chán chường trước mắt thiên hạ,chỉ lo chạy ngược chạy xuôi để lên làm vua cho được,đến lúc làm vua được rồi,chỉ làm việc cho nhân dân oán thán mà thôi. Vậy mà nay lại còn dựa hơi quyền nọ, quyền kia,bắt buộc dân phải tôn mình nữa kia!.
Chiếu theo luật xưa nay,dân Âu,Á chúng nó bắt tội các vua của chúng,mà xử bệ hạ,thời một cái chết,hay một cái đuổi, hai cái đó bệ hạ không thể tránh được” .
- Hai Là tội thưởng phạt không công bình.
Sau khi lý giải vì sao việc thưởng phạt không công bình,ông nêu ra những việc làm bất công,gian dối,mờ ám của Khải Định: “Tôi nghe đích rằng: Bọn tên X là bọn chơi bời lẳng lơ với bệ hạ khi trước,khi Bệ hạ làm vua rồi,thắng thời được thăng chức Thống chế để hầu hạ bên mình,thẳng thời cho làm Tri Phủ,Tri Huyện,quan Tỉnh hay quan Kinh v .v… Lại nghe có anh quan thị lang nọ,vợ anh ta có oán riêng với Bệ Hạ lúc còn chưa làm vua,khi Bệ Hạ lên ngôi rồi,nhơn sự rủi ro nho nhỏ,anh ta bị cách chức đuổi về ngay. Lại một người Thượng Thư hay bán rao những cái tịt riêng của Bệ Hạ ra ngoài,nhân dịp nó mất chỗ dựa,Bệ hạ tìm cớ buộc tội nặng,xử 8 năm tù,án đã làm rồi,sau nghe anh nầy trút ra 5 vạn đồng bạc,lại được lại,rồi giáng chức đuổi về.
Vậy thời sự thưởng phạt của Bệ hạ cứ heo cái ý riêng của mình,chẳng cần gì phép nước,làm cho thêm sự gian dối lo lót ra. Vua như thế,thời vua làm gì?.
Lại nghe Bệ hạ nuôi một bọn lính kín hơn 40 người,để mai chiều đi do thám chốn hương thôn,nơi thành thị,xem có ai gièm chê mình không. Nếu có thời Bệ hạ hoặc là tìm cách buộc tội ngay,hoặc là dùng cách bí mật làm hại mà không cho người ta biết. Những quân đó rặc là quân côn đồ,cậy thế gần vua,làm điều phi pháp, khiến cho lương dân ai ai cũng sợ hãi, khóa mồm,bịt miệng,ra đường gặp nhau chỉ lấy mắt trông nhau mà thôi,thiệt là làm cho nhân dân khổ sở thậm tệ”.
Phan châu Trinh kết lại như sau: “Xưa vua Lệ nhà Châu là người lắm nết xấu,sợ dân chỉ trích,mới đặt ra một cái phép để khỏi sự chê gièm,cũng làm như Bệ hạ vậy. Ông Triệu công can rằng: “Bịt miệng dân khó hơn là bịt miệng sông” Vua Lệ không nghe,sau quả bị dân giết. Sao Bệ hạ không lấy gương đó mà soi?”
- Ba Là chuộng sự quì lạy.
Cụ Phan cho rằng**: “** Một người ngồi sồ sộ ở trên,bao nhiêu người dưới phải áo mão dập đầu xuống đất,chẳng những là làm mất cái phẩm giá của loài người,mà làm cho người trên sinh lòng kiêu căng,người dưới mất lòng liêm sĩ,thật là cái lễ phép rất là mọi rợ” .
Phan chấu Trinh mạnh mẽ chỉ trích,đả kích việc chuộng sự quì lạy của vua Khải Định,chỉ ra những hệ quả xấu xa của nó: “ Lễ lạy không phải là lễ văn minh,vua cũng không phải là trời,quân và dân không phải la đầy tớ mạt,ga xe lửa và bến tàu không phải chốn triều đình,sao Bệ hạ dám bắt người ta vùi áo mão trong chốn lầm than,xem loài người như loài trâu ngựa, làm cho người ngoại quốc trông vào,chẳng những chê cười Bệ hạ, mà lại mỉa mai khinh dễ nòi giống Việt Nam nữa. Những sự đó,phàm những người có nhiều ít trí khôn,biết được một tí văn minh đời bấy giờ, chẳng ai chịu làm,mà Bệ hạ thời cứ vui vẻ tự đắc mà làm được, thực lạ quá. Vậy không phải một người ngu là gì?”
Và,tác giả đặt ra cho vua Khải Định một câu hỏi hóc búa*: “ Vậy thời Bệ hạ chẳng biết gì là xấu hổ sao? Bệ hạ chẳng quản gì danh tiếng của Bệ hạ mặc lòng,còn thể diện nước Nam thời sao?”.*
- Bốn là tội xa xỉ vô đạo:
Phan châu Trinh cho rằng việc Khải Định không dùng những cung điện cũ của các vua trước và cho xây cung điện mới nguy nga,đồ sộ ở An Cựu, và chế khăn mũ,áo, giày là hoang phí tốn kém vô ích: “Liền làm ngay một sở cung điện nguy nga mua những đồ sứ của Tàu,mỗi lần vài ngàn bạc,đem về đập bể,lựa những miếng nào bông hoa đẹp để gắn những hình con long,lân,qui,phụng,cho thỏa lòng xa xỉ của Bệ Hạ. Lại đem bạc tiền thuê người Tây đúc 3,4 cái tượng đồng của mình,phí tổn ước mỗi cái trên dưới một vạn đồng bạc,để chưng trong nhà đấu xảo.Báu gì,xảo gì đồ đó mà đấu! Lại từ cái khăn,cái mũ,cho chí cái áo,cái giày,Bệ hạ đều đỉnh vàng ngọc kim cương,giá phí biết là bao nhiêu! Rất đỗi lấy vàng luộc giác ra làm cái ủng để bao cả bắp chân,xa phí dại dột,từ xưa đến nay chưa có nghe ông vua nào làm như thế bao giờ”.
Rồi tác giả kịch liệt đả kích việc chi tiêu hoang phí,biếu xén và cho tặng bừa bãi của vua Khải Định lúc ở Pháp: “ Lại Bệ Hạ lúc qua Tây,xuống tàu từ Tourane cho đến khi qua Tây,lúc ở trên tàu,gặp khách bộ hành nào thời cũng rượu sâm banh hạng nhất là đãi cho thả cửa, chỉ nói những tiền cho “ buộc boa (pourboire) cũng đến hai mươi ngàn quan (20.000) còn kim tiền,kim khánh thời đụng ai cho nấy,chẳng kể sao hết được.
Ai còn lạ gì,khi Bệ hạ chưa làm vua,trong túi chẳng có một xu,vậy tiền đó ở đâu tới? Chẳng phải Bệ hạ ăn cắp tiền kho,tiền kín của nước ta, thời tiền đâu?
Tác giả đặc biệt phẫn nộ khi dân chúng phải ăn đói mặc rách,phải còng lưng ra để đóng đủ các thứ thuế để vua có tiền tiêu xài hoang phí*: “ Nhưng mà khi thu thời vơ vét tận xương tủy,đến khi tiêu thời vãi tung như tro bụi,như thế thời quốc dân ta tội gì mà phải chịu sự cực khổ,dâng của máu mủ,để cho một người vua u mê tiêu phá một cách dại dột như thế?”*
Và ông đã gút lại về cái tội thứ tư của vua Khải Định như sau: “ Bệ hạ viết thư cho Bộ Trưởng thuộc địa có câu xưng là “ cha mẹ dân” thử hỏi nước ta xưa đến nay vốn trọng luân lí gia đình,mà có đâu thứ cha mẹ tàn nhẫn bất lương như vậy? Đổi lại, phải nói thằng giặc của dân thời đúng hơn.Đó là bốn tội”.
- Thứ năm là phục sức không đúng phép*.*
Trước hết, cụ Phan phê phán cách ăn mặc không giống ai,không theo định chế nào cả của vua Khải Định: “ Bệ ha tự ý chế ra một thứ lễ phục kiểu mới,tự mặc để ra triều. Kiểu ấy là trên áo cẩm bào cũ,thêu vào cái cầu vai kiểu Âu,còn cổ áo và tay áo thời đinh vàng ngọc lòe loẹt,Âu không ra Âu,Á không ra Á, lại trên nón vua thời thêu thêm những hình rồng, hình phụng sáng ngời.
…Nếu nói rằng cách mặc xưa không hợp với thời nay,phải cải cách cho hợp thời,thời đó không phải việc không nên làm. Xem như Tàu với Nhật công phục đều theo lối Âu Châu thời sao? Nhưng phải đặt làm thể thức nhất định,trên dưới một loạt,thay đổi theo mới,lấy thể lệ công bố ra ai nấy đều phải theo,như vậy thời sao lại không nên?”
Cuối cùng cụ Phan chỉ ra những tác hại của việc ăn mặc chẳng giống ai của vua Khải Định và xem đó là một tội: “Nay Bệ hạ lại trái hẳn,tự chế,tự mặc,chỉ lo làm sang một mình,người trong nước xem vào không gì là chính đính, lại làm cho tai mắt người ngoài lầm lạc,đã sai phép ban giao,lại làm nhục quốc thể, chiếu luật pháp nước nhà,phải chịu điển hình.Đó là năm tội”.
- Sáu là du hạnh vô đạo*. (du hạnh là đi chơi giải trí)*
Phan châu Trinh phê phán việc vua Khải Định đi lại chơi bờ tốn kém tiền bạc,công sức của nhiều người, làm khó,làm khổ cho dân chúng,bỏ bê việc nước việc dân: “ Sau khi Bệ hạ lên ngôi,thời ra sức khuếch trương nghi trượng nhà vua,thường thường ra đi chơi rông,nào là voi,nào là kiệu,nào là xe, nào là ngựa,những người theo hầu,nhiều thì đến hàng trăm,ít cũng ba bốn chục,chiều lại dong chơi trong thành thị.Trang sức lộng lẫy,nghi thức oai nghiêm,quân hầu nghênh ngang,nước ta bốn mươi năm chưa từng có.Người đi đường khổ việc chạy tránh,dân trong nhà chán sự hầu phiền,còn Bệ hạ thời dương dương tự đắc,ý muốn tỏ cho người biết rằng Hoàng đế là sang”.
Cụ lại còn chỉ việc sai trái của việc đi lại,chơi rông của nhà vua và kết án: “ Xét luật pháp cuả nước văn minh,không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ kèm theo. Nay Bệ hạ tự tôn quân quyền,tự ý làm oai,làm phúc,chính trị bỏ lơ không mảy may lưu tâm đến.Nhân dân đói lạnh chẳng chút hỏi han,mà lại ngày ngày chơi rông,kiêu căng buông lung, thời còn trách kẻ bầy tôi sao được? Bệ hạ phải chịu là thủ phạm trước hết. Đó là sáu tội”.
- Bảy là việc Pháp du ám muội
Trước hết, cụ Phan châu Trinh nêu ra ba mục đích khác nhau của chuyến đi Pháp của vua Khải Định rồi phê phán, bác bỏ cả ba:
-Đưa hoàng tử đi học,đi điếu quân sĩ nước ta tử trận,đi xem các thành phố phía bắc nước Pháp bị tàn phá. Cụ cho rằng “Những việc đó đều là việc tư của Bệ hạ,không phải việc công của quốc dân ta,lại đó là những việc không cần kíp gì cả”.
-Đi du lịch nước Pháp để khảo sát văn minh của họ rồi về cải cách chính trị trong nước. Cụ cho rằng: “Bệ hạ không phải là tay làm việc ấy được. Sao vậy? Vì nước Pháp là nước dân chủ,mà Bệ hạ là vua tôn quân quyền,…Vả chăng Bệ hạ không am hiểu tiếng Pháp,mà mấy ông Đại Thần đem theo, như tên X tên Y đều là bọn hạ tiện nước ta, tri thức của họ còn thấp hơn con nít 10 tuổi của Pháp. Lại trong khi Bệ Hạ ở Ba Lê ( Paris) chỉ có một lần đến trường đua ngựa,cá được 200 quan,còn những việc bác cổ lớn,học đường lớn, thương quán lớn,và những nơi nhóm họp bao nhiêu văn minh tinh túy của nước Pháp .v..v thời chưa từng bước chân vào,nói rằng đi khảo sát,thời khảo sát mà như vậy ư?”.
- Đi dự cuộc đấu xảo thuộc địa Marseille*.* Cụ cho rằng*: “ Trung Kỳ là cái xứ ở dưới quyền chuyên chế của Bệ hạ,thời sĩ phu lòng đen như mực,nông dân xương gầy như củi,có gì là xảo đâu! Chỉ duy đại thần và quan lại của Bệ hạ,thời cái xảo quì lạy, cái xảo dua nịnh,cái xảo ăn hối lộ,cái xảo xéo thịt dân để ăn cho béo cho mập,nhưng tiếc thay cái loại quỉ sứ ấy,thời tại Pháp đây,sáu bảy mươi năm về trước,họ đã nhấn xuống nước sâu,ném vào lửa đỏ cả rồi,nay Bệ hạ đem loài ấy qua,thời không ai còn mà đấu với nữa!”.*
Tiếp theo,cụ nói đến việc dư luận cho rằng vua Khải Định*: “ Cậy oai chuyên chế,vơ vét của dân,mua đồ xa xỉ hạng nhất của các nước Á Đông và nước mình,tóm thâu tất cả đồ quí báu của các triều trước để lại,chứa đựng có hơn trăm hòm,ngày nay đem cả theo,nhờ những người Pháp tên X tên Y vận động,dâng lễ cho đảng quân chủ nước Pháp,để nhờ cũng cố ngôi vua cho cha con Bệ hạ và nhờ họ làm hậu viện để mong đạt cái mộng tôn quân quyền, sau thành việc rồi Bệ hạ về nước sẽ thi oai dâm bạo,khóa hết miệng lưỡi quốc dân,rồi sẽ kí điều ước nầy điều ước nọ để đền đáp.Việc nầy tuy còn ở trong vòng bí mật,nhưng người ta đã đồn rầm ở ngoài,không phải là không có cớ,theo lời tục ngữ của Pháp “ không lửa mà có khói” ai tin!”.*
Cụ khẳng định ý đố nầy của vua Khải Định là thất sách và nhất định sẽ thất bại vì “ Bệ hạ muốn giữ vững ngôi quân chủ mà lại đi cầu khẩn với dân của một nước dân chủ, Trinh nầy đã biết muôn phần không có một phần nào thành công được.
Cái bệnh của Bệ hạ là bởi ngu muội,chưa từng đọc lịch sử nước Pháp vậy. Nếu một mai biết được thời sẽ gục đầu chán nản,cuốn ngòi mà về sớm vậy”.
Tiếp theo,cụ Phan châu Trinh trình bày quá trình sụp đổ của thể chế phong kiến chuyên chế và thắng lợi của dân chủ tự do tại Pháp,Châu Âu và trên toàn thế giới và khẳng định “ Cái chủ nghĩa dân quyền thần thánh bất khả xâm phạm,nó đương bồng bồng,bột bột như mặt trời giữa trưa,chiếu thấu cả bầu trời,mà về sau chính thể quân chủ tất không còn chỗ đứng chân, còn nói chi đến việc chuyên chế dã man nữa..
Kết lại phần nói cái tội thứ bảy nầy,ụ Phan tiếp tục đả kích những việc làm sai trái và kết án vua Khải Định: “xem lại hơn trăm hòm đồ quí của Bệ hạ đáng giá bao nhiêu,lại dám đem bạch bích mà nhem thèm,đem huỳnh kim mà đen lòng,đi ngược lại phong triều thế giới,trái với công lý nhân đạo,làm dơ danh dự của quốc dân,để vì Bệ hạ giữ lại cái vận mạng của nền quân chủ chuyên chế,nó đã gần tàn như giọt sương ban mai rồi.Nói rằng 20 triệu quốc dân oán là việc nhỏ,còn mặt mũi nào đối với vạn quốc trên thế giới ư? Xem vậy Bệ hạ đi chuyến nầy chắc chắn là thất bại,không còn ngờ gì nữa. Chỉ tiếc thay,bao nhiêu máu mỡ của 6-7 triệu quốc dân ta,bao nhiêu cái kho tàn quý báu của nước nhà ta dành dụm mấy trăm năm nay,chỉ vì sự lơ lĩnh nhỏ nhen mà Bệ hạ đem vứt đi một cái,làm chìm lỉm hết thảy theo ngọn sóng Tây dương! Đó là bảy tội”.
PHẦN KẾT:
Để tổng kết “thư thất điều” của mình Phan châu Trinh đã gút lại những điểm chú ý như sau:
*-*Chỉ nêu bảy điều có quan hệ đến quốc kế dân sinh,những điểm xấu xa còn nhiều không kể xiết,nhưng không quan hệ đến việc nước cho lắm hoặc có dính đến đời tư cá nhân nên không nói đến làm gì.
- Dân trí thế giới tiến bộ mỗi ngày ngàn dặm,ngày tàn của quân chủ chuyên chế trên thế giới không xa mấy,không cần khôn ngoan cung biết.
- Nước ta,dưới chính thể chuyên chế vô trách nhiệm đã tụt hậu thêthảm,thua kém nhiều nước Á Đông,kể cả Xiêm La (Thái Lan) từng thua kém ta rất nhiều. Đó là lỗi của chế độ chuyên chế.
*-*Xu thế toàn cầu là như vậy, cái ngôi vua của Khải Định đã nguy “tợ như trứng mỏng”. Thế mà Khải Định còn mê muội,làm đủ điều xằng bậy.
- Đến đây, viết đã cùn,tay đã mỏi,giấy đã hết,điều muốn nói hãy còn.Cụ Phan cho rằng mình không công kích cá nhân Khải Định mà là công kích hôn quân,không vì tư kỹ của riêng cụ mà vì 20 triệu đồng bào,quyết xô ngã chuyên chế, ủng hộ tự do.
*-*Nếu Khải Định có đủ thiên lương,chút biết hối ngộ thì hãy quay về,tự thoái vị, đem chính quyền dâng trả cho quốc dân.Đó là cách tốt nhất,dân có thể dung thứ cho.
*-*Nếu Khải Định cố bấu víu quân quyền chuyên chế, cụ sẽ phải cùng 20 triệu đồng bào quyết liệt tuyên chiến với Khải Định, “Nguyện để cho cái đầu của TRINH cùng với cái quân quyền chuyên chế dã man của Bệ hạ đồng thời rơi xuống đất”
Phần bị chú:.
Ở phần bị chú,
-Thư được viết bằng Hán văn để gởi cho Khải Định,cụ nhờ người dịch ra Pháp văn để đăng báo và rải truyền đơn để rộng đường dư luận.
- Giữa cụ Phan châu Trinh và Khải Định đã đoạn tuyệt quan hệ nên nói “gởi” không nói “dâng” Hai chữ “Bệ hạ” được dùng để xưng hô cho tiện,chứ không phải là tôn kính.
- Cụ không kiêng tên húy,viết thẳng ra,là để tỏ ý phản đối.

Tóm lại: “thư thất điều” của Phan châu Trinh,là một cái thư có một không hai,đã mạnh mẽ,quyết liệt đã kích vua Khải Định,đả kích chế độ quân chủ chuyên chế lỗi thời,thủ phạm gây nên thảm họa đất nước, làm cho đất nước lạc hậu,nhân dân nghèo đói,khốn khó,tủi nhục.
Qua “thư thất điều” người đọc thấy rõ tư tưởng cách mạnh tiên tiến,đúng đắn,những tình cảm cao đẹp,nồng thắm của cụ Phan châu Trinh. Đó là tư tưởng cách mạng dân chủ,dân quyền.Đó là lòng yêu Nước,thương dân sôi nỗi,thiết tha. Đó là nổi căm ghét tột cùng tất cả những gì có hại cho Nước và Dân.
Sau hết, “Thư thất Điều” còn cho người đọc thấy được dũng khí cách mạng, tinh thần kiên cường,bất khuất của Phan châu Trinh,đúng như Phan bội Châu đã ca ngợi: “Gan to tày bể / sức xông pha nào kể ức muôn người /… Ba tấc lưỡi mà gươm,mà súng / nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê / Một ngòi lông vừa trống,vừa chiêng / Cửa dân chủ khêu đèn thêm rạng chói”. (Văn tế Phan châu Trinh- Phan bội Châu- Huế, 1926).
( Ghi lại trên mạng xã hội trích từ bài của Phan thành Khương, Ninh Thuận 03/04/2018)
______________________________
CHÍ SĨ HUỲNH THÚC KHÁNG
*Huỳnh thúc Kháng (1876-1947) hiệu là Mính Viên, tự Giới Sanh,người làng Thạnh Bình,huyện Tiên Phước,tỉnh Quảng Nam.Đỗ tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1904) không ra làm quan,ở nhà đọc tân thư,rồi hoạt động trong phong trào Duy Tân.Năm 1908 được bầu làm Viện Trưởng viện dân biểu Trung Kỳ,năm 1928,cụ Huỳnh từ chức vì bất đồng ý kiến với khâm sứ Pasquier.
Từ xa xưa người dân Tiên Phước đã có câu: “Sông Tiên nước chảy ngược dòng / Ai ơi tới đó đừng mong ngày về” hai câu thơ trên đã mô tả Tiên Phước là một vùng đất sơn lam,chướng khí,núi hiểm,rừng thiêng.Nhưng ngược lại,nơi ấy cũng chính là nơi sinh ra và nuôi dưỡng để hình thành nên nhân cách lớn của các bậc anh hùng. Không những cụ Huỳnh thúc Kháng,cụ Phan châu Trinh, mà còn nhiều người đỗ đạt, làm quan rất chính trực như Phó bảng Nguyễn đình Tựu, Tế tửu quốc tử giám,thị giảng học sĩ là một văn thân nổi tiếng thời vua Hàm Nghi.Ông đã che chở cho rất nhiều đảng nhân của Nghĩa hội,nhờ đó mà nhiều người được an toàn khi mà tổ chức Nghĩa hội bị Pháp tấn công.Ông cũng là cậu ruột của cụ Huỳnh,là người có công đầu trong việc giúp đỡ,dạy dỗ mở hướng cho con đường khoa cử của cụ Huỳnh.Ngoài ông Nguyễn đình Tựu, Tiên Phước còn có Phó Bảng Lê vĩnh Khanh (1819-1884) có thể nói đây là một nhân cách lớn,là người mở mối khoa cử cho vùng đất Tiên Phước, đào tạo nên các bậc anh hùng về sau, như cụ Huỳnh thúc Kháng ,cụ Phan Châu Trinh chẳng hạn.
Năm 1904,sau khi cụ Huỳnh từ chối việc ra làm quan,thì cụ Phan châu Trinh và cụ Trần quí Cáp về Tiên Phước tìm gặp cụ Huỳnh,ba nhà ái quốc đã có cuộc bàn luận để tìm đường chấn hưng đất nước và cụ Huỳnh đã ghi lại những lời thảo luận cùng các nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân như sau: “ Tôi cùng các bằng hữu đề xướng chung vốn lập thương cục tại phố ( Faifoo Hội An) cùng lập trường học,hội nông,trồng quế…tùy theo phong khí biến đổi, trong nước nào ăn mặc theo Âu Tây,cúp tóc…tôi cùng các thân sĩ trong huyện lập một thư xã tại nhà túc thất của văn miếu mới (Tại làng Chiên Đàn) mua nhiều sách báo mới,ngày rằm mỗi tháng họp diễn thuyết một lần người đến nghe rất đông,lại cùng đệ tử trong làng mở nhà học, rước thầy về dạy chữ tây và quốc ngữ cho con em…Nhiều làng trong hương thôn có trường quốc ngữ..phong khí đổi khác”.
Trên thực tế cụ Huỳnh thúc Kháng cùng các nhà duy tân ở Quảng nam lúc bấy giờ là những nhà hướng đạo cả về lý thuyết,phương pháp,cơ cấu tổ chức,tuy nhiên,việc thực hành ở từng địa phương phần lớn nhờ vào các yếu nhân tại cơ sở.Tại Tiên Phước cuộc duy tân phát triển rầm rộ,các nông hội,hội buôn,trường học được tổ chức theo lối mới và ra đời mỗi ngày càng nhiều.Điển hình rực rỡ của phong trào tại Tiên Phước đã, ra đời một trường nữ đầu tiên có giáo viên nữ tại làng Phú Lâm, Phước Sơn, mà đã gắn liền với tên tuổi nhà thực hành xuất sắc Lê Cơ.
Ông Lê Cơ là anh em cô cậu với Phan châu Trinh,vốn đã tiếp xúc với “tân thư” nên sớm giác ngộ về tư tưởng duy tân,sớm nhận thức về việc mở mang dân trí và ông đã bắt tay thực hiện,khi trong phương vị của một Lý trưởng của làng Phú Lâm,ông tổ chức việc cải cách như: mở trường dạy chữ quốc ngữ,chữ Pháp, mở thương cuộc,lập nông hội trồng tiêu, quế,chè theo phương pháp mới,lập công hội,lập lò rèn,khuyến khích dân chúng làm tiểu thủ công nghiệp,lập hội bảo hiểm,hội mặc đồ tây,cắt tóc ngắn .v…v.Đặc biệt ra đời trường tân học Phú Lâm,với cách tổ chức,nội dung và phương pháp giáo dục tiên tiến nhất so với cả nước.
Một điều đặc biệt khác nửa là sau mỗi buổi học tại trường Phú Lâm học sinh cả nam,nữ cùng đứng lên ca bài “ NGƯỜI TRONG ĐÔNG Á” của cụ Huỳnh thúc Kháng với 10 điệp khúc:
“Người trong Đông Á rõ ràng / Một giòng,một giống Hồng Bàng là đây / Chúng tôi vui thấy hội nầy/ Mở lời kính chúc quí thầy đôi câu/ Một chúc thương cuộc đặng lâu / Lợi quyền giữ lại của mình hầu sanh / Hai chúc học hành cho giỏi / Theo người hay tìm tòi cho nên / Ba chúc cái lòng cho bền/ Ai ai cũng quyết đứng lên võ đài / Bốn chúc đạo khai chân lý / Dạy con em nghĩa lý cho minh / Bảy chúc thông nước thông nhà / Ta là dân nước,nước là nhà ta / Mười chúc chớ sờn tâm chí / Hiệp bằng nhau mà thử gan chơi / Lẽ hai mươi triệu con người / Đồng lòng dễ có thua người nước mô”.
Cụ Huỳnh chủ trương tờ báo Tiếng Dân,nhưng đến năm 1943 thì bị đình bản.Năm 1946 cụ Huỳnh được mời tham gia vào chính phủ Liên Hiệp kháng chiến và cụ được phân công giữ chức Bộ Trưởng Nội Vụ.Cũng trong năm nầy 1946,.Lúc ông Hồ chí Minh đi dự hội nghị Fontelbleaux tại Pháp,tại Hà Nội ông Võ Nguyên Giáp tước lấy chức vụ nầy từ tay cụ để được đủ uy quyền tổ chức những cuộc khủng bố để tàn sát những thành phần đối lập Quốc Dân Đảng tại Ôn Như Hầu,tại Quảng nam là vụ cầu Chiêm Sơn.,năm 1947 cụ đi kinh lý các tỉnh Miền Trung đến Quảng Nam và rồi vào tỉnh Quảng Ngãi,nhưng rồi cụ qua đời tại quận Nghĩa Hành vào ngày 21/4/1947.Phần mộ cụ được an táng tại núi Thiên Ấn.Người dân Tiên Phước cũng như người dân trong khắp nước họ luôn coi cụ Huỳnh là một tấm gương nhân cách vĩ đại,luôn sống mãi trong lòng mọi người.
Cụ Huỳnh thúc Kháng và những giai thoại: Năm 1905 là năm Ất Tỵ,ông cùng với Phan châu Trinh,Trần quý Cáp,Huỳnh thượng Trung (Tú Tài,học trò của ông Cáp) đồng đi nam du.Khi đến Bình Định,gặp lúc trường đốc thi hạch học trò,ông và ông Cáp làm bài phú “Danh Sơn Lương Ngọc”,còn ông Trinh làm bài thi “Chí thành thông thánh”.Khi đến Bình Thuận ông Mính Viên có làm bài thơ,trong đó có mấy câu: “Thanh khí rán bòn năm bảy kẻ / Văn chương cằn sảy một đôi người / Ai về đất Quảng ta xin nhắn /Bình Thuận xứ nầy mới trải qua”.
Nguyên văn bài phú Danh Sơn lương ngọc:
Quân bất kiến ngô đồng bào chi Á tế,Á Châu anh hùng độc lập,chí sĩ đồng cừu, dĩ thời cuộc biến,vi nhân loại ưu.Xiêm tự cường ư Nam kiểu,Hàn tự lập ư Đông Châu. Nam hải tiên sinh cổ phong trào ư Trung Quốc, Ca sơn liệt sĩ,trường thống khốc ư Nhựt đô.
Nhân dai tri sĩ,ngã dộc vọng cô. Khởi yến đường chi khả lạc,tương lộc mộng hề hà cầu.
Ngã Việt lập quốc xử Đông A chi nhứt phương,hạ chí Trần Lý,thượng cổ Hồng Bàng, nhân tâm thuần phát,sĩ khí quật cường.
Trục Tô Định ư Lãnh Biểu cầm Mã Nhi ư Phú Lương.
Kỳ chỉ nhi Chiêm Thành thất hiểm,qua huy nhi Chân Lạp phân cương.
Tráng tai ngô quốc,khởi nhượng nhân trường.
Tự nhứt thời chi thất sách,toại vận cổ chi di ương.Tục thượng văn chương,sĩ xu khoa mục.
Tiểu cổ bát cổ chung nhựt ngư ngư,ngũ ngôn,thất ngôn,cùng niên lộc lộc,văn sách ngưỡng trường quan chi tỷ tức. Chích khả thi nhi Nghiêu khả phi, từ phú thập bắc nhân chi thóa dư,ngẫu phi tứ nhi biền phi lục.
Nhiễu nhiễu lợi danh chi bối,tần thị quát kim, liêu liêu hào kiệt chi tài,sở đình hiến ngọc,cái bất vị bảo thân gia,từ sũng lộc dĩ gia,vi đương đồ chi trục trục nhi thả xu sổ thiên trừng hắc âm chi địa ngục,dĩ nhược sở vi cầu nhược sở dục,binh hà dĩ cường,tài hà dĩ túc,dân tri hà dĩ khai,nhân tài hà dĩ dục.
Ta hô! Lưu liên chui kim nhựt chi sĩ nhục dã.Sự thế chí tư,nhân tình uất uất.Công ích,công sưu,kim nhựt minh nhựt.Thản bì cốt chi vô tồn, sách cao chi chi dĩ tất. Dân ký thôn thanh,quan diệt khuất tất?
Triệu tứ chi quan,mộ đoạt kỳ phất,ngã tắc sự chi như thần,bĩ tắc thị nhược vô vật. Hối thâm tề phệ,ta bIến kế chi dĩ trì! Thế cấp nhiên lụy,khởi du an chi khả tấc!
Vi nghi: Thống tâm tậc thủ,tương nghĩa quyên sanh,hạ nhi sĩ tử, thượng chí công khanh,quan trứ ô my,sĩ khử phù danh,đầu bút nhi khỉ,quại quan nhi hành,tàm suyền khả diên,tương phá phủ tầm châu chi hữu nhựt,du sanh hà lạc,tung đô can toái cốt nhi do vinh.
Nải chi hà! Ưu du tốt tuế,thông dương bất quan, nãi mai đầu ư thốc bút tàn đen chi hạ, thác thần ư túy sanh mông tử chi giam! Yêm yêm như nữ tử phu nhân, thị nhơn thóa mạ lục lục tợ nha môn,tẩu tốt,hậu ngã dung nhan!
Ta ta! Phàm hữu huyết khí,nhi vô tâm can,tàm phụ thiên dịa,ưởn phụ nhân hoàn,dĩ giả nhiệt tâm thế cuộc, cảo mục thời gian,phủ tư thế nhi hữu cảm, kinh biến cố chi như hoàng.
Sở thủy thương mang không sái Trường Giang chi lệ! Thu phong phiêu lạc,cửu huyền thần võ chi quan. Vong yến tử ư Thần sơn,phiền phàm khả độ,tống kinh khanh ư Dịch thủy,nhứt khứ bất hoàn! Trường ca đương khốc,bút hạ san san,hựu hà tất chí thành thông thánh,lương ngọc danh sơn giả tai!
Bản Dịch:
Kìa Châu Á trong vòng hoàn hải, / Khí đồng bào vật đổi mây tuôn ? / Ngắm xem một cõi dinh hoàn / Đều trông thấy kẻ lo buồn xiết bao! / Việc thế sự xôn xao sóng bể / Mắt anh hùng rầu rĩ non sông ! / Nói ra ai chẳng thẹn thùng! / Sao ta cứ một cái lòng thế thôi ? / Sực thấy chữ tương lai mà sợ / Còn mơ màng giấc ngủ như không / Ai ơi đứng dậy mà trông / Nước ta một góc Á Đông kém gì? / Trên Hồng Lạc, dưới thì Trần, Lý / Kể nhân tâm sĩ khí ai bằng! / Kìa xem Lãnh Biểu xưa kia / Mã Nhi thuở nọ còn bia rành rành / Một trận đánh Chiêm Thành đã khiếp / Mấy nhiêu năm Chân Lạp mở cương / Nước ta xưa vẫn phú cường / Những điều hay lạ có nhường chi ai / Bởi vì thuở những người thất sách / Đến thế nầy còn trách ai đâu / Ngũ ngôn,bát cổ đôi câu / Đường khoa mục bắc làm cầu cùng noi / Giữ một lối nghe hơi văn sách / Bia đời Đường,Nghiêu chích khen chê / Lời văn đặc gọng Tàu bè / Vài câu tứ lục cũng nghề từ chương! / Chí lấm lét thấy vàng giữa chợ / Rủ nhau ra cướp của ăn không / Một đời mấy mặt anh hùng / Ngọc dâng vua Sở ai dùng làm chi? / Ôi những kẻ tham vì tài lộc / Còn nghĩ gì đến cái thanh danh! / Lại so một lũ thư sinh / Trói vào một cái hư danh lẽ nào! / Nghĩ như thế cớ sao như thế? / Còn mong gì mọi vẻ mọi hay / Đớn đau thay, nỗi nước nầy! / Bởi ai gây dựng đến rày tại ai / Đều trông thấy đắng cay khôn xiết / Lại một ngày một xiết ruột da / Tính ra sưu thuế dân nhà / Thôi đà hết sạch,rồi ra còn gì? / Coi như thể trăm bề chịu khuất / Lại lọc lừa cất đặt trăm quan / Mình thì lạy lạy van van / Nó coi như thể một đàn nô nuôi / Cớ sự thế, dại rồi đã vậy / Tai họa nầy khôn chạy cho mau / Nào ai nghĩ thảm lo sầu / Thì theo lối nghĩa, chớ cầu đường danh / Lại thốt những thơ sinh quan lại / Rủ nhau ra theo mái nhung hiên / Hơi còn mạnh sức còn bền / May ra đập phủ chìm thuyền có khi / Sống vô ích sướng gì cái sống / Chết nên công,chết cũng nên đời / Cớ sao ngày tháng dông dài / Cầm như cái chuyện ở ngoài không nghe / Lại vẫn giữ lấy nghề hủ liệt / Đành say mê sống chết với thân / Khác nào như kẻ phụ nhân / Đã cam sỉ nhục muôn phần thế thôi / Lại chẳng khác chi nghề lính lệ / Cứ bôn xu như thể tôi đòi / Than ơi,cũng một giống người / Ruột gan máu mủ cũng nòi giống ta! / Nghĩ trời đất sinh ra mà tủi / Cho một mình thẹn với non sông / Tôi nay thề quyết một lòng / Thề rằng việc ấy cho xong mới rồi / Việc nhân thế thử coi mà gẫm / Vẫn tan thương một ưởng xanh xanh / Trời Nam bể Bắc mông mênh / Cái thân chích địa nghĩ mình xót xa / Nhìn thu lạnh sương sa lác đác / Cửa thần môn lui bước bước xa /Ngất trời một dải xa xa / Thuyền tiên trông đã vượt ra non thần / Đến Dịch Thủy chần ngần đứng nghỉ / Tiễn đưa người giọt lệ chứa chan / Một lời như khóc như than! / Thôi còn lương ngọc,danh san làm gì?
Và Bài thi chí thành thông thánh do cụ Phan Châu Trinh phụ trách viết trong chuyến đi nầy :
Bài thi chí thành thông thánh:
Thế sự hồi đầu tổng nhất không
Giang sơn vô lệ khấp anh hùng
Vạn dân nô lệ cường quyền hạ
Bát cổ văn chương túy một trung
Trường thử bách niên cam thóa mạ
Bất tri hà nhựt xuất lao lung
Chư quân vị tấc vô tâm huyết
Hảo bả tư văn khán nhứt thông
Dịch:
Giang sơn ngó lại chẳng còn chi
Nước mắt anh hùng khóc hết đi
Nô lệ muôn dân đà thảm nhỉ!
Văn chương tám vế nỏ ra gì!
Trăm năm luống chịu bề đay nghiến
Mấy thuở chuồn ra khỏi phạm vi
Tâm huyết các người chưa mất hẳn
Hãy nên ngẫm nghĩ thể văn ni
Kế đó khi vô đến Bình Thuận ông Tây Hồ bị đau,nên các ông đều phải trở về nhà.
Năm 1908 ngày 21/3 tại Quảng Nam có cuộc biểu tình lớn mục đích xin xâu,kháng thuế,nhà đương cuộc đổ lỗi cho các ông gây nên.Một hôm có viên đồn trưởng Pháp và mười người lính tập khố xanh cùng với một viên thông ngôn đến nhà ông,và nói rằng: có điện tín của viên quan công sứ Hội An mời ông.Ông liền khăn gói lên đường theo họ về tỉnh,họ đưa ông vào nhốt tại nhà lao Hội An.
Ở tại lao xá Hội An,nghe tin Trần quý Cáp chết oan ở Nha Trang,ông hết sức cảm động,có làm bài thơ truy điệu người đồng chí như sau:
“ Thơ kiếm tiên nhiên độc xuất môn / Nhứt quan thất lạc vi thân tồn / Trực tương tân học khai vô lũy / Thùy tín dân quyền chủng họa côn / Bồng đảo xuân phong huyền viễn mộng / Nha Trang thu thảo khóc anh hồn / Khả liên nhứt biệt thành thiên cổ / Đà nẵng phân khâm tửu thượng ôn”.
Dịch: “ Gươm sách xăm xăm tách dặm miền / Làm quan vì mẹ,há vì tiền? / Quyết đem học mới thay nô kiếp / Đâu biết quyền dân nảy họa nguyên / Bồng đảo gió chưa đưa giấc mộng / Nha Trang cỏ đã khóc hồn thiêng! / Chia tay chén rượu còn đang nóng / Đà nẵng đưa nhau lúc xuống tuyền / ( Mính Viên).
Tại Hội An ông bị giam một lúc với các đồng chí,sau khi thẩm vấn xong,tỉnh kết án ông trảm giam hậu đày đi Côn Lôn,ông và các đồng chí ra đảo ngày 15 tháng 8 năm 1908. Ông có ngâm bài thơ:
“ Vô quốc hà năng tội / Ngu dân khởi hữu quyền / Hiệp thương thành họa trọng / Giảng học bị can liên /Bình Định danh sơn phú / Cam Ranh ngoại quốc thuyền / Viên thơ như phát bố / Đương tác hữu biên niên”./
Dịch : Không nước sao rằng tội / Dân ngu há có quyền / Hiệp thương gây mối loạn / Dạy học cũng can liên / Bình Định cùng làm phú / Cam Ranh muốn vượt thuyền / Án văn như phát bố / Truyện tớ có đời truyền /.
Trước khi bị đày đi Côn Lôn,ông có lời tử biệt anh em,đồng chí ở trong lao một bài thơ**:**
Trăng trên trời có khi tròn,khi khuyết / Người ở đời sao khỏi tiết gian nan / Đấng trượng phu tùy ngộ nhi an / Tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn / Tiền lộ đình tri thiên hữu nhãn / Thâm tiêu do hướng mộng hoàn gia / Mấy nhiêu năm vẫn cũng chưa già / Nọ núi Ấn,nầy sông Trà / Non sông ấy còn chờ ta thêu dệt / Kìa tụ tán, chẳng qua là tiễn biệt / Ngựa Tái ông họa phước biết về đâu ? / Một mai con tạo khéo cơ cầu / Thảy bốn bể cùng trong bầu trời đất cả / Ư bách niên trung tu hữu ngã / Dẫu đến lúc núi sụp,biển lồi,trời nghiêng,đất ngã / Tấm lòng vàng tạc đá vẫn chưa mòn / Trăng kia khuyết đó lại tròn./
Khi ở trong tù,ăn cơm hẩm với mắm,mỗi nhóm bảy người, ông có cảm tác mấy vần thơ:
Khô ngư hàm ư diêm / Thô phạn hắc như thiết / Thất nhân cong nhứt bàn / Trịch địa tứ thao thiết.
Dịch: Cá khô mặn như muối / Cơm lức đen như sắt / Bảy người cùng một mâm / Ngồi lếch cứ xực gắt! /.
Lại khi ở Côn Lôn,ông có gởi về cho vợ,con hai bài thơ:
Thơ gởi vợ :
Rủi ro khéo gặp chồng khùng / Nhọc nhằn nhiều nỗi,cam lòng đắng cay! / Trong nhà khách khứa liền ngày / Bao nhiêu tiền bạc một tay tiêu xài / Phong hầu ra việc nói chơi / Đá trông chồng nọ một đời đã cam! / Sầu riêng thử hỏi trăng rằm / Mây mưa ghen ghét mấy năm lại tròn./
Và thơ gởi con:
Vội vàng cất bước ra đi / Đứa vừa sáu tuổi,đứa thì mới sinh / Nhớ cha trông ngất trời xanh /Dạy nuôi nhờ có mẹ lành gắng công / Bằng nay quốc ngữ học thông / Tiếng nhà may nổi tiêu đồng khúc xưa / Chưa trai thì gái cũng vừa / Chị em Trưng nữ tiếng nhà còn thơm! /.
Lúc được ân xá về nhà cảm tác:
-Hà sơn tân khí bán tiêu trầm/ Lãnh hoãn nhân tình phán tích câm / Cựu sự thê lương đàm bất tận / Thê nhi hoàn tọa ngủ canh thâm ./
Dịch: Non sông khí mới khéo chìm ngầm / Ấm lạnh nhân tình khác mấy dằm / Chuyện cũ lạnh lùng không nói hết / Vợ con ngồi kể suốt canh năm./
Năm 1926 bạn bè đề nghị ông ra ứng cử dân biểu Trung Kỳ khóa đầu tiên,ông nể lời ra ứng cử, và rồi trúng cử và rồi đắc cử luôn chức Viện trưởng dân biểu**.** Và cũng từ đây ông bước vào con đường tham gia chính trị,như đã nêu rõ nơi phần đầu.
__________________________
ÔNG XÃ SÁU, LÊ - CƠ.
Ông Lê Cơ tức là Xã Sáu người làng Phú Lâm (Phước Sơn) huyện Tiên Phước,tỉnh Quảng Nam.Ông sinh năm 1859,ông có quan hệ bà con là anh em con nhà cô-cậu ruột với ông Phan Châu Trinh.
Theo như lời thuật của cụ Huỳnh thúc Kháng,ông Lê Cơ cũng là một chí sĩ đởm lược,khí phách không kém gì Phan châu Trinh.Tuy nhiên ông vẫn ẩn mình sau lũy tre xanh,không thi cử,không làm quan,nhưng ông lại có chí luôn muốn cải thiện xã hội,bắt đầu từ thôn xóm.
Trong báo tiếng Dân số 515,Ra ngày 17 tháng 8 năm 1932,có thuật chuyện về ông Lê Cơ như sau:
Nói chuyện xã Cơ,tức là phải biết qua thời thế làng Phú Lâm,làng ấy trước có tiếng là giàu. Là một làng ngoại thích của một quan lớn.Hào cường chiếm, chiếm cả quyền làng.
Lúc bấy giờ không ai muốn làm lý trưởng,thuế thu không đủ, thường phải bội thu cho bọn hào cường,còn xâu thì các chân tay của các nhà ấy,cũng không được bắt,chỉ bắt mấy tên dân cùng.
Lê Cơ là một học trò thi vào trường ba,vẫn bất mãn với cái tệ ấy. Lúc chưa làm lý trưởng đã có đôi phen kiện với bọn cường hào kia đến tỉnh, đến tòa kỳ cho thấu lý mới thôi.
Năm 1903 có phái quan phủ về làng đặt lý trưởng,không ai muốn ra làm cả,nghe nói Lê Cơ học trường ba,quan đòi ra, bảo làm lý trưởng. Đầu tiên ông từ chối,sau bị ép mãi,ông ta mới nghĩ rằng: Người xưa có nói: Dầu không làm cho thiên hạ,cũng thí nghiệm trong một làng ( Tuy bất niên hành chi thiên hạ,do khả nghiệm chi nhứt hương). Ông Lê Cơ mới bèn lãnh triện làng.
Nhận chức lý trưởng rồi, ông ta phát nguyện,quyết tâm,làm cách nào trừ cho được cái tệ hào cường nhũng lạm và hiếp dân. Mà muốn trừ cái tệ ấy,phải làm thế nào cho phần đông dân làng tin phục trước đã.
Lúc ấy ông Lê Cơ bắt đầu cải cách từ việc thu thuế cho đến việc tế tự, canh phòng,trăm điều chấn chỉnh bọn cường hào kia không thể thực thi thủ đoạn ích kỷ như trước đó nữa.,ngược lại dân trong làng đều khâm phục cả.
Lúc bấy giờ vào các năm 1905- 1906,nhà nước có lệnh lập xã học dạy quốc ngữ, chữ Tây,trong tỉnh lại có phong trào cổ động công thương các nghề, là anh em con nhà cô cậu với Phan Châu Trinh,nên ông biết việc cải cách là rất cần.
Ông Lý Trưởng Lê Cơ,bắt đầu công việc nầy trong làng,ông cho lập trường học,rước thầy về dạy chữ quốc ngữ,khi công việc thành hình,ông liền cho lập thêm một trường cho nữ giới nữa (Ở Quảng Nam về mấy phủ huyện trong tỉnh, thì Phú Lâm là nơi có trường nữ đầu tiên). Về cải tiến sản xuất nông, lâm nghiệp, ông cho mọi người trong từng xóm,kết hợp lại với nhau thành một nhóm nhỏ để mở vườn trồng quế,rồi lập cuộc buôn để giúp người dân trong làng có nơi mua bán các thứ cần thiết trong đời sống hằng ngày,dựng lò rèn để rèn đồ nông khí,lập cuộc canh phòng để giữ an ninh,và đề phòng việc trộm cướp.
Phú Lâm là một cái làng rừng che,núi cách,giao thông thật rất là trở ngại,thuở nay tịch mịch quê mùa,bổng trở thành một nơi được khai thông vui vẻ,không những dân làng,mà dân các làng lân cận đều tín phục,nhất là những khách du xa có nếm mùi Âu hóa,lúc đi vào Quảng Nam, nghe nói tức cũng gắng lên Phú Lâm đặng xem công việc sắp đặt của ông Lý Trưởng Lê Cơ.
Hoàn cảnh nơi một làng ở vùng núi thật là khó khăn,nhưng khi làm được thì lại đẻ ra những phái ghen ghét. Đó là theo thói đời,cái gì quen thì cho là thường,cái gì mới lạ thì lấy làm quái lạ,tự nhiên không những không muốn,mà sinh lòng ghen ghét, cái ấy cũng là chuyện thường tình được gọi là thế thái nhân tình của người đời.
Công việc mà xã Cơ làm,nếu như ngày nay thì không có gì lấy làm lạ,nhưng lúc bấy giờ trên cả nước cũng chưa ai làm,chỉ mỗi một mình ông xuất ý mà làm như vậy,nên người ta ghen ghét cũng không phải là ít. Từ sự ghen ghét ấy đã tạo nên một bè đảng thù nghịch,khiến cho ông Lý trưởng phải lo bề đối phó, tạo nên một đoạn lịch sử khá bí ẩn mà trong đó đã tạo ra nhiều điều hay:
Đương vụ thuế,chánh tổng của cả 4 tổng lại mở cuộc hát bội mời các xã, ông Lê Cơ làm làng nên phải dưới quyền chánh tổng kia.Ông họp dân làng mà nói:
“Thầy Tổng thết tiệc thu tiền,chúng ta không nên đi tiền”; Nhưng không có ai nghe,vì sợ ngày sau bị khó dễ với thầy tổng. Ông Lý trưởng liền mua vải điều viết một câu đối mừng:
Tổng tắc thuế vị thanh,sưu vị liễu,lợi vị hưng,hại vị trữ,hà sở lạc!
Xã tắc lão bất an,ấu bất học, nam bất canh,nữ bất chức,yên dụng ca!
Dịch:
Tổng thời thuế chưa xong,sưu chưa hết, lợi chưa hưng,hại chưa trừ, vui gì vậy?
Xã thì già chẳng an,trẻ chẳng học,trai chẳng cày,gái chẳng dệt, hát làm chi? .
Giữa tiệc hát đông người,đem câu đối ra treo lên,người ta đàm đạo xôn xao,thầy tổng tức mình xếp cất mất,song người ta truyền tụng,nên cho đến nay còn rất nhiều người nhớ câu đối ấy.
Chuyện ấy là một mối cho bọn tổng lý ghét,lấy đó mà sinh chuyện luôn,nhưng cũng không làm chi ông ta được.
Ông xã Cơ lập cuộc buôn bán nho nhỏ ví như mua giấy bút về bán lại cho học trò,bên cạnh đó là mắm muối bán cho dân trong làng cho tiện việc chợ búa, nó là một cái quán trong nhà quê, có gì lạ và to tác lắm đâu,mà đầu tiên cũng phải xin “bằng” nơi quan phủ,quan phê cho làm đâu được một đôi tháng,thì lại có người mách nói thế nào đó,quan phủ đòi thu bằng cho phép ấy lại.
Ông Lý trưởng nhất định không trả,bắt lên,bắt xuống,sau quan tức nọc ông ra đánh,ông ta nói:
“Quan làm cha mẹ trong một phủ,như nói việc dân làm quấy thì không cho phép,đã cho phép tức nhận là việc phải,vả buôn bán là việc sanh nhai,tôi đã cùng anh em xuất tiền lập tiệm mua hàng về bán,nếu quan thu giấy phép thì ai bù khoảng phí ấy cho chúng tôi,thưa thiệt cùng quan,quan có đánh chết tôi cũng chịu,chứ muốn thu bằng lại,xin quan bẩm ra tòa”.
Quan phủ giận bẩm ra tòa sứ,quan sứ Hội An đòi ông ra hỏi hết công việc đầu đuôi,rồi cho về,bảo cứ việc dạy dân làm ăn và lại quở quan phủ nữa.
Ông Lý trưởng về nhà được yên lặng ít lâu,nào nhóm hạch học trò đến đôi ba năm,nào vườn quế,nào lò rèn cũng có thành hiệu cả ( Lò rèn tại đây có tạo ra một thứ ghế xếp làm bằng mấy cây sắt và mấy miếng gỗ nhẹ rất đơn giản).
Làng Phú Lâm là một làng thuộc vùng núi,bốn bề là rừng bao bọc,từ xã Bình Phú đi vào,phải qua một cái truông gọi là Eo gió còn gọi là ( đèo rập cu) thế đấy. Địa thế khá hiểm trở,nên thường bị nạn trộm,nhất là nạn trộm quế. Ông xã Cơ cho lập ra hội bảo hiểm,nhà khá dã thì cấp lúa cho dân tuần,các ngã đường đều có lập điếm canh,trong có đặt cái cùm,đầu đường có dựng một tấm thẻ bằng gỗ,liệt các qui điều răn cấm như: “ Bảy (7) giờ tối ai đi vào làng thì phải có đèn đuốc,người lạ mặt phải có người quen nhận mới được ở đêm,hể dân canh nghe ở đâu la lửa,trộm, động rừng phải tới,không được trễ,ai không tuân,bị phạt.
Dân làng chung quanh quen thói cũ,đêm đến, đến làng Phú Lâm thăm viếng,không có đèn đuốc,dân canh cứ bắt cùm tại điếm,sáng ngày mới cho đi.
Nhân đó sinh ghét,có người tới mách với quan Phủ mà nói rằng,xã Cơ làm gì mà cắm cờ thẻ bốn phía đầu làng,cấm không cho ai vào. Quan phủ cho Đề lại đến bắt nhổ cái thẻ ấy đem vô xem,Đề lại đến, dân canh không cho nhổ,viện lẽ phải có lệnh ông xã mới được nhổ,công việc lòng nhòng mãi.Đề lại đưa trác quan cho ông ta xem. Ông ta nói: “ Tôi vì chức phận đề phòng trộm cướp trong làng,nên dùng mấy cái thẻ yết thị mấy điều cho người ta biết,nay quan muốn lấy,tôi xin vâng lệnh,nhưng thầy phải biên nhận,và phải biên y như lời đã yết trong thẻ,ký tên vào để tôi cầm phòng có ai viết bậy vào mà vu tội cho tôi chăng”.
Đề lại nhận lời và cho dân vác thẻ về nạp quan phủ,nhưng chuyện ấy minh bạch,quan tuy ghét,mà không bắt lẽ gì được.Nhưng ở đời có lắm cái gay,người ngay thì luôn bị vạ.
Quan phủ rất ghét xã Cơ,nên cố tình tạo ra những câu chuyện lôi thôi,phỏng không có hoàn cảnh bề ngoài lay động,thì công việc cải lương của Lê Cơ trong làng Phú Lâm,làm cái gương tốt cho các nơi khác không ít. Nhưng theo thói thông thường của người đời,ai cũng ưa kẻ nịnh,mà không thích sự lạ,bởi xã Cơ tánh ngay thẳng,mà công việc của ông làm lại có khác với người thường.Bởi vậy mà mắt nhiều người lại chấu vào, do cái lòng ghen ghét ấy,vì thế nhân có câu chuyện nhân dịp trong tỉnh có câu chuyện xin xâu (1908), dân chúng có chiều chộn rộn,thành ra ông là miếng mồi ngon cho những lời vu cáo, mỗi ngày lại lọt vào tai quan trên.
Ông Lê Cơ bị bắt giam,từ đó công việc từ trường học,công việc công,thương đều phải xếp lại (Làng Phú Lâm vào lúc này lại có quan binh về đóng đồn).Thế là công việc cải lương của ông Lý trưởng Lê Cơ phải xếp lại.Và ông bị kết án đày ra Lao Bảo,và rồi ông mất tại đây.
Một người hương chức có kiến thức,có đảm lược,có lòng tận tụy vì đời sống người dân tại làng xã như ông Lý xã Cơ thật là hiếm,nó ứng với câu cách ngôn:
Tướng của ba quân có thể bắt được / Chí của người thất phu không thể đoạt được.
Và nó cũng lại ứng với câu ca dao:
Thế gian sanh tử sự thường / Sống mà sống đục chẳng bường thác trong./.
__________________________
NHÂN-SĨ NGUYỄN THUẬT
*Ông Nguyễn Thuật: Lúc nhỏ có tên là Nguyễn công Nghệ,sau đổi thành Nguyễn Thuật, tự là Hiếu Sinh,hiệu là Hà Đình,sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Dần (1842) tại làng Hà Lam,huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình,Trấn Quảng Nam. Nay là làng Hà Lam,xã Bình Nguyên,huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng nam.Lúc đương thời ông rất được dân chúng cùng sĩ phu kính trọng mà gọi ông với cái tên thân thương là “cụ Thượng Hà Đình”
Ông là một đại quan cũng là một danh sĩ vào triều Nguyễn, đã trở thành một nhân vật lịch sử của đất nước Việt,và là một danh nhân bởi các trước tác rất nổi tiếng góp phần vào nền văn học nước nhà, song hành cùng những tác giả khác của Quảng Nam.Các trước tác của ông đã làm rạng danh cho cái danh hiệu “Hà Đình Nguyễn Thuật”.
Ông Nguyễn Thuật là một Đại quan trong suốt triều đình nhà Nguyễn,đã từng giữ cả sáu bộ với chức Thượng Thư trải qua tám đời vua nhà Nguyễn từ : Tự Đức,Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc,Hàm Nghi,Đồng Khánh,Thành Thái và Duy Tân.
Tuy giữ chức Thượng Thư là người đứng đầu triều,nhưng gia cảnh ngài Thượng thư,trông rất bình dị,chỉ là ba gian nhà được lợp bằng loại ngói đất âm dương, gian nhà lớn,gọi là nhà trên được xây mặt ra bờ hồ chín khúc,tức cái bàu nước chảy qua làng Hà Lam phát xuất từ sông Rù Rì (Ly Ly) nằm trên đoạn sông thuộc xã BÌnh Quý.Đoạn bàu chảy qua nơi bờ vườn và ngõ nhà cụ Thượng không biết được tính là đoạn thứ mấy trong chín khúc, nhưng mặt nhà của cụ Thượng có thể xây về hướng Đông Bắc tức Đông Bắc,Tây Nam và được xây cất trên một khoảnh đất nhô ra thành như một mô tạo nên một khúc quanh của bàu nước,khu vườn nằm về hướng Tây-Nam so với cây cầu Hà Kiều,và cách cây câu Hà Kiều khoảng chừng 100 mét đường chim bay.Nay đã bị sang bằng,nhưng rất dễ nhận dạng (nếu biết), vì khu vườn nằm đối diện với cây sợp bên kia bờ bàu,cây sợp nằm bên trên nhà ông Dần (cũ) cùng với con đường đi vào chợ Hà Lam cũng (cũ) mà mép bên trên con đường đi là khu vườn ở của nhà bà Thọ,khu vườn nầy vẫn rộng mà đối diện với khu vườn cụ Thượng.

(di ảnh cụ Hà Đình Nguyễn Thuật)
Công nghiệp của cụ Hà Đình Nguyễn Thuật:
Những câu chuyện truyền khẩu trong dân gian tại địa phương về thân thế của cụ Thượng thì quá nhiều,nhưng không đối chứng được,chỉ biết chắc cụ sinh ra trong một gia đình nông dân bình thường tại làng Hà Lam,vì vậy lúc nhỏ cụ Thượng chỉ học ở nhà,nhờ bản chất thông minh.Sau đó thì học tại trường Huấn Thăng Bình, vì trường Huấn Thăng Bình,rất gần nhà cha mẹ cụ,chỉ cách một bàu nước.
Tuy nhà nghèo,nhưng với bản chất thông minh và hiếu học, nên anh em nhà cụ Thượng đều đỗ cử nhân cả, cả người anh trai là Nguyễn Tạo,cũng như người em trai là Nguyễn Duật.Riêng cụ Thượng đỗ Phó Bảng vào năm Tự Đức thứ 21 (1868),ban đầu cụ được bổ dụng vào Ban tu sung Hàn Lâm Viện nội các,rồi thăng dần lên làm giáo đạo trường Dưỡng thiện,dạy các Hoàng tử.
Và từ đó được thăng dần đến hàm Tham Tá Thị Lang tại Bộ Hộ,và được Triều Đình chỉ định làm chánh sứ sang Tàu. Khi về nước được thăng lên chức Tham Tri, vào năm Tự Đức thứ 34 (1881).
Cũng trong năm 1881 nầy Tự Đức thứ 36 ông được cử làm Phó sứ cùng Chánh sứ Phạm thận Duật sang Thiên Tân để bàn về việc Hội Thương,nhưng không thành công. Lúc trở về nước thì vua Tự Đức đã băng Hà.Ông được vua Kiến Phúc bổ làm Tuần Vũ Thanh Hóa (1884) và được cử làm Chánh chủ khảo kỳ thi Hội năm nầy.
Tháng 5 năm Ất Dậu ( tức tháng 7 năm 1885) quân Pháp chiếm kinh thành Huế.Vua Hàm Nghi phải xuất bôn ra Quảng Trị ban dụ Cần Vương.Ông Thượng xin nghỉ để về hưu, nhưng không được vua Đồng Khánh chấp thuận,Sau đó ông được sung chức Tả Trực Tuyên Úy, rồi giữ chức Thượng Thư Bộ Hộ,Thượng Thư Bộ Lại,Hiệp Biện Đại Học sĩ,gia hàm Thái tử Thiếu Bảo.
Năm 1887 Đồng Khánh thứ hai,ông được cử làm Tổng Đốc tỉnh Thanh Hóa.và được cử làm Chánh chủ Khỏa kỳ thi Hội năm nầy.
Năm Thành Thái thứ 5 (1893) Ông được triệu về kinh nhận hàm Hiệp Tá Đại Học sĩ,tước An trưởng tử.Lãnh chức Thượng thư bộ binh,sung Cơ Mật Viện Đại thần.Năm Thành Thái thứ 8 (1896) Trong cương vị Tổng Tài Quốc sử Quán, ông Thượng Hà Đình nhận lệnh hiệp cùng ông Trương quang Đản soạn cuốn sử Quán thư Mục. Năm Thành Thái thứ 13 (1901) bất hòa với Hoàng cao Khải và chống đối với Nguyễn Thân vì đã chém chết mười mấy người thuộc hạ của Phan Đình Phùng,nên ông xin về hưu.Về quê ông mở trường dạy học, được người địa phương kính trọng mà gọi ông là “Cụ Thượng Hà Đình”.
Khi Nguyễn Thân được Triều Đình Huế cùng chính quyền bảo hộ Pháp chấp thuận cho về hưu, Hoàng Cao Khải được đổi ra Bắc Kỳ.Vua Thành Thái liền ban chỉ triệu hồi ông cùng với cựu Thượng Thư Hồ Lệ trở lại về triều. Sang đời vua Duy Tân,ông lại xin về hưu,về quê ông lại tiếp tục dạy học,cho đến khi qua đời ngày 25 tháng 11( ÂL) năm Tân Hợi, (nhằm ngày 13 tháng 1 năm 1912).Hưởng thọ 70 tuổi.
Ông Nguyễn Thuật “Thượng Hà Đình” đã làm quan dưới triều Nguyễn qua các đời vua : Tự Đức,Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái …,và cuối cùng là triều vua Duy Tân.
Tại địa Phương cụ Thượng Hà Đình được mọi người biết đến qua Các chức hàm quan trường của cụ,còn về văn nghiệp thì hầu như không được biết đến nhiều như các vị cùng thời : Nguyễn Khuyến,Trần Tế Xương, Cao bá Quát,Nguyễn công Trứ,Bà Huyện Thanh Quan . v…v.
Mới đây các nhà nghiên cứu mới tra cứu mà tìm được các tác phẩm của cụ Thượng để lại cho hậu thế, do vậy mà lớp người thuộc các thế hệ trước năm 1975,thì không biết nhiều về thơ văn của cụ Thượng Hà Đình.
Một số tác phẩm của cụ Thượng viết bằng chữ Hán gồm có:
. Hà Đình ứng chế thi sao; gồm thơ họa lại thơ vua Tự Đức,hoặc làm theo đề do nhà vua ra.Ngoài ra còn có thơ họa,đáp với Bạn bè;vịnh sử,vịnh vật.
.Hà Đình văn tập: gồm 244 câu đối.
. Hà Đình văn sao: gồm các bài biểu,luận,tư,bi,trướng
. Mỗi hoài ngâm thảo: Quyển chi nhất (quyển I) gồm khoảng 185 bài thơ được làm từ năm 1881,là lúc ông nhận mệnh đi sứ Tàu.
. Mỗi hoài ngâm thảo: quyển chi nhị (quyển II) gồm khoảng 118 bài thơ.
. Vãng sứ Thiên Tân nhật ký: ghi lại cuộc hành trình sang Thiên Tân 1883.
. Trung triều định lệ: Viết về các định chế Trung Quốc và Triều Tiên (phụ).
. Khóa thư trích lục☹ Bản chép tay chưa in) gồm một số câu đối và các tạp bút về văn chương,nghệ thuật.
. Hà Đình ứng chế thi sao: gồm 36 bài thơ đáp, học của vua.
. Hà Đình thi thảo trích sao và Hà Đình thi thảo (tiếp theo) bao gồm: khoảng 168 bài thơ xướng họa với các danh sĩ. Trong và ngoài nước.Trong số nầy có nhiều bài được vua Tự Đức khen tặng.
Đa số các đầu sách trên đã được khắc in vào năm 1910 dưới triều vua Duy Tân.Phần viết bằng chữ nôm,ông có 3 bài thơ làm theo thể ca trù. Ngoài ra theo chỉ dụ vua,Cụ Thượng Hà Đình còn biên tập hoặc tham gia biên tập nhiều tác phẩm về các vua như: Lê Thánh Tông,Thiệu Tri,Tự Đức,cùng các danh sĩ như: Tùng thiện Vương,Tuy lý Vương,Trương quốc Dụng,Phạm phú Thứ,Nguyễn Siêu,Phạm Quý Thích,Vũ Trinh v…v) và một số khác nữa như: Sử quán thư mục,Đại Nam danh sơn thắng thủy thi đề tập, Đại Nam cương giới vựng biên,Đại Nam quốc cương vựng biên,Đại Nam quốc sử tàng thư mục, Tỳ Bà quốc Âm tân truyện,Thi thảo tập biên.
Trích bài thơ Tức sự I dưới đây của cụ Hà Đình,bài thơ nầy đã được cụ Huỳnh thúc kháng đăng trong Tiếng Dân, số 684 nhưng ghi là vô đề.Bài thơ được làm sau khi Pháp chiếm kinh thành Huế (1885).Cùng lúc toàn cõi Nam Kỳ đã trở thành thuộc địa của Pháp.
| Tức Sự I | Dịch nghĩa |
|---|---|
| Phí các nam lâm thái dịch trì | Lầu cao phía nam giáp với ao Thái Dịch. |
| Ý thơ diện diện xán pha li | Bốn mặt cửa lồng gương sáng,treo màng the mỏng. |
| Hòa giai trú tỉnh toan nghê liệt | Thềm hoa ban ngày yên tĩnh,hình sư tử bày. |
| Liễu mạch thu thâm yểu niểu trì | Đường liễu mùa thu muộn,ngựa hay ruổi dong. |
| Ngọa tháp nhẫn dung tha tộc xử | Giường ngủ đành dể cho người khác giống nằm |
| Hướng ngung hoàng vấn nhất nhân bi! | Hướng vào một xó góc mà khóc, thử hỏi có ai thương xót! |
| Thập niên đăng hỏa tiêu trần tận | Công mười năm đèn sách,nay đã tiêu mòn hết. |
| Hồi thủ Ngưu giang lệ ám thùy | Ngoảnh đầu xa trông Bến Nghé mà nước mắt thầm rơi. |
Qua phần lượt dịch về tiểu sử cùng công nghiệp và văn nghiệp của cụ Thượng Hà Đình như trên,đã giúp cho mọi người dân Quảng nam chúng ta hiểu biết,. để có niềm tự hào về xứ đất Quảng Nam nói chung,Thăng Bình mà nhất là làng Hà Lam nói riêng, để có niềm kiêu hãnh về cái xứ đất, có thể nói cũng là một “Địa Linh” vì đã tạo nên “nhân kiệt” như là cụ Thượng Hà Đình, một nhân vật đã được mọi người trên cả nước nể phục,như vậy cụ đã làm rạng rỡ cho con dân của cái xứ đất Hà Lam nói riêng và cho cả người dân thuộc huyện Thăng Bình nữa nói chung.
(trích ghi theo Wikipedia.org/wiki/Nguyễn Thuật)
( Phần ghi chú bên lề: với công nghiệp và văn nghiệp của cụ Thượng Hà Đình vào lúc bấy giờ, lại được nhà chức trách hiện hành của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mới tìm được mà truy thăng ông lên hàng “DANH SĨ” là đúng,nhưng mấy ngôi nhà ngói cỗ của ông là một di sản quí hiếm,đó là một di tích được xây dựng trên khu đất của gia đình ông tại bên bờ bàu Hà Lam, thì lại bị đập phá tan hoang,khu vườn thì bị cày xới sang bằng mà bỏ trống,cái không may của cụ Hà Đình là về “Ngôi Mộ”. Ngôi mộ cụ được an táng nơi xứ đất Gò Vàng thuộc cánh đồng làng Thanh Ly,lại bị buộc phải dời đi nơi khác,việc di dời nầy có thể vào các năm 1978 hay 1979 gì đó.Cuối năm 1981 tôi mãn hạn tù cải tạo, được phóng thích trở về nhà,thì thấy ngôi mộ đã bị di dời từ lâu.Ngôi mộ nầy không phải nguyên ủy chôn tại đây,lúc tôi lớn lên và biết thì thấy ngôi mộ đã có tại nơi nầy rồi. Và các bô lão trong làng kể lại rằng: Mộ ngài lúc ban đầu được an táng nơi nổng Xoáy Trâu thuộc làng Hà Lam tức nơi quê cụ, sau một thời gian thì được dời ra an táng lại tại cánh đồng làng Thanh Ly trên xứ đồng “Gò Vàng”.Chỉ là một ngôi mộ đất,không xây,nền rộng có đường kính khoảng chừng 5 mét,bên ngoài là một bờ huynh tròn được đắp cao có trổ cửa tức đuôi của ngô mộ,và được xây theo hướng có thể là: “Đông Bắc,Tây Nam” bên trước cửa mộ được xây một tấm bình phong,với hai bên là hai cây trụ vôi vuông, cao khoảng 4 mét,mỗi cạnh khoảng chừng 5 tấc tây.Khi mộ bị dời,thì tấm bình phong và hai trụ vôi bị đập phá luôn.Ngôi mộ cụ Thượng thời sanh tiền thì do ông Phan Xoa (chú bốn Xoa) thường trông nôm, sửa soạn làm sạch cỏ rác hằng ngày.
Ngôi mộ cụ Thượng có tấm bia dựng ngay đúng theo hướng với đuôi mộ mà cách xa khoảng 100 mét theo đường thẳng,nằm ngay bên mép bờ vườn “Cây Sanh”đó là khu vườn của ông Bác Khoản,là một tấm bia bằng đá cảm thạch to,cao khoảng 4 mét,rộng chừng 1,5 mét,được dựng trên một nền có đế đúc cứng mà ba mặt bia phía sau và hai bên được xây bọc để che mưa gió.Trên bề mặt tấm bia được khắc sâu bằng chữ “nho” dày chi chít, kín sít khắp cả bề mặt.Tôi thì chịu không đọc được,vì không biết loại chữ nầy.Nhưng tôi đoán là trên mặt tấm đá bia ấy,được khắc sâu bằng chữ nho,đó là sự ghi lại tất cả công tích về công nghiệp của cụ Thượng.Rất tiếc,một di vật quí hiếm như vậy bây giờ thì không làm sao mà có được,nhưng lại giao vào tay những người thiếu hiểu biết,để họ đập phá tan tành,có mấy người dân quanh vùng họ tiếc, họ lấy mỗi người một miếng lớn có thể dùng gát qua lỗ nước trước ngõ để làm đàng đi.
Tôi ghi lại tuy không trọn vẹn các chi tiết,nhưng một cách tổng quát toàn bộ câu chuyện về tấm bia,và ngôi mộ của cụ Thượng Hà Đình,để giúp cho các thế hệ hậu bối sau nầy được rõ,một khi họ đọc sách sử và hiểu biết về một danh nhân đã được sản sinh ra tại quê mình,đã có công lớn với đất nước. Nhưng những di tích của cụ lại không được bảo quản tốt,mà ngược lại lại bị phá tan tành).
_________________________________
NHÀ VĂN PHAN KHÔI:
-Nhà văn Phan Khôi: (1887-1959), Người làng Bảo An,huyện Điện Bàn,tỉnh Quảng Nam.Ông Phan Khôi được sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc,là con trưởng nam của gia đình.Giòng họ Phan Khôi cả bên nội lẫn bên ngoại đều có quê quán tại Điện Bàn.Ông nội từng làm Án Sát tỉnh Khánh Hòa dưới triều vua Tự Đức.Ông Ngoại là Tổng Đốc Hoàng Diệu,đã tuẫn tiết khi thành Hà nội bị thất thủ bởi quân Pháp năm 1882.Trước khi giữ chức Tổng Đốc Hà Nội,ông từng đi sứ sang Tây Ban Nha và Anh Quốc.
Thân sinh ông là ông Phan Trân, học rất giỏi thi đỗ đại khoa,khi ấy ông không muốn ra làm quan,nhưng vì hoàn cảnh gia đình đang lâm vào cảnh khó khăn,nhạc phụ ông là Tổng Đốc Hoàng Diệu đã tuẫn tiết đền nợ nước,thân phụ ông lại bị triều đình cách chức.Do vậy ông Phan Trân đành phải chịu ra nhận chức Tri Phủ Diên Phước tỉnh Khánh Hòa,với suy nghĩ,dùng tiền phụ cấp chức vụ của một quan phủ có thể trang trải cho cả hai gia đình lúc đang gặp khó khăn.Tuy nhiên,ông cũng chỉ làm quan được 3 năm,sau đó vì cãi với tên công sứ Pháp tỉnh Khánh Hòa,nên ông cáo bệnh mà về hưu để dạy học tại quê,lúc ấy ông mới 38 tuổi.Ông Phan Khôi có người anh em bạn dì là nhà văn Bùi Giáng,nửa cuộc đời sau của nhà văn nầy lại bị điên,chúng ta sẽ nói về nhà văn họ Bùi ở phần sau.
Con đường tiến thân.
Cậu cả nhà ông Phủ học rất giỏi,bởi từ bản chất thông minh,nên Phan Khôi luôn có hy vọng đi thi là phải đậu thủ khoa, hay ít ra cũng đứng một trong năm hạng đầu của cử Nhân.Năm 1905 Phan Khôi dự kỳ thi Hương đỗ Tú tài Hán học.nhưng không được đậu thủ khoa nên “cậu cả” giận mình mà khóc.Mà đây là mãnh bằng cao nhất của ông Phan Khôi,người dân quanh vùng thường gọi ông là ông Tú Khôi.
Nhìn thấy cái cựu học chữ Hán không còn ứng dụng mấy vào thời buổi nầy, ông chuyển sang học chữ quốc ngữ,vì trong thời gian nầy phong trào học quốc ngữ đã ra đời và chữ quốc ngữ đang phát triển khá nhanh,và mạnh.Chuyển sang học chữ quốc ngữ,người học trò trẻ nầy lại có dịp gặp gỡ với một số chí sĩ là các nhà cách mạng Việt nam nổi tiếng như Phan Châu Trinh,Phan Bội Châu,nhờ tiếp xúc nhiều với các nhà ái quốc,tinh thần ái quốc của chàng thanh niên Phan Khôi được tô bồi mỗi ngày càng sâu đậm.
Năm 1907,Phan Khôi ra Hà Nội và tham gia vào phong trào “ Đông kinh nghĩa thục”.Nhờ tư chất thông minh,tuy học chữ quốc ngữ không lâu so với những người đương thời,nhưng Phan khôi đã rất giỏi về chữ quốc ngữ,nhất là cách cấu trúc câu kéo.Lúc nầy thì ông Phan Khôi mới nằm trong độ tuổi vừa đúng 20,nhưng Phan Khôi lại được những người lãnh đạo phong trào giao viết bài để cổ xúy cho việt học quốc ngữ đăng trong tờ “Đăng cố Tùng Báo” tờ báo do phong trào xuất bản.Đông Kinh Nghĩa Thục là một phong trào của giới trí thức Việt Nam tổ chức, cốt cổ võ việc xử dụng chữ quốc ngữ thay cho chữ Nôm một loại chữ quá khó học.Phổ cập được chữ quốc ngữ, có thể là nhờ đó mà nâng cao trình độ dân trí lúc bấy giờ,lúc mà nước nhà đang cần canh tân,bên cạnh việc phải đánh đuổi ngoại xâm.
Phong trào Đông Khinh Nghĩa Thục sau đó đã bị thực dân Pháp dẹp bỏ.Nhưng mục tiêu và tinh thần của phong trào khởi xướng dùng chữ quốc ngữ thay chữ nôm,đã mang lại những kết quả tốt đẹp lâu dài mãi về sau. Từ năm 1915 tại miền Bắc Việt Nam,đến năm 1918 tại miền Trung lối thi cũ bằng Hán học bị hủy bỏ.Chữ quốc ngữ dần dần được phổ biến và sau đó được công chúng cũng như chính quyền đều công nhận.Từ đó chữ quốc ngữ trở thành loại chữ viết chính thức của người Việt cho đến ngày nay.
Khi phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục bị người Pháp đàn áp và truy nã các thành viên của phong trào một cách gắt gao.Ông Phan Khôi phải trốn vào Nam Định rồi xuống Hải Phòng để tránh mật thám Pháp.Sau hai tháng ông trở về lại Quảng Nam,tham gia phong trào Văn Thân cứu quốc của cụ Huỳnh thúc Kháng.Năm 1908 tham gia trong cuộc biểu tình đòi giảm thuế ,Phan Khôi bị Pháp bắt giam tại Faifo (Hội An).
Trong thời gian ở tù ông Phan Khôi đã gặp lại những nhà cách mạng Việt Nam nổi tiếng trong tù.Nhờ những nhà cách mạng nầy dạy ông học thêm tiếng Pháp.Với bản chất thông minh chỉ vài năm học trong tù,từ chỗ không biết ông đã trở thành một người đọc thông thạo tiếng Pháp và đọc được bộ sách của Cuvillier.Rồi sau đó lại tiếp đến Đệ nhất Thế Chiến bùng nổ giữa Pháp và Đức.Để lấy lòng dân chúng ,Toàn Quyền Đông Dương, Albert Sarraut phóng thích một số chính trị phạm,trong số đó có Phan Khôi,và như vậy là ông được tự do.
Sau khi được phóng thích,Phan Khôi tiếp tục sống tại Quảng Nam,lúc nầy vẫn còn trong độ tuổi đôi mươi, nhưng Phan Khôi đã thông thạo được cả 4 thứ tiếng đó là: chữ Quốc Ngữ,chữ Nôm,chữ Hán,và cả chữ Tây.Đây là bốn loại chữ cần dùng vào giai đoạn nầy đối với một trí thức.Trong lúc ở nhà tại Quảng Nam,ông Phan Khôi nhận lời dạy tiếng Việt cho các giáo sĩ Tin Lành,để nhờ đó mà trau dồi thêm tiếng Pháp.Lúc nầy,đạo Tin Lành chỉ mới xâm nhập vào Việt Nam chỉ được ba năm,người Pháp lại không tin đạo Tin Lành,trong lúc thế chiến thứ nhất bùng nổ,người Pháp nghi ngờ các giáo sĩ Tin Lành có quan hệ với người Đức,nên cấm không cho các Giáo sĩ truyền giáo.Các Giáo sĩ không được hoạt động truyền giáo nên lại dư thì giờ,nên họ chú tâm vào việc học tiếng Việt.
Sau hai năm tiếp xúc với Phan Khôi để học tiếng Việt,các giáo sĩ Tin Lành đã nhận biết về khả năng tiếng Pháp của Phan Khôi,nhất là giáo sĩ E.F.Irwin mời Phan Khôi sung vào Ủy Ban Phiên Dịch Kinh Thánh sang chữ Quốc Ngữ,khởi đầu của sự hợp tác nầy là vào năm 1916, và Phan Khôi đã nhận lời.
Nhờ được sung vào ban phiên dịch kinh thánh,ông Phan Khôi đã tích cực thực hiện công việc nầy,càng ngày ông càng thấy lời của Đức chúa trời thật kỳ diệu,và ông Phan Khôi đã trở thành người giữ vai chính trong việc phiên dịch kinh thánh cho dân tộc Việt Nam.Ông đã làm công việc nầy trong suốt thời gian 10 năm kể từ 1916 cho đến năm 1925.Trong thời gian nầy bên cạnh công việc phiên dịch kinh thánh,ông cũng dành một số thì giờ viết báo cộng tác với một số tờ báo từ Bắc chí Nam như tờ Nam Phong Tạp Chí của Phạm Quỳnh năm 1917,ông Phan khôi được giao phần quan trọng là quốc Văn.Nhưng cũng chỉ cọng tác được hai năm,vì quá bận công tác phiên dịch kinh thánh nên ông đành từ chối việc cọng tác tiếp với tờ báo nầy.Vì ông như một con chim phải xuôi ngược từ Bắc cho chí Nam vì kinh thánh được phiên dịch cả hai nơi cả Sài Gòn và Hà Nội.Tuy vậy, Phan Khôi cũng giành một số thì giờ viết báo để đáp ứng lời mời của nhiều tờ báo lớn đến mời ông cọng tác.
Năm 1919 vào Sài Gòn ông cọng tác với tờ Lục Tỉnh Tân Văn của Nguyễn văn Vĩnh.Nhưng bài Phan Khôi viết lại không được người dân miền Nam đọc nhiều,theo cái nhìn của ông ,vào lúc nầy trình độ quốc văn của người dân Nam Kỳ chưa cao,nên bài ông viết “họ không thèm đọc,thèm hiểu cả” do vậy mà ông đành ôm bút trở về.
Năm 1920 ông ra Hà Nội lại cộng tác với tờ Thực Nghiệp Dân Báo và tạp chí Hữu Thanh của Ngô Đức Kế.Trong thời gian nầy ông Phan Khôi lại bút chiến với Hải Triều một người có khuynh hướng theo cộng mà sau nầy là người đứng ra kết nạp Tố Hữu vào đảng cộng sản,và Hải Triều về sau đã trở thành nhà tư tưởng của Đảng Cộng Sản Việt Nam.Nhờ tiếp xúc với lời Chúa nhiều năm trong Kinh Thánh,Phan Khôi đã nhìn thấy thật rõ cái sai của chủ nghĩa vô thần.,nên cuộc bút chiến giữa hai người, hay giữa hai khuynh hướng “Duy Tâm” và “Duy Vật” đã gây xôn xao dư luận trong cả nước.
Thời gian sau không lâu cả hai tờ báo Thực Nghiệp Dân Báo lẫn tờ Hữu Thanh đều bị đình bản,và như vậy ông Phan Khôi dồn mọi nổ lực vào việc phiên dịch kinh Thánh.Ông như một con thoi phải thường xuyên vào ra từ Sài Gòn và Hà Nội vì ủy ban phiên dịch Kinh Thánh lại làm việc hai nơi: Ông Bà Giáo sĩ William C. Cadman và cụ tú Nguyễn hữu Phúc thì làm việc tại Hà Nội. Giáo sĩ John Drange Ol sen và ông Trần Hữu Dõng thì làm việc tại Sài Gòn.Tiền phụ cấp cho ủy ban phiên dịch kinh Thánh là do Hội tài trợ và Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp thực hiện.Vào thời gian nầy chưa có các phương tiện truyền thông như điện thoại,để liên lạc cho việc phiên dịch được trùng khớp, ông Phan Khôi phải làm công việc con thoi giữa Sài Gòn và Hà Nội.
Năm 1928,sau khi bộ Kinh Thánh được phiên dịch xong,ông Phan Khôi từ giã Hà Nội vào Sài Gòn cộng tác với tờ Thần Chung và Phụ nữ Tân Văn.Trong thời gian ở Sài Gòn,ông cho xuất bản tập thơ đầu tiên với tên là Nam Âm Thi Thoại.
Năm 1931,ông Phan Khôi trở lại Hà Nội làm chủ bút cho tờ Phụ Nữ Thời Đàm,bên cạnh đó ông vẫn cộng tác với những tờ báo lớn trong Nam.
Năm 1932, tờ Phụ nữ Tân Văn đăng bài thơ “Tình Già” của ông.Bài thơ là phát pháo đầu khởi xướng của phong trào thơ mới.Ông được giới nghiên cứu văn học xem là người khai sinh ra phong trào thơ mới của Việt Nam.
Năm 1936,ông Phan Khôi về Huế,viết cho tờ Tràng An.Sau đó ông cho xuất bản tờ Sông Hương và tái bản tập thơ Nam Âm Thi Thoại,nhưng lúc nầy tập thơ lại mang tên mới là Chương Dân.Năm 1937,tờ Sông Hương bị đình bản,ông lại vào Sài Gòn và cho xuất bản tiểu thuyết Trở Vỏ Lửa Ra.
Nhìn chung thì ông Phan Khôi yêu thích nghề làm báo,nên viết cho các tờ báo liên tục,có thể vì vậy mà ông không có những tác phẩm văn học lớn để lại ngoại trừ tập thơ Chương Dân Thi Thoại và truyện Trở Vỏ Lửa Ra .Các tờ báo mà ông Phan Khôi đã cộng tác như Hà Nội Báo,Đông Tây, Đông Pháp Thời Báo,Thần Chung, Thực Nghiệp Dân Báo, Trung Lập ….
Năm 1945,Nhật đảo chánh Pháp,chiến tranh lan khắp nơi.Ông Phan Khôi về quê lánh nạn.
Năm 1946,chiến tranh Việt Pháp bùng nổ.Ông Phan Khôi tham gia kháng chiến.Mặc dầu hợp tác,nhưng Phan Khôi là người yêu nước,bên cạnh đó ông còn được hiểu khá rõ về đường lối vô sản,nên Phan khôi thẳng thắn chống lại chủ trương sai lầm của Việt Minh,điển hình là cực lực phản đối việc Việt Minh khủng bố các nhân tố đối lập là các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Quảng Nam,Quảng Ngãi.Bên cạnh đó Việt Minh còn dự định phá đền thờ Tổng Đốc Hoàng Diệu,nên ông công kích quyết liệt.Cán bộ Việt Minh rất phẫn uất vì bị con Kỳ Đà Phan Khôi cản mũi không thể thực hiện được các chủ trương chung của tổ chức là Đảng Cộng Sản.Nhưng vì uy tín và tài năng của cá nhân ông,bên cạnh là truyền thống chống Pháp của gia đình ông,Việt Minh lại phải giữ Phan Khôi không thể bắt ông.Bên cạnh đó trong lúc nầy con trai ông là Phan Thao đang là một viên chức cao cấp trong Ủy Ban Trung Bộ của Việt Minh,với nhiều yếu tố trên,ông Phan Khôi vẫn giữ được mạng vào giai đoạn nầy.Mặt khác,lợi dụng chỗ quen biết cũ,Phan Khôi viết thư cho cụ Huỳnh thúc Kháng,đang được Việt Minh mời làm Bộ Trưởng Nội Vụ tại Hà Nội.Cụ Huỳnh tìm cách can thiệp nên vụ việc về Phan Khôi được xử êm.Sau đó để vụ việc được xử êm,ông Hồ chí Minh lại tự tay viết thư mời Phan Khôi ra Hà Nội hợp tác.Ra Hà Nội Việt Minh dự định giao ông cho Phan Bôi ( tức Hoàng hữu Nam) người anh em họ của ông lúc đó đang là Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ để quản thúc ông.
Suy và biết được âm mưu của Việt Minh,ra đến Hà Nội Phan Khôi đến phố Quan Thánh ở chung với Trần Khánh Dư tức nhà văn Khái Hưng,một đảng viên Quốc Dân Đảng,cũng là cây bút hàng đầu của Tự Lực Văn Đoàn mà Phan Khôi rất ngưỡng mộ.Vì đã hơn một thập kỷ qua họ là những học trò đã đem tư tưởng “cách mạng”của Phan Khôi trong cách hành văn để xây dựng nền văn xuôi Việt Nam trong giai đoạn 1932-1945.
Năm 1946,Việt Minh theo lệnh ông Võ nguyên Giáp là đệ tử ruột của ông Hồ,khủng bố Quốc Dân Đảng tại trụ sở Ôn Như Hầu,và rồi vây nhà bắt Khái Hưng, cũng bắt luôn Phan Khôi.Lúc nầy thì Phan Thao con trai ông đang là Chủ Nhiệm báo Cứu Quốc, do vậy mà ông Phan Khôi một lần nữa không bị hại.Sau đó Việt Minh lại giao ông cho Phan Bôi đưa lên chiến Khu Việt Bắc.Trong suốt chín năm sống tại Việt Bắc,ông Phan Khôi được giao cho công việc dịch Hán văn và Pháp văn ra tiếng Việt,tuy không thích đường lối của cộng sản,nhưng ông luôn làm tròn trách nhiệm.Ông Hồ Chí Minh đã bằng lòng với việc đã giam lõng được Phan Khôi,nhưng vẫn phải nể phục việc làm của ông,nên đã đích thân tặng Phan Khôi chiếc áo “bờ lu dông” Mỹ.
Năm 1950, Đại Hội Văn Nghệ Nhân Dân tại Miền Bắc.Dầu có mặt,nhưng Phan Khôi không chịu bẻ cong ngòi bút theo đường lối mà Đảng muốn,nên không được trọng dụng.Ông Phan Khôi ghi lại tâm sự đó trong bài thơ hớt tóc như sau;
Tuổi già thêm bệnh hoạn / Kháng chiến thấy thừa ta / Mối sầu như tóc bạc /Cứ cắt lại dài ra.
Năm 1954,theo tinh thần của Hiệp Định Genève phải chia đôi đất nước tại sông Bến Hải,ông Phan Khôi không vào Nam được vì ông đã theo kháng chiến,và rồi ông về sống tại Hà Nội,nhưng luôn tỏ ra bất đồng với những chính sách bất công của chế độ.Ông vẫn làm công việc cũ là dịch sách.Khi Miền Bắc bắt đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa.Trước những sai lầm liên tục của Cộng Sản tại Miền Bắc, ông đã viết bài “phê bình lãnh đạo văn nghệ” đăng trong Giai phẩm Mùa Thu.
Năm 1956,phong trào chống đối các thi sĩ tại Miền Bắc bộc phát.Ông Phan Khôi đứng ra Làm chủ nhiệm tờ Văn,lãnh đạo những văn sĩ nổi tiếng như : Hoàng Cầm,Phùng Quán,Văn Cao,Nguyễn Mạnh Tường,Đào duy Anh viết bài phê bình những chính sách cai trị sai lầm của nhà nước.Rất tiếc những tiếng nói trung thực đã bị đàn áp dã mang. Những truyện ngắn của Phan Khôi: Ông Bình Vôi,Ông Năm Chuột,cùng một số bài thơ khác của ông được xuất hiện trên tờ Giai Phẩm I,II,III, và IV. Lúc nầy Tố Hữu, người học trò của Hải Triều đã vọt lên đến chức lãnh đạo văn hóa,văn nghệ của Hà Nội.Phan Khôi bị Tố Hữu ra lệnh thanh trừng vì đã dám phê bình những lãnh đạo văn nghệ.Và vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm”cũng đã bị thanh trừng,nhưng tinh thần bất khuất của Phan Khôi lại càng gây tiếng vang khắp nước.Nhiều năm sau một số người Cộng Sản mới nhận thấy sai lầm của chính sách và mới hiểu được những tiếng nói trung thực của những con người trung thực trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.
Ông Phan Khôi không bị đưa đi cải tạo như nhiều người khác trong Nhân Văn Giai Phẩm,nhưng bị quản thúc nghiêm ngặt và ông qua đời vào ngày 16 tháng 1 năm 1959 tại Hà Nội,hưởng thọ 72 tuổi.
Là một con người khá đặc biệt,hiểu rất sâu về chính sách sai lầm của cộng sản,không tiếp tay cho cộng sản,nhưng cả cuộc đời phải lăn lộn trong chế độ cai trị của Cộng Sản.Ít có người nào có mối quan hệ rộng rãi mà đa dạng như ông Phan Khôi.Từ những nhân vật được nhiều người kính mến như cụ Huỳnh Thúc Kháng,Phan bội Châu,Phan Châu Trinh,và cả lãnh đạo Cộng sản là Hồ chí Minh cùng rất nhiều người mà cộng sản cho là bán nước như: Nguyễn Văn Vĩnh,Phạm Quỳnh,cũng như những văn nghệ sĩ nổi tiếng là Tản Đà (Nguyễn khắc Hiếu) Thế Lữ,Hoàn Cầm,Phùng Quán,Nam Cao,Văn Cao và cả Nguyễn Mạnh Tường v..v.Cùng những nhà truyền giáo Tin Lành trong giai đoạn tiên phong mới đến Việt Nam như các Giáo sĩ: E.F.Irvin,William C. Cadman,John D.Olsen. Ông Phan Khôi đã được nhiều người thương yêu kể cả kẻ thù.Đặc biệt, hình như là ông đã được Đức Chúa trời chọn ông để giao công việc dịch thánh kinh cho người Việt,bởi từ cái đức tính cương trực nơi ông.Cuốn kinh thánh do ông phiên dịch vẫn được xử dụng cho tới ngày nay,đó là biểu thị của sự thông minh và tính cương trực của ông Phan Khôi.
Một điều chúng ta nên biết,ông Phan Khôi là một nhà nghiên cứu văn học nên ông đã quả quyết là, tại Việt Nam không hề có chế độ “PHONG KIẾN” cái chế độ ấy chỉ có ở nước Tàu,còn Việt Nam thì không.Việt Nam không có chế độ “Kiến địa,phong hầu” tất cả quan lại đều hưởng lương bỗng do từ Triều đình cấp, nên Việt nam chỉ có chế độ “Quân chủ Tập quyền” mà thôi,những người cộng sản họ nói theo kiểu người Tàu quen miệng,nên mở miệng ra là họ dùng chữ phong kiến,nghe không xui tai được./.
_________________________________
Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam .
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã để lại trên đời một câu nói nổi tiếng,trước khi ông dùng thuốc độc quyên sinh vào đêm 7 tháng 7 năm 1963 (ngày Lễ song thất),trước ngày chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ông ra tòa xét xử về tội ủng hộ cuộc đảo chánh của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương văn Đông,phản đối chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm.
“ Đời tôi để lịch sử xử.Tôi không chịu để ai xử cả.Sự bắt bớ và xử tội những phần tử quốc gia đối lập là một tội nặng,sẽ làm cho nước mất về tay Cộng Sản.Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh báo những người chà đạp mọi thứ tự do”.
Nguyễn tường Tam sinh ngày 25 tháng 7 năm 1905,mất ngày 7 tháng 7 năm 1963.Ông là một nhà văn,một nhà báo với bút danh là Nhất Linh,và cũng là một chính trị gia nổi tiếng của Việt Nam vào thế kỷ 20.
Anh em gia đình Nguyễn Tường đều được sinh tại Huyện Cẩm Giàng,tỉnh Hải Dương,nơi đây là quê hương thứ hai của gia đình Nguyễn Tường,quê chính của gia đình ông là làng Cẩm Phô,huyện Điện Bàn (Hội An),tỉnh Quảng Nam.Ông nội của Nhất Linh là Nguyễn tường Tiếp làm Tri Huyện Cẩm Giàng gọi là Huyện Giám,lúc về hưu ông ở luôn tại đây.Ông quan huyện chỉ có một người con trai duy nhất là ông Nguyễn tường Nhu làm Thông phán,nên thường được gọi là Thông Nhu hay Phán Nhu,nhưng lại mất sớm năm 1918 lúc mới có 37 tuổi.Vợ ông Phán Nhu là bà Nguyễn thị Sâm,ông bà đã có được 7 người con:
-Nguyễn tường Thụy,chức vụ Tổng giám đốc Bưu điện.
-Nguyễn tường Cẩm,kỹ sư canh nông,giám đốc báo Ngày nay.
-Nguyễn tường Tam,tức nhà văn Nhất Linh nhà văn và là một chính trị gia.
-Nguyễn tường Long,tức nhà văn Hoàng Đạo,
- Bà Nguyễn thị Thế,là mẹ của Đại Tá Duy Lam,Quân đoàn I/Q LVNCH.
-Nguyễn tường Lân (Vinh) là nhà văn Thạch Lam.
-Nguyễn tường Bách, Bác sĩ.
Cẩm Giàng là một huyện nhỏ,cha ông mất sớm,Cả nhà Nhất linh lâm vào cảnh khó khăn,vì Cẩm Giàng chỉ là một huyện nhỏ, nên từ bé anh em nhà Nhất Linh luôn được tiếp xúc với những người nông dân nghèo khổ tại nơi nầy.Điều đó không ngờ lại ảnh hưởng rất nhiều đến văn học của Nhất Linh và Thạch Lam sau nầy.
Nhất Linh từng một thời làm chủ bút những tờ báo lớn như Phong Hóa,Ngày nay.Ông cùng với Trần khánh Giư (Khái Hưng) thành lập Tự lực văn đoàn,và hai ông cũng là những cây bút chính của nhóm.Ông để lại nhiều tiểu thuyết nổi tiếng như: Đoạn Tuyệt, Bướm Trắng, Đời mưa gió,Nho Phong,Người quây tơ,Đi Tây,Tối Tăm,Hai buổi chiều vàng,Anh phải sống viết chung với Khái Hưng v…v.
Về chính trị,Nguyễn tường Tam là người sáng lập Đại Việt Dân Chính Đảng.Khi tổ chức nầy hợp nhất với Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng được gọi chung danh xưng là Đại Việt Quốc Dân Đảng,ông giữ chức vụ Bí thư Trưởng tổ chức họp nhất nầy.Tham gia chính phủ Liên hiệp kháng chiến cùng với Hồ chí Minh và giữ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao, nhưng rồi phải bỏ.
Cuộc đời và sự nghiệp:
Thuở nhỏ Nhất Linh theo học Tiểu học tại Cẩm Giàng,rồi học Trung học tại trường Bưởi Hà Nội. Năm 16 tuổi Nhất Linh làm thơ đăng trên báo Trung Bắc Tân Văn, năm 18 tuổi Nhất Linh có làm bài luận bình về văn chương truyện Kiều trên Nam Phong tạp Chí. Năm 1923 ông đậu bằng Cao Tiểu học.Nhưng chưa đến tuổi được vào Cao Đẳng,nên ông đi làm thư ký tại sở Tài Chánh Hà Nội.Làm tại đây ông quen với Tú Mở và viết cho tờ Nho Phong.Cũng vào thời gian nầy ông lập gia đình với bà Phạm thị Nguyên theo sự sắp đặt của mẹ.
Năm 1924,Nhất Linh tiếp tục học ngành Y và mỹ thuật,nhưng chỉ được một năm rồi bỏ.Năm 1926 vào Nam,gặp Trần huy Liệu và Vũ đình Di,dự định cùng nhau làm báo.Nhưng vì tham dự đám tang Phan châu Trinh, hai người kia bị bắt,Nhất Linh trốn sang Cao Miên, sống bằng nghề vẽ và tìm đường đi du học.Năm 1927,Nhất Linh sang Pháp du học.Ở Pháp ông nghiên cứu về nghề báo chí và xuất bản.Năm 1930 ông đậu bằng Cử nhân Khoa Học Giáo khoa Lý hóa rồi trở về nước cùng năm.
Hoạt động văn chương:
Trước thời thành lập Tự Lực Văn Đoàn,Nhất linh cùng với hai người em là Hoàng Đạo và Thạch Lam,xin ra một tờ báo trào phúng với tựa là Tiếng Cười,nhưng thiếu tiền báo chưa ra được thì giấy phép lại hết hạn,bị rút lại.Trong hai năm 1930 đến 1932 ông dạy học tại trường Thăng Long và Gia Long,tại đây ông quen biết với Khái Hưng Trần khánh Giư.
Năm 1932,cùng một số người khác,Nhất Linh mua lại tờ Phong Hóa của Phạm hữu Ninh và Nguyễn xuân Mai,Ông chủ trương dùng tiếng cười trào phúng để đã kích lễ giáo dưới chế độ quân chủ cực thịnh,hô hào “Âu Hóa” và đề cao chủ nghĩa cá nhân. Ông làm Giám đốc kiêm quản lý tờ báo Phong Hóa.Kể từ 22 tháng 9 năm 1932 Phong Hóa ra tám trang lớn,chú trọng về văn chương và trào Phúng tạo ra ba nhân vật điển hình la Xã Xệ,Lý Toét và Bang Bạch.
Năm 1933,Nhất Linh cùng với Khái Hưng Thành Lập TỰ LỰC VĂN ĐOÀN gồm có;
-
Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam)
-
Khái Hưng ( TRần Khánh Giư ) còn gọi là Nhị Linh.
-
Hoàng Đạo (Nguyễn tường Long)
-
Thạch Lam (Nguyễn tường Lân)
-
Tú Mỡ (Hồ trọng Hiếu)
-
Thế Lữ (Nguyễn thứ Lễ)
Về sau có thêm Xuân Diệu và Trần Tiêu em của Khái Hưng.Bên cạnh đó còn có một số nhà văn khác cộng tác chặt chẽ với Tự Lực Văn Đoàn như: Trọng Lang,Huy Cận,Thanh Tịnh,Đoàn phú Tứ.Cơ quan ngôn luận của Tự lực văn Đoàn là báo Phong Hóa.
Năm 1936 tờ Phong Hóa bị đóng cửa vì Hoàng Đạo viết bài châm biếm Hoàng trọng Phu.Chỉ còn lại tờ ngày nay tiếp tục vì trước đó Ngày Nay ra kèm với Phong Hóa đang tiếp tục làm công việc kế tiếp Phong Hóa. Tháng 12 năm 1936 trên báo Ngày Nay,Nhất Linh cùng nhóm Tự Lực Văn Đoàn phát động phong trào Ánh Sáng,một tổ chức từ thiện với mục đích cải tạo nếp sống ở thôn quê,trong đó có việc làm nhà hợp vệ sinh cho dân nghèo.Ngày nay cũng là tờ báo hậu thuẫn cho tân nhạc trong những năm đầu hình thành.
Hoạt động chính trị:
Năm 1938,Nguyễn tường Tam thành lập đảng Hưng Việt,rồi đổi tên là Đại Việt Dân Chính Đảng vào năm 1939, mà ông làm Tổng Thư Ký.Lúc bấy giờ nhóm Tự Lực Văn Đoàn hoạt động công khai với mục đích là chống Pháp,
Năm 1940,Hoàng Đạo,Khái Hưng,Nguyễn gia Trí bị thực dân Pháp bắt đày lên Sơn La, đến năm 1943 mới được thả.Trong thời gian nầy Thạch Lam và Nguyễn Tường Bách tiếp tục quản trị tờ Thời Nay. Tháng 9 năm nầy báo Thời nay bị đóng cửa sau khi ra số 224.
Năm 1942 Nhất Linh chạy sang Quảng Châu,Thạch Lam bị bịnh lao và mất tại Hà Nội. Đại Việt Dân Chính Đảng gần như tan rã.Trong thời gian từ 1942-1944,Nhất Linh học Anh Văn và Hán văn.
Tại Quảng Châu và Liễu Châu ông gặp Nguyễn Hải Thần và Hồ chí Minh mới ra tù.Nguyễn tường Tam cũng bị giam 4 tháng tại Liễu Châu,nhờ được Nguyễn hải Thần bảo lãnh mới được Trương Phát Khuê thả ra.Lúc nầy gặp Nguyễn Hải Thần,nên Nguyễn tường Tam lại hoạt động trong Cách Mạng Đồng Minh Hội của Nguyễn Hải Thần,sau đó về Côn Minh hoạt động lại trong hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng,tá túc với Vũ Hồng Khanh.Tháng 3 năm 1944,tại Liễu Châu,Nguyễn Tường Tam được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp Hành Trung ương Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội tức Việt Cách.
Giữa năm 1945,Nguyễn tường Tam trở về Hà Giang cùng quân đội nhưng rồi quay lại Côn Minh,rồi đi Trùng Khánh.Giai đoạn nầy được phản ảnh trong tiểu thuyết “Giòng Sông Thanh Thủy”.Theo lệnh của Nhất Linh từ Trung Quốc gởi về, Báo Ngày Nay,với Hoàng Đạo,Khái Hưng,Nguyễn gia Trí cùng Nguyễn tường Bách lại tục bản,khổ nhỏ vào ngày 5 tháng 4 năm 1945 và trở thành cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Tháng 5 năm 1945,tại Trùng Khánh,Đại Việt Dân Chính Đảng,sáp nhập với Việt Nam Quốc Dân Đảng,đồng thời liên minh với Đại Việt Quốc Dân Đảng, Nguyễn tường Tam làm Bí Thư Trưởng của VNQDĐ..Cuối năm 1945 Đại Việt Quốc Dân Đảng và Việt Nam Quốc Dân Đảng thành lập Mặt Trận Quốc Dân Đảng.
Sau khi quân Tưởng vào Việt Nam,đầu năm 1946,Nguyễn tường Tam trở về Hà Nội,tổ chức hoạt động đối lập chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa,xuất bản báo *Việt Nam, .*tháng 3 năm 1946,sau khi đàm phán với chính quyền thành lập Chính phủ Liên Hiệp Cộng Sản Việt Cách,Việt Quốc,ông giữ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao trong Chính Phủ Liên Hiệp Kháng Chiến nầy.
Ông tham gia Quốc Hội khóa I đặc cách không bầu cử.
Ông Nguyễn Tường Tam được cử làm Trưởng Đoàn Việt Nam dự Hội Nghị Trù Bị Đà Lạt đàm phán với Pháp,mặc dầu trên thực tế Võ Nguyên Giáp là người lãnh đạo phái đoàn.Theo ông Võ nguyên Giáp,do vì bất đồng nên Nguyễn tường Tam đã không tham gia hầu hết các phiên họp,nhưng còn theo sử gia David G Marr,thì ông Tam là người phát ngôn có năng lực và giúp giải quyết một số tranh cải về chiến thuật đàm phán trong đoàn.Về sau ông cũng được cử đứng đầu phái đoàn tham dự hội nghị Fontainbleau,nhưng ông cáo bệnh không đi. Mà rời bỏ Chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến,lưu vong sang Trung Quốc tháng 5 năm 1946 và ở lại Hồng Kông cho tới 1951.
Sau đó thì xảy ra sự kiện vụ án ÔN Như Hầu,lực lượng công an khám xét các cơ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng,bắt giữ nhiều đảng viên của hai đảng nầy,tịch thu được một số vũ khí và khẩu hiệu chống chính quyền.Khi Nguyễn tường Tam đã rời bỏ chính phủ,chính phủ đã tuyên bố là ông đào nhiệm và biển thủ công quỹ,là tiền chi phí cho phái đoàn sang Pháp đàm phán.Tuy nhiên,theo sử gia David G.Marr việc biển thủ công quỹ nầy khó xảy ra,vì ông khó lòng được giao trách nhiệm giữ tiền của phái đoàn.
Năm 1947,Nguyễn tường Tam cùng Trần Văn Tuyên,Phan quang Đán,Nguyễn văn Hợi,Nguyễn hải Thần,Lưu đức Trung thành lập Mặt trận Thống Nhất Quốc Gia Liên Hiệp, ủng hộ giải pháp Bảo Đại thành lập Quốc gia Việt Nam,chống cả Việt Minh lẫn Pháp,nhưng đến năm 1950 thì mặt trận giải thể.
Năm 1951, ông từ Hông Kông về nước,ông mở nhà xuất bản Phượng Giang,tái bản sách của Tự Lực Văn Đoàn,và tuyên bố không tham gia các hoạt động chính trị nữa,Năm 1953 Nguyễn tường Tam lên sống tại Đà Lạt.Tuy nhiên trong Quốc Dân Đảng vẫn tồn tại phái Nguyễn tường Tam,cạnh tranh với hai phái khác.
Năm 1958, ông rời Đà Lạt về Sài Gòn,ông mở giai phẩm Văn Hóa ngày nay ở Sài Gòn,phát hành được 11 số thì bị đình bản.Năm 1960 ông thành lập mặt trận đoàn kết,ủng hộ cuộc đảo chánh của Đại Tá Nguyễn chánh Thi và Trung Tá Vương văn Đông,cuộc đảo chánh thất bại ,ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm giam lỏng tại nhà riêng.
Ông bị chính phủ Ngô Đình Diệm gọi ra xử ngày 8 tháng 7 năm 1963.Tại nhà riêng,nghe tin sẽ bị đưa ra tòa xét xử,để phản đối chính quyền độc tài Ngô đình Diệm,Nguyễn tường Tam đã dùng độc dược quyên sinh. Và đã để lại lời phát biểu nổi tiếng,bên trên.
Về gia đình:
Vợ ông bà Phạm thị Nguyên (1909-1981) quê làng Phượng Dực,huyện Thường Tín,tỉnh Hà Đông. Tuy là người Tây học.nhưng cuộc hôn nhân của ông bà là do cha mẹ quyết định. Trước Năm 1945 bà Là chủ hiệu buôn cau khô nổi tiếng ở Hà Nội với tên là Cẩm Lợi tại phố Hàng Bè,bà mất tại Pháp ngày 6 tháng 5 năm 1981.Ông bà có 7 người con gồm 5 trai và hai gái là : Nguyễn tường Việt,Nguyễn tường Triệu,Nguyễn tường Thạch,Nguyễn tường Thiết,Nguyễn tường Thái cùng hai con gái: Nguyễn kim Thu,Nguyễn kim Thoa.
Nơi an Nghỉ:
Nhất Linh quyên sinh bằng rượu pha thuốc độc vào đêm 7 tháng 7 năm 1963.Theo lệnh nhà cầm quyền,gia đình phải chôn ông thật gấp tại nghĩa trang chùa Giác Minh Gò vấp.Không chờ đợi người con trai ở Pháp về dự lễ tang. Năm 1975 con trai ông bà là Nguyễn tường Thạch đã hỏa thiêu di cốt của cha và gởi bình tro tại chùa Kim Cương,trên đường Quang Diệu,quận 3 thành phố Hồ chí Minh.Năm 1981 vợ ông sang Pháp đoàn tụ với các con rồi qua đời và an táng tại Pháp.Năm 2001,các con ông bà quyết định đưa di cốt ông bà cùng người chị gái lớn về an táng trong khu mộ dòng họ Nguyễn Tường tại Hội An (Quảng Nam).
Các tác phẩm Nhất Linh để lại cho đời:
Gánh hàng Hoa viết cùng khái Hưng (1934) / Đời Mưa Gió viết cùng Khái Hưng (1934) / Nắng Thu (1934) / Đoạn Tuyệt (1934-1935) / Lạnh Lùng 1935-1936) / Đôi Bạn (1936-1937) / Bướm Trắng (1938-1939) / Con đường sáng cùng Hoàng Đạo (1940) / Xóm cầu mới (1949-1957) /Giòng sông Thanh Thủy (1960-1961) / Ba người bộ hành (1960) / Chi bộ hai người (1960) / Vọng Quốc (1961).
Các tập truyện:
Nho Phong (1924) /Người quay tơ (1926) / Anh phải sống cùng Khái Hưng (1932-1933) / Đi Tây (1935) / Hai buổi chiều vàng (1934-1937) / Thương Chồng ( 1961) / Những ngày Diễm ảo ( 1963).
Tiểu luận:
Viết và đọc Tiểu Thuyết (1952-1961) / Dịch Phẩm: Đỉnh gió hú / Di cảo ; Đời làm báo / Hội Họa: Ông học tại trường Mỹ thuật chỉ một thời gian ngắn,nhưng Nhất Linh đã để lại một số tranh vẽ trong đó có bức Scène de Marché de rue Indochinois (Cảnh Phố chợ Đông Dương) vẽ trên lụa,thực hiện khoảng 1926-1928.Bức tranh nầy được hãng Sotheby’s bán đấu giá tại Hương Cảng với giá 596.000 Đô la Hồng Kông,tương đương với 75,000 Mỹ Kim.
Tất cả các phần bên trên đã ghi lại các phần đời của ông Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) gồm cả phần: Hoạt động chính tri, và cả phần văn chương, tương đối đầy đủ của một người con mang trong người cái khí phách của con người Quảng Nam.
(Tài liệu tham khảo phần lớn phỏng theo Wikipia trên mạng xã hội )
_____________________
Nhà Văn Hoàng Đạo (1907-1948) Là Người Trí Thức Dấn Thân.
Nhà văn Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn tường Long,sinh ngày 11/10 năm Đinh Mùi (16/11/1907) tại làng Cẩm Giàng,tỉnh Hải Dương.Nguyên Quán làng Cẩm Phô huyện Điện Bàn (thành phố Hội An) tỉnh Quảng Nam.Ông là người con thứ tư trong gia đình Nguyễn Tường tại Cẩm Giàng là người em kề với Nguyễn tường Tam (Nhất Linh). Hoàng Đạo có thêm nhiều bút hiệu khác là Tứ Linh,Tường Minh.Theo giáo sư Nguyễn Văn Xuân thì giòng họ Nguyễn Tường gốc người Bình Định.Ông Nguyễn Tường Vân là ông Cao của Hoàng Đạo,Ông Vân là Thượng thư Binh bộ,có hai người con nhập tịch tại Cẩm Phô,Điện Bàn ,Quảng Nam là Nguyễn tường Vĩnh phó bảng,tuần vũ Vĩnh Long,và Nguyễn tường Phổ tiến sĩ,dạy học và nhà thơ.Ông Nguyễn tường Phổ sinh ra ông nội Hoàng Đạo là Nguyễn tường Tiếp,Tri huyện Cẩm Giàng,và sinh ra thân sinh Hoàng Đạo là Nguyễn tường Nhu ,Thông Phán (chết sớm).
Hoàng Đạo là người con thứ tư trong gia đình gồm 7 anh chị em: Nguyễn tường Thụy,Nguyễn tường Cẩm,Nguyễn tường Tam,Nguyễn tường Long (Hoàng Đạo) Nguyễn thị Thế,Nguyễn tường Lân (Thạch Lam) và Nguyễn tường Bách (Bác sĩ).Ông Nguyễn tường Nhu là một nhà nho có thể nói là không thành đạt mấy,lại mất sớm,vợ là bà Lê thị Sâm phải tần tảo nuôi bảy người con.Khi các con đã trưởng thành,bà đi tu và mất tại Sài Gòn năm 1963.
Thuở nhỏ ông có tên là Nguyễn tường Tư,chính ra là Tứ,nhưng vì trùng tên với một người bạn của cha nên phải đổi lại là Tư.Vào tuổi niên thiếu ông học tại trường huyện tại Cẩm Giàng,nhưng không đủ tuổi để đi thi,gia đình phải khai sinh lại thêm lên 4 tuổi và đổi tên thành Nguyễn tường Long,ngày sinh mới là 3/4/1903.
Sau bậc Tiểu học,ông bị ốm nên tự học ở nhà.Năm 1924 đậu bằng Cao đẳng Tiểu Học Pháp,sau đó lại đỗ vào trường luật Đông Dương tại Hà Nội.Tốt nghiệp năm 1927,ông vào làm tham tá ngân khố Hà Nội.Tiếp tục học thêm,đậu tú tài Pháp rồi chuyển sang ngạch Tư Pháp,với chức vụ Tham Tá Lục Sự từ năm 1929,trong các tòa “Tây án”trên nhiều tỉnh Trung,Nam,Bắc.Trong thời gian nầy có lần được bổ Tri Huyện,nhưng ông từ chối.
Năm 1932,Nguyễn Tường Long đang làm việc ở Sài Gòn,nhưng lại được đổi về Hà Nội. Cùng lúc Nhất Linh mua lại tờ Phong Hóa của Phạm Hữu Ninh và ngày 22/9/1932 báo Phong Hóa tái bản với nội dung và ê-kíp mới.Năm 1933,thành lập Tư Lực Văn Đoàn,cùng năm nầy,Nguyễn tường Long lập gia đình với cô Marie Nguyễn Bình (1913-1975) và sinh được bốn người con: ba gái,một trai.
Nguyễn tường Long viết trên Phong Hóa lấy bút hiệu là Tứ Ly( giờ xấu nhất trong ngày)viết bài đả kích châm biếm toàn bộ hệ thống quan lại của chính quyền thuộc địa và Triều Đình Huế,bài trừ hủ tục trong xã hội Việt Nam.Năm 1936,Phong Hóa bị đóng cửa.Tờ Ngày nay trước đó đã ra kèm với Phong Hóa,trong 18 số đầu,chuyên về hình ảnh,từ số 19 trở về sau chuyển sang văn nghệ. Trên Ngày Nay,trong mục “Trước Vành Móng Ngựa” Hoàng Đạo ghi lại tình cảnh bi hài của dân nghèo trước tòa tiểu hình Hà Nội.
Năm 1939,Nhất Linh thành lập đảng Hưng Việt,sau đổi thành Đại Việt Dân Chính.Đảng nầy chủ trương công khai chống Pháp và lật đổ triều đình Huế. Cuối năm 1940,Hoàng Đạo,Khái Hưng,Nguyễn Gia Trí bị Pháp bắt,bị đưa đi an trí tại Vụ Bản Châu Lạc Sơn,tỉnh Hòa Bình. (Nhưng trong Việt Nam những ngày lịch sử,tiểu sử Hoàng Đạo do gia đình soạn,cùng một số tài liệu khác Nguyễn tường Bách ghi là bị đày lên Sơn La) mãi cho đến năm 1943 mới được giải về quản thúc tại Hà Nội.Trong thời gian đó Nguyễn tường Bách và Thạch Lam tiếp tục quản trị tờ Ngày Nay cho mãi đến năm 1941 mới bị đóng cửa.
Năm 1942 Nhất Linh chạy sang Quảng Châu,Thạch Lam mất tại Hà Nội (bị bịnh phổi) Hoàng Đạo và Nguyễn tường Bách tiếp tục lãnh đạo phong trào và theo lệnh của Nhất Linh từ Trung Quốc gởi về,báo ngày nay tục bản ngày 5/3/1945 với Hoàng Đạo,Nguyễn tường Bách,Khái Hưng,Nguyễn gia Trí.
Ngày 19 tháng 8 năm 1945 Việt Minh cướp chính quyền.Ngày 25 tháng năm 1945 Bảo Đại thoái vị. Ngày 2/9/1945 Hồ chí Minh tuyên bố độc lập (đọc bản tuyên ngôn). Trong khi ba thành phần Việt Minh,Viết Cách, Việt Quốc đang điều đình để thành lập chính phủ liên hiệp, ngày 13 tháng 1 năm 1946,Vệ quốc quân (Cộng sản) tấn công bộ đội Việt Quốc tại Việt trì.
Ngày 2/3/1946 Chính Phủ Liên Hiệp ra đời,nhưng các lực lượng quốc gia và Cộng sản chia rẻ trầm trọng. Chủ trương của chính quyền thực dân không thay đổi: Hội nghị Đà Lạt thất bại.Sự đổ vỡ và chiến cuộc xảy ra giữa hai phe quốc gia và cộng sản.
Cuối tháng 7 năm 1946,Hoàng Đạo,Nguyễn tường Bách và 6 bạn đồng hành đến Hà Khẩu,lên Côn Minh rồi sang Quảng Châu.Ngày 19/12/1946 Khái Hưng bị Việt Minh bắt và thủ tiêu vào năm 1947.
Hoàng Đạo mất đột ngột ngày 22/7/1948 (16/6 năm Mậu Tý) trên chuyến xe lửa từ Hương Cảng về Quảng Châu,thi hài ông được an táng tại thị trấn Thạch Long.
Tác Phẩm đã được in: Trước vành móng ngựa ( Phóng sự,Đời Nay,Hà Nội 1938) Mười điều Tâm Niệm ( Tiểu luận,Đời nay 1939) Con Đường sáng (Tiểu thuyết,Đời Nay,1940) Tiếng Đàn (truyện ngắn,Đời nay, 1941).
______________________________
Nhà văn Thạch Lam : Tiểu sử và sự nghiệp văn chương:
Thạch Lam sinh tại Hà nội,trong một gia đình công chức gốc quan lại,thuở nhỏ chủ yếu sống nơi quê ngoại tại khu phố huyện Cẩm Giàng,tỉnh Hải Dương. Thạch Lam sinh năm 1910 và mất năm 1942.Tên thật là Nguyễn Tường Vinh,là một nhà văn thuộc nhóm “Tự Lực Văn Đoàn” do người anh lớn là Nhất Linh sáng lập,và một người anh khác là Hoàng Đạo cũng viết cho Tự lực văn đoàn.Ông còn có bút danh là Việt Sinh,Thiện Sỹ nữa.
Thạch Lam là người con thứ sáu trong gia đình gồm 7 anh chị em (6 trai và 1 gái).Nguyên tên lúc ban đầu do cha mẹ đặt là Nguyễn tường Vinh.Đến năm 15 tuổi thấy mình học chậm quá,cần tăng thêm tuổi để học băng tức là nhảy mà phải nhảy cả 4 năm,ông đã nhờ mẹ ông nói khéo với Lý Trưởng cho đổi tên là Nguyễn tường Lân và khai tăng tuổi để theo học Ban Thành Chung,khi đã làm lại được khai sinh và đổi tên,ông thi đỗ vào Cao Đẳng Canh Nông ở Hà Nội.nhưng chỉ học một thời gian rồi vào trường trung học Albert Sarraut để học thi Tú tài.
Ông là con trai của ông Nguyễn tường Nhu và bà Lê thị Sâm, cũng như tất cả các anh chị khác trong gia đình.Tuy ông được sinh tại Hà Nội nơi số 10 hàng Bạc,như gia đình ông bà Nhu thường về sống tại huyện Cẩm Giàng nơi quê ngoại.Trước đây lúc ông nội là Nguyễn tường Tiếp làm quan huyện tại huyện Cẩm Giàng,ông đã nhờ mai mối hỏi cô Lê thị Sâm về làm dâu nhà họ Nguyễn Tường,tức là vợ người con trai Nguyễn tường Nhu.Ông Nhu và bà Sâm sinh được 7 người con 6 trai và một gái.Thạch Lam là một trong 6 người con trai,mà cũng là người con trai áp út trong số 7 anh chị em.
Ông bà Phán Nhu,khi ở Hà nội lúc về Cẩm Giàng,lúc lại theo người con cả lên ở Tân Đệ,Thái Bình.Do buôn bán sinh kế không được thuận lợi,chỉ ở nơi nầy được một năm,bà Phán Nhu đưa cả nhà về Hà Nội,khi vợ Nguyễn tường Thụy xin ra ở riêng,bà lại đưa cả nhà về lại Cẩm Giàng. Trước đây người cân gạo của bà là Bà Hội,đã nợ bà một số tiền là 60 đồng Đông Dương.Bà Hội lại trừ tiền nợ cho bà bằng hai mẫu đất.Thế là bà cho đào ao lấy đất đắp nền,làm nhà gỗ,lợp tranh rạ,với bốn cột vuông chôn chung quanh,hiên thật rộng,gọi là nhà ánh sáng.
Ngày 31 tháng 8 năm 1917,cha của anh em Thạch Lam sang Sầm Nứa để làm thông ngôn,cho mang theo gia đình để buôn bán mưu sinh, nhưng chỉ tám thámg sau ông bạo bịnh qua đời.Một mình nơi xa xứ,lo việc chôn cất chồng xong,bà Nhu trở về Việt Nam hết 12 ngày cả đi bộ và cả đi đường thủy,gian nan vô ngần. Mãn tang chồng, bà cùng bốn người thân sang lào để mang hài cốt ông về nước,và đặt mộ bên bờ ao,thuộc làng La A,xã Kim Giang,huyện Cẩm Giàng.
Chồng mất,bà phải tảo tần khuya sớm để lo cho các con tiếp tục ăn học.Bà về làng quê cân gạo,nhưng việc buôn bán nầy vẫn không đủ,có lúc bà đành phải nấu thuốc phiện.Biết là rất nguy hiểm có thể bị người Pháp bắt bất cứ lúc nào,để các con có đủ cơm ăn mà lo học hành thành đạt,bà vẫn phải lo tảo tần.Sau khi các con đều lớn có gia đình,bà xuất gia đến tu ở Đào Xuyên,Bối Khê,Hà Nội.
Sau khi biết Hoàng Đạo đột tử ở ga Thạch Long,Trung Quốc năm 1948,bà lo làm lễ cầu siêu cho con,rồi vào Sài Gòn,tu ở chùa Xá Lợi cho đến năm 1960,ít lâu sau bà viên tịch tại đó, trước ngày Nhất Linh Mất (7/7/1963).
Khác với tất cả các anh trai,lấy vợ qua mai mối,được cha mẹ chấp thuận mới coi mặt rồi làm đám cưới.. Thạch Lam lấy vợ là do hoàn toàn sự lựa chọn của cá nhân ông.Vào Khoảng năm 1935,Thạch Lam lấy vợ là Bà Nguyễn thị Sáu,đã từng có một đời chồng.Ông bà được người chị là Nguyễn thị Thế nhường lại căn nhà nhỏ tại đầu làng Yên Phụ,Ven hồ Tây (Hà Nội) vợ chồng ông ở.
Cũng theo hồi ức của bà Thế,bản tính Thạch Lam ưa tỉnh mịch” nên khi có con,vú em được lệnh cấm không được ru,và cũng không được để nó khóc.Ngoài cổng,có khi chú còn treo một tấm biển đề: “ Ai hỏi gì xin lên tòa soạn”.Và Bà Thế kết luận,những tháng ngày cuối đời,Thạch Lam khó tính đến nỗi hầu như chỉ có “Thím” là chiều chuộng được chú.còn tôi và mẹ tôi cũng đành chịu.
Tuy chỉ là mái tranh vách đất,thế nhưng “nhà cây liễu” là nơi thường lui tới của các văn nghệ sĩ,ngoài các thành viên trong Tự Lực Văn Đoàn, có cả Thế Lữ,Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng,Nguyễn xuân Sanh,Nguyễn Tuân,Huyền Kiêu,Nguyễn xuân Khoát.
Thể chất con người Thạch Lam.
Ông cao đến 1,70 m,vượt trội hơn khá nhiều người có chiều cao trung bình của người Việt lúc bấy giờ,nhưng sức khỏe Thạch Lam lại không tương xứng với chiều cao.Có thể nói ông thuộc dạng thể chất yếu,biết vậy nên ông rất năng chơi thể thao do vậy mà môn Tenis ông chơi thuộc vào loại khá.Có một thời ông cùng người anh rể tương lai Nguyễn Kim Hoàn đi học võ nghệ. Có thể lúc tuổi nhỏ khá nhọc nhằn vì miếng cơm manh áo đã là Thạch Lam sớm mắc phải căn bệnh lao phổi,một trong những căn bệnh nan y thời bấy giờ. Ông mất tại Hà Nội vào ngày 27 tháng 6 năm 1942,lúc tuổi mới 31,khi còn trong độ tuổi rực rỡ trên văn đàn.
Ông ra đi để lại người vợ trẻ với 3 đứa con thơ trong cảnh nghèo.Gia đình đã an táng ông nơi nghĩa trang Hợp Thiện,nay thuộc quận Hai Bà Trưng,thành phố Hà Nội.
Thạch Lam có ba người con,hai trai một gái là bà Nguyễn tường Nhung,ông Nguyễn tường Đằng, và trước khi ông mất ít ngày,vợ ông có sinh thêm một người con trai là nhà văn Nguyễn tường Giang.Nguyễn tường Giang tốt nghiệp Trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn năm 1968.Ra trường ông làm việc tại bệnh viện Từ Dũ, Hùng Vương. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.ông sang Mỹ hành nghề tư,tham gia giảng dạy chuyên môn (khoa sản phụ) tại Southside Hospital,Bay Shore New York,và tại Virginia Hospital center tại Arlington,Virginia, và về hưu năm 2010.Con rể ông là Trung Tướng Ngô quang Trưởng.
Theo nhà văn Băng Sơn,sau khi Thạch Lam mất vợ và các con ông có về sống ở Cẩm Giàng với bà Phán Nhu một thời gian,rồi di cư vào Nam.
Các tác Phẩm tiêu biểu của Thạch Lam được đăng báo và in thành sách:
. Gió lạnh đầu mùa (tập truyện ngắn,Đời nay xuất bản 1937)
. Nắng trong vườn (tập truyện ngắn,Đời nay xuất bản 1938).
.Theo dòng (bình luận văn học,Đời nay xuất bản 1941)
.Ngày Mới (truyện dài,Đời nay xuất bản 1939 )
.Sợi tóc (tập truyện ngắn.Dời nay xuất bản 1942)
.Một thứ quà của lúa non: Cốm,Đời nay xuất bản 1943
.Hà Nội băm sáu phố phường (Tùy bút ,Đời nay xuất bản 1943)
.Hai quyển truyện viết cho thiếu nhi: ( Quyển sách và hạt ngọc,cả hai do Đời nay ánh hành 1940)
Thạch Lam có tác phẩm truyện ngắn Hai đứa trẻ đã được in vào sách giáo khoa ngữ văn 11,tập một và được in vào sách giáo khoa lớp 10 tập một theo chương trình mới từ năm 2022.
Tính cách của Thạch Lam:
Trích một đoạn ngắn tiêu biểu tính cách của Thạch Lam qua cái nhìn từ một nhà trí thức:Khúc Hà Linh:
.Thạch Lam nghèo một phần vì sách của ông bán ế,nhưng không vì thế mà người vợ hiền thục kém mặn mà với khách của chồng.Những bữa rượu cứ tiếp diễn,và bao giờ Thạch Lam cũng mời mọc thịnh tình cho đến khi thực khách say mềm.Trong lúc chè chén,có khi sinh sự ồn ào,những lúc ấy Thạch Lam vẫn chỉ điềm nhiên nâng chén,không nói lớn,mà chỉ cười…(đây là chỉ một trong hàng ngàn nhận xét của các văn sĩ là bạn bè của ông,trích dẫn trên chỉ là tiêu biểu để giúp chúng ta hiểu biết về tính cách của nhà văn trẻ Thạch Lam mà thôi).
_________________________________________
Quảng Nam đã phải ghi lại ba nhà văn tiêu biểu vào thế kỷ 20 thuộc dòng họ nhà Nguyễn Tường,nguyên người Cẩm Phô,Điện Bàn,Quảng Nam.Ba anh em cùng một gia đình đều là nhà văn,họ vừa là nhà văn vùa là những người dấn thân vào con đường chính trị,dùng văn chương để hướng dẫn việc cải tạo xã hội,một xã hội bị nằm dưới chế độ quân chủ chuyên chế, quá lâu, đã làm cho dân tộc bị thui chột,chậm tiến đến độ được xem là lạc hậu,so với các nước trên thế giới.
Chúng ta hãy đọc lại lời nhận xét của một nhà văn nữ người Việt sống tại Pháp, có cái nhìn về nhóm “Tự Lực Văn Đoàn”.Nguyễn tường Tam thất bại trên mặt trận chính trị,nhưng Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn thành công trên mặt trận xã hội. Tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn đã trình bày khá toàn diện bộ mặt xã hội Việt Nam thời đầu thế kỷ,và cũng chính những tác phẩm ấy,đã góp phần cải tiến cái xã hội,từ một lề lối nho phong hủ lậu,sang cuộc sống hiện đại hơn, phù hợp với thế kỷ XX hơn. Không thể chối cãi tác dụng của MAI trong Nửa Chùng Xuân,của LOAN trong Đoạn Tuyệt đối với người phụ nữ thời bấy giờ; bởi vì,ngay cả đối với một nữ độc giả “chưa tân tiến” lắm,chưa từng tham dự các phong trào nữ quyền,được xem như nhản hiệu của người phụ nữ văn minh,tân tiến- thì chắc chắn hiệu lực của Đoạn Tuyệt, và Nửa Chừng Xuân vẫn mạnh hơn các hình thức đấu tranh khác,bởi tác phẩm rọi thẳng vào lòng người: MAI,LOAN làm người phụ nữ phải suy nghĩ,khiến nam giới phải thay đổi thái độ ,và từ đó tác phẩm góp phần “giải phóng” người phụ nữ ra khỏi những đàn áp của chế độ phụ quyền,vẫn còn mạnh mẽ,đặc biệt trong xã hội ta. Cách xử dụng “quyền làm người” của MAI là trực tiếp: Mai tìm cách Tự Lực để khỏi lệ thuộc vào Lộc,Mai tự do và Mai tự lực,và chưa bao giờ một nhãn hiệu hay khẩu hiệu của một văn đoàn lại được nhà văn xử dụng một cách tài tình như thế trong tác phẩm văn học.Phong cách tự lực không riêng chỉ “giải phóng” cho Mai,cho người phụ nữ,mà nó còn là khẩu hiệu giải phóng dân tộc,giải phóng con người,cả nam lẫn nữ ; và nó là tinh thần tác phẩm Nửa chừng xuân. Khái Hưng thầm nói lên cái nền móng tư tưởng nằm trong hai chữa Tự Lực.và tiếp theo Hoàng Đạo xây dựng đường đi của văn đoàn bằng Con Đường Sáng.Thái độ của Loan,có tác dụng hành động: dứt khoát,cương quyết chống lại chế độ đại gia đình,chống lại cảnh khắc nghiệt mẹ chồng nàng dâu,đồng thời đưa ra một kinh nghiệm đấu tranh thực tiễn:không để cho bạo lực và ngu dốt nắm quyền,phải phản kháng một cách mãnh liệt bằng bất cứ giá nào…
_______________________________
NHẠC - SĨ TRẦM TỬ THIÊNG
Không những đất Quảng Nam đã sản sinh ra những nhà văn nổi tiếng góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà.Mà Quảng Nam còn có cả nhạc sĩ nổi tiếng,được cả nước mến mộ,đó là nhạc sĩ Trầm tử Thiêng,chúng ta hãy tìm hiểu sâu hơn một chút về thân thế và sự nghiệp âm nhạc của người nhạc sĩ tài ba của đất Quảng-Nam.
Tiểu sử và Nghề nghiệp:
Trầm tử Thiêng tên thật là Nguyễn văn Lợi,nghệ danh là :Trầm tử Thiêng,sinh ngày 1 tháng 10 năm 1937 tại quận Đại Lộc,tỉnh Quảng Nam.Nhưng trên giấy tờ ông được ghi sinh năm 1940. Thuở còn nhỏ ông đã đi ca hát tại các làng quê Miền Nam Việt Nam từ năm 1945 đến 1949.Sau đó ông lên Sài Gòn học Trung Học.
Năm 1958,Trầm tử Thiêng tốt nghiệp trường Sư Phạm,và bắt đầu sự nghiệp dạy học.Năm 1966,ông nằm trong độ tuổi quân dịch,nên ông đi lính và gia nhập vào Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng cục Chiến Tranh Chính Trị,trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.Trong thời gian nầy ông viết nhiều bản nhạc ca tụng người lính như: “Quân Trường vang tiếng gọi” “Đêm di hành” và “Mưa trên Poncho”.Một dấu ấn để lại sâu đậm trong lòng mọi người dân Việt Miền Nam Việt Nam là sự kiện Mậu Thân với “ Chuyện một chiếc cầu đã gãy” nói về cây cầu Trường Tiền bị sập.Năm 1970 ông viết “Tôn nữ còn buồn” nói về trận bão đã tàn phá Miền Nam.và tham gia vào phong trào du ca Việt Nam.
Từ năm 1975,nhạc sĩ Trầm tử Thiêng làm việc cho chương trình Phát Thanh Học Đường cùng với các nhạc sĩ Lê Thương, Hùng Lân, Vĩnh Bảo, Tống ngọc Hạp, Xuân Điềm,Bảo Tố, và Đắc Đăng.với Bút hiệu là Anh Nam,Trầm Tử Thiêng sáng tác các bài nhạc thiếu nhi đề tài về lịch sử,xã hội,văn hóa nhằm giáo dục cho học sinh Tiểu học toàn Quốc.Công việc nầy chấm dứt với sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.
Nhiều lần vượt biên không thành,Trầm tử Thiêng phải đi tù cải tạo một thời gian khá dài.Năm 1985 sau khi ra tù,ông được ca sĩ Thanh Thúy bảo lãnh sang định cư tại Hoa Kỳ,sống tại Little Saigon,tiểu Bang California. Tại đây ông làm cố vấn Ban Chấp Hành Hội KÝ Giả Việt Nam Hải Ngoại hai nhiệm kỳ 1996-2000.Cuối năm 1999, ông cùng các bạn văn nghệ sĩ sáng tác,lập thư viện tại Little Sài Gòn
Cuộc đời riêng tư: Trầm tử Thiêng là một nhạc sĩ tài hoa, sáng tác rất nhiều bản nhạc vàng nổi tiếng đã trở thành phổ thông làm say mê người dân Việt qua nhiều thập niên cho cả người trong lẫn ngoài nước.Nhưng cuộc đời riêng tư thì lại khá bi đát đối với người nhạc sĩ tài hoa nầy.
Khi làm việc cùng với các nhạc sĩ tài hoa khác trong chương trình phát thanh học đường,cùng vào lúc nầy ông cũng đã trải qua một chuyện tình trắc trở trong một thời gian rất dài.Người phụ nữ duy nhất gắn bó với cuộc đời ông là bà Đỗ Thái Tần, một thiếu nữ con nhà giàu,họ yêu nhau từ thời trẻ,nhưng bị cản trở vì cái môn đăng hộ đối đã ngăn cách họ đến với nhau. Mãi cho đến năm 1970,lúc nhạc sĩ đã 33 tuổi thì họ mới chính thức chung sống với nhau được,nhưng lúc nầy bà Tần đã có hai con với người chồng trước..Nhạc sĩ Trầm tử Thiêng vẫn chấp nhận mà thương như con ruột của mình.Hạnh phúc chỉ được vài năm thì biến cố 1975 ập đến.Lần nầy thì thời cuộc lại chia lìa hai người, bà Tần di tản nhạc sĩ Trầm ở lại mà lặng lẽ tiễn chân vợ và hai con trở thành một cuộc chia phôi một cách biền biệt,họ lại xa cách nhau cả một đại dương.Cuộc tình của họ lại đi vào ngõ cụt, người ở lại nhớ nhung dày vò tưởng chừng như bị chìm đuối.
Thời gian sau đó nhạc sĩ bị đi tù cải tạo đến năm 1985, khi ra khỏi tù,ông đã sáng tác bản nhạc : “Mười năm yêu em” để nói về cuộc tình trắc trở của mình cũng để kỹ niệm 10 năm xa vợ “Mười năm chia ly”.Sau đó người nhạc sĩ tài hoa nầy đã được người ca sĩ nỗi danh, đã từng ca những bản tình ca của nhạc sĩ đó là ca sĩ Thanh Thúy, bảo lãnh ông sang Hoa Kỳ. Nhưng cuộc đời thật trớ trêu,10 năm dâu bể trôi qua,trên đất khách ,người xưa đã không thể chờ đợi,mà đã tìm được một tổ ấm yên vui khác.Họ có gặp lại nhau,nhưng trong tư cách là gặp lại người cũ,trong tình huống nầy nhạc sĩ lại phải sáng tác “Tình Ca Mùa Đông” như là để từ biệt mối tình tuyệt vọng
Rồi từ đó về sau nhạc sĩ không bao giờ còn tay trong tay với một bóng hồng nào nữa…Để rồi khi sắp gặp lại nhau,mới biết em không đợi được nữa,Trời lại thêm mùa đông,cho tuyết tan trên đầu non, kỷ niệm giăng ngập đêm nay trong mưa, anh hứng nốt những giọt cuối mùa.Sau khi tới Mỹ,biết được cuộc tình tan vỡ,có thể để lấp cái buồn bởi từ cái số mệnh,Trầm tử Thiêng sáng tác thật mạnh mẽ,cộng tác với nhiều trung tâm băng, đĩa nhạc.Đặc biệt gắn bó với trung tân Asia của Anh Bằng cho đến cuối đời, năm 2000 người nhạc sĩ tài hoa nầy lại về với cõi vĩnh hằng,hưởng thọ được 63 tuổi.
Đến tại Mỹ,để lấp cái buồn riêng tư,Trầm tử Thiêng đã cộng tác với Trung tâm Mây, nhất là trung tâm Asia.Vào lúc nầy đã cùng nhạc sĩ Trúc Hồ sáng tác cho thể loại đồng ca như: Bước chân Việt Nam/Việt Nam niềm nhớ/Một ngày Việt Nam/ Cám ơn anh,… và những tình khúc như: Cơn mưa hạ/Đêm/Đã qua thời mong chờ/Tình đầu thời áo trắng,…và một bài hát khát của ông là Đêm nhớ về Sài Gòn viết năm 1987,đã được nhiều người biết đến.
Tháng 8 năm 1996,Trầm tử Thiêng viết: Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng nhân sự kiện một làng Việt Nam được xây dựng cho người Việt lưu vong tại Philippines.Bài hát nầy nổi tiếng bởi tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly.
Ngày 25 tháng 1 năm 2000,Trầm tử Thiêng qua đời tại trung tâm y tế Anaheim tây, California..
Năm 2007 Trung tâm Asia thực hiện chương trình Asia 54 Bước Chân Việt Nam để vinh danh ông cùng với nhạc sĩ Trúc Hồ.
Tác phẩm đã sáng tác riêng trước năm 1975.
.Ai biểu anh làm thinh (1974) / Ai đón em vào xuân / Anh tệ lắm! / Bài hát của tên du côn / Bài hương ca vô tận (1967) / Bài nhã ca thứ nhất / Bài vinh thăng cho một loài chim / Bài xuân nầy xin hát quanh năm / Bảy ngàn đêm góp lại (1967) / Biệt khúc / Bến hạnh ngộ / Bước chân buồn / Cách Biệt / Cây mùa xuân / Chuyện một chiếc cầu đã gãy (1968) / Cõi nghìn trùng / Con quốc Việt Nam / Ngày cuối trên phố đìu hiu / Đêm di hành / Đêm hạnh ngộ / Đêm trên quê hương / Đời không như là mơ (1974) / Đưa em vào hạ (1968) / Em có còn trở lại / Em không còn gì đâu / Gọi nhau / Hạnh phúc ta,hạnh phúc người / Hòa bình ơi! Việt Nam ơi! / Hỏi huế có thương không / Hối Tiếc / Kinh Khổ (1973) / Khúc sinh ca / Lệ sầu tiễn đưa / Làng hòa bình giả tưởng / Lời của con / Lờ tạ từ / Lời tiền thân của cát / Lời vỗ về cho ngày sầu muộn / Mai kia hòa bình / Mây hạ / Mộng sầu / Một sáng đẹp trời / Một sáng mai về (thơ Tùng Linh) / Một thời để nhớ / Một thời uyên ương / Mùa xuân không đợi / Mùa xuân nầy anh hát quanh năm / Mùa xuân trên cao (1968) Mưa trên poncho / Ngày chưa nguôi yêu dấu / Ngày không thấy mặt trời / Nghìn đêm như một / Người hùng cô đơn / Người em Ngọc Thụy / Người mang tên cô đơn / Người vợ nghèo / Nhà người góa bụa / Như gió như mây / Những con đường trắng (Thơ Tô Kiều Ngân) / Những ngày chưa nguôi yêu dấu / Quân trường vang tiếng gọi / Quên hay nhớ / Quê hương ngày em lớn / Ru nắng / Thầm thì / Thuở em hờn tủi / Tình cuối tình đầu / Tình khúc sau cùng / Tình ơi xin chào em từ tốn / Tôn nữ còn buồn / Tống biệt hành (ý thơ Thanh Tâm ) / Trả lời thư em (1967) / Trên đỉnh yêu đương / Trên quê hương hòa bình / Trộm nhìn nhau (1967) Trong cơn hy vọng / Trong đám xuân xanh ấy (ý thơ Hàn Mặc Tử) / Tuyết và người hùng / Từ đó đến nay / Tưởng không còn nhìn thấy nhau / Tưởng niệm (1968) / Yêu dấu chưa nguôi.
Sáng tác chung với Duy Khánh: Ngày xưa lên năm lên ba.
Sáng tác chung với Nhật Ngân: Quê nhà Quê Người / Ta đã gặp mùa xuân / Thư xuân hải ngoại.
Sáng tác chung với Tấn An: Lời chúc đầu xuân **(**1965) / Rồi hai mươi năm sau (Lời của mẹ,1966)
/ Lời của con.
Sáng tác chung với Trúc Hồ: Bên em đang có ta / Bước chân Việt Nam / Cám ơn anh / Cơn mưa hạ / Đã qua thời mong chờ / Đêm / Hẹn nhau năm 2000 / Một ngày Việt Nam / Việt Nam về trong nỗi nhớ.
Sáng tác tại Hải Ngoại :
Bài tình ca mùa đông / Bên nầy biển / Biển khơi niềm nhớ (Viết lời Việt 1989) / Biển tối / Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng / Cờ vàng bay trên phố bolsa / Chợt nghĩ về hai nơi / Cuộc tình Desmond Molly (Viết lời Việt Ob-La-Di Ob-La-Da) / Du ca trên thành phố đỏ / Dứt bão bắt đầu nước mắt / Đêm nhớ về Sài Gòn (1983) / Đò dọc ( Truyện Bình Nguyên Lộc, 1987) / Giã từ mùa đông / Gió mưa và anh (đồng sáng tác với Trúc Sinh) / Gởi em hàng lý / Gởi người ở lại / Em sầu như lòng phố / Hành ca trên nông trường oan nghiệt / Hành khúc cho quê hương / Hãy hát lên tin yêu / Hãy vui lên (Khi lòng còn biết buồn) / Hẹn về / Hương muộn / Lưu vong khúc (Viết lời Việt) / Mẹ Hậu Giang / Mười năm yêu em (1985) / Một đời áo mẹ,áo em / Một mai nếu yêu anh ( Viết lời Việt If I fell) / Nghe đất (Thơ Mai Thảo) / Người con gái trên đường Bolsa (thơ Trần trung Đạo) Người đẹp trong mơ (Viết lời Việt,1989) / Người ở lại đưa đò / Người tình mùa hạ / Nói với Hồng Kông / Nỗi niềm riêng (viết lời Việt (1998) / Quê nhà còn giông bão / Ta có ngàn năm đợi người thơ (thơ Du tử Lê) / Ta hát tình thương về biển Đông / Tâm ca của người tù vượt biển / Thà chết nơi nầy / Thầm Thì (đồng sáng tác với trịnh Nguyên) / Thư xuân hải ngoại / Tình buồn trên lối xưa (viết lời Việt (1989) / Tình bên suối thiên thu (viết lời Việt(1989) / Tình đầu một thời áo trắng / Tình yêu nồng ấm (Viết lời Việt 1989) / Trại tỵ nạn Galang / Trở về làng / Tuổi trẻ lên đường / Từ tiếng hát tiếp nối (1993) / Tưởng không còn nhìn thấy nhau / Vang vang tình Việt Nam / Yêu (truyện Chu Tử,1987).
Album:
. Tuyển tập nhạc: Trên đỉnh yêu đương- 16 bài Tình ca (1969).
.Tuyển tập nhạc : Tình ca dọc đường- 18 bài ca yêu thương sầu muộn (1970.
. Asia CD 141- Vanious Artists :Giòng nhạc Trầm tử Thiêng- Trong niềm thương nhớ (2000).
Tất cả các sự kiện được ghi lại bên trên đó là tất cả di sản về cuộc đời của người nhạc sĩ tài hoa Trầm tử Thiêng, người con dân được sinh ra trên đất Đại Lộc,Quảng Nam.Ông đã để lại cho đời được quá nhiều tình khúc,góp phần làm vui cho cuộc sống con người.Ông đã góp phần làm rực rỡ cho cái xứ đất “Địa Linh,Nhân Kiệt) Quảng Nam vậy.
________________________________________________
NHÀ THƠ BÙI GIÁNG
Là sự cố tình,tôi giành riêng phần ghi lại về nhà thơ Bùi Giáng nơi phần cuối bài viết, về phần “Điểm danh những người con xứ Quảng Nam” kể cả văn lẫn võ.Họ đều là những con người yêu nước chân chính, luôn muốn đem tài sức của mình phục vụ dân tộc, không những là những nhà Cách Mạng,mà kể các nhà văn cũng vậy, họ mượn văn chương để cảm hóa con người, cải tạo xã hội, quyết loại bỏ tính chất hủ lậu của chế độ quân chủ tập quyền, cái chế độ dậm chân tại chỗ làm cản trở bước tiến của cả một dân tộc, tại sao phải làm thế ? Bởi vì nhà thơ Bùi Giáng phải được liệt vào hàng đặc biệt ngoại hạng,ông không thể xếp ngang được với bất cứ một nhà văn,nhà thơ nào khác của xứ đất Quảng Nam,kể cả những nhà cách mạng. Bởi trên con người ông từ thể trạng đến tinh thần đều chất chứa những điều kỳ lạ khác thường đối với mọi người,do vậy mà tôi lại phải xếp ông vào hàng ngoại hạng.Không phải riêng tôi, mà cái nhìn từ ngay các nhà văn,nhà thơ, các nhà phê bình,bình luận văn chương, đều có cái nhìn về nhà thơ Bùi Giáng là như thế: từ thể trạng, đến tinh thần đều thừa nhận ông khác xa với mọi người. Không những thế mà chính ông cũng đã tự nói về mình như vậy , ông tự thú nhận, ông là một người “Điên” là nhà thơ “Đười ươi”. Chính từ cái “điên” và cái “Đười ươi” của ông,nên nhà thơ Bùi Giáng người con của xứ đất Quảng nam lại phải được xếp vào hàng ngoại hạng là vậy.
Thực sự thì nhà thơ Bùi Giáng,ông có điên không ?,có, nếu nhìn từ vóc dáng bên ngoài, từ cái lớp quần áo rách rưới dùng để che thân ,thì quả Bùi Giáng là một người điên không thể chối vào đâu được.Nhưng ngược lại cả thơ cho chí cả văn của ông, thì ông Bùi Giáng không điên chút nào,một khi ông đã thốt ra thành lời từ cửa miệng,nó luôn toát ra một đạo lý mang đượm mùi minh triết.Tất cả các nhà văn,nhà thơ, nhà phê bình cũng đều nhìn ông trong cái tầm hiểu biết của họ là như vậy,nên ông phải được liệt vào hàng ngoại hạng.

(chân dung nhà thơ Bùi Giáng)
Đôi nét về tiểu sử của nhà văn Bùi Giáng,trước tiên ta biết ông là cháu ngoại của Tổng Đốc Hoàng Diệu,con ông Bùi Thuyên và bà Huỳnh thị Kiền ( người vợ thứ hai) là con gái của ngài Tổng Đốc.Ông Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu,xã Vĩnh Trinh,huyện Duy Xuyên,tỉnh Quảng Nam.Ông mất vào lúc 2 giờ chiều ngày 7 tháng 10 năm 1998 tại bệnh viện Chợ Rẫy,Sài Gòn,hưởng thọ 72 tuổi.
Đến giờ nầy thơ văn của nhà thơ Bùi Giáng chưa một ai có thể quên vì thơ văn của ông đang bàn bạc khắp mọi nơi, nhưng có một điều cần phân biệt cho thật đúng, nhà thơ Bùi Giáng “điên” hay “tĩnh”.Rất khó mà giải thích về vấn đề nầy.Nhiều người cứ cho ông là người điên do nhìn từ áo quần rách rưới,ăn bận lôi thôi,lết thết, mà chính ông cũng tự cho mình là như vậy,hãy nghe ông tự kể về tiểu sử của mình.
Nhà văn Bùi Giáng tự ghi tiểu sử của mình vào cuốn sổ tay trong một buổi trưa ngày 10/11/1993 gởi nơi thầy Thích Nguyên Tạng (Chùa Pháp Vân,Gia Định,Sài Gòn,nay định cư tại Melbourne Úc Châu) như sau:
.1926,được bà mẹ đẻ ra đời .
.1928- bị té bể trán,vết sẹo còn nguyên kỹ niệm,hai năm trời chết đi sống lại.
.1933 bắt đầu đi học a,b,c…trường làng tại Thanh Châu với thầy Cù đình Quý.
.1936- học trường Bảo An với thầy Lê trí Viễn
.1939- ra Huế học tư thục với những thầy Cao xuân Huy, Trần đình Đàn, Hoài Thanh Nguyễn đức Nguyên, Đào duy Anh, vân vân.
.1940 – về Quảng Nam chăn bò.
.1942- trở ra Huế,vì nhớ nhung gái Huế.
.1949- nhập ngũ bộ đội công binh,hai năm sau giải ngũ
.1952 vào Sài Gòn,1955 (57) khởi sự viết về Nguyễn Du và một vài nhận xét về truyện Kiều và một vài nhận xét về Bà Huyện Thanh Quang, một vài nhận xét về Chinh Phụ Ngâm…(Tân Việt xuất bản)
.1957. Tân Việt xuất bản : Giảng luận về Tản Đà Nguyễn khắc Hiếu,giảng luận về Chu mạnh Trinh,giảng luận về Tôn thọ Tường và Phan văn Trị.
.1969- bắt đầu điên rực rỡ,
.1970,
-1- Lang thang du hành lục tỉnh, (khách sạn Long Xuyên Bà chủ cho ở đầy đủ tiện nghi không lấy tiền)
-2- Gái Châu Đốc Thương yêu và gái Long Xuyên yêu dấu,
-3 – Gái Chợ Lớn khiến bị bịnh lậu (bịnh hoa liễu)
. 1971-75-93
. Điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang
. Rong chơi như hài nhi (con nít)
. Được gia đình ông Phó chủ tịch (482) Lê quang Định,Hội đồng Thành Phố đối xử thơ mộng thênh thang.
. Kính dâng Kim Thúy,Kim Hồng, Kim Hoa,đôi lời rốt cuộc….
.Bình sinh mộng tưởng vấp phải niềm thương yêu Kim Cương Nương Tử,Hà Thanh Cố Nương và Mẫu Thân Phùng Khánh (tức Trí Hải Ni Cô)
. Do đâu mà ra được như thế?
.Đáp: Có lẽ đầu tiên kỳ tuyệt là do ân nghĩa bốn bề thiên hạ đi về tập họp tại Già Lam,Vạn Hạnh và Long Huê và Tịnh xá Trung Tâm và Pháp Vân và xiết bao Chùa Chiền Miền Nam nước Việt, không biết nói sao cho hết.
Tôi xin ghi lại câu chuyện biết được một khía cạnh nhỏ về cuộc sống của nhà thơ Bùi Giáng tại Sài Gòn,do vị thầy học cũ của tôi kể cho nghe vào một ngày cuối tuần tại trại cải tạo Tiên Lãnh.Ở đời lại có nhiều cái lạ,tôi cùng với cả ba vị thầy học cũ đều được nhốt chung cùng trại cải tạo tại Tiên Lãnh trong những năm từ 1976-1978,khi chưa bị đưa đi các phân trại, đó Là các thầy Trịnh Thể,Đỗ Ái,và Nguyễn Hoàng Huân.Gần gũi nhiều hơn là tôi với thầy Huân,vì ông là người Bình Quý (gần quê),cháu nội cụ Tiểu La,có chút quan hệ bà con xa..Thầy Huân vào các năm trước ngày 30 tháng 4 năm 1975,ông giữ chức vụ:Công Cán Ủy Viên phủ Phó Tổng Thống Trần Văn Hương,kể cả trước đó gia đình ông đã sống tại Sài Gòn một thời gian dài.
Ông thầy kể,đã có lần vì buồn, nên lại đến ở chung với ông Bùi Giáng một thời gian (sau khi vợ ông: Bà Cô Hoàng qua đời),ông Bùi Giáng lúc nầy chưa bị bịnh điên nặng.Ông Bùi có người chị ruột đi theo lo việc cơm nước cho ông,cách sống của ông rất đơn giản,trải một chiếc chiếu để nằm ngay chính giữa phòng,chung quanh chiếc chiếu nằm được chất quanh nhiều hàng sách, sách chồng lên sách thành những chồng cao lên cả thước, có nghĩa Là sách là sách. Không cần bàn ghế,lúc cần viết ông cứ kê lên chồng sách thấp hơn vừa tầm làm bàn, ngồi bệch trên chiếu mà viết.
Đọc qua bản tiểu sử tự viết của ông,tôi mới hiểu ra 1969 ông bị điên nặng, bởi nhà ông đã bị cháy trong một trận hỏa hoạn đã cháy hết,cháy nhà thì không tiếc lắm,nhưng cháy hết cái gia sản quý hiếm nhất của ông “là sách”,trong đó có rất rất nhiều loại bản thảo viết về văn học,cả thơ chưa kịp in.Do vậy mà ông bị điên nặng, nghiệm ra là đúng.
Đến đây thì tôi xin được trích những đoạn văn viết về ông,để gọi là làm tài liệu truyền lại cho các thế hệ sau để họ biết,vào cái thời chúng tôi có mặt tại thế gian,đất Quảng nam của họ cũng đã có một nhà văn,nhà thơ rất là đặc biệt,thuộc vào hàng ngoại hạng đối với các nhà văn nơi xứ đất Quảng Nam.Như vậy coi ra đất Quảng Nam không hổ với cái danh được gọi là cái xứ: “ĐỊA LINH,NHÂN KIỆT”.
Các giai đoạn mà thời gian đã lướt qua cuộc đời ông Bùi Giáng như sau:
(Bài viết của nhà văn: Bùi chí Trung,trong nước)
Bài viết về ông Bùi Giáng của một người họ Bùi,nhưng không phải là bà con mà chỉ cùng mang họ Bùi mà thôi.Đó là nhà thơ Bùi chí Trung.
Ông Bùi Giáng sinh tại làng Thanh Châu,xã Vĩnh Trinh,huyện Duy Xuyên,tỉnh Quảng Nam,vào ngày 17 tháng 12 năm 1926. Mất ngày 7 tháng 10 năm 1998. Bùi Giáng, ông là một nhà thơ,nhà dịch giả,và nghiêm cứu văn học Việt Nam.Ông nổi tiếng từ thập niên 1960 với tập Mưa Nguồn.Ngoài việc ký tên thật là Bùi Giáng ông còn có các bút danh khác là : Bàn Dùi,Bùi Giáng Dúi v..v.
Bố của ông Bùi Giáng là ông Bùi Thuyên,thuộc đời thứ 16 của giòng họ Bùi ở Quảng Nam.Do người vợ cả qua đời sớm,nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh thị Kiền.Bùi Giáng là con thứ hai của ông Bùi Thuyên với bà Huỳnh thị Kiền,nhưng là con thứ năm nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài Gòn,ông được gọi theo cách gọi Miền Nam là Sáu Giáng.
Sau khi học xong bậc tiểu học ở trường Bảo An tại huyện Điện Bàn,tỉnh Quảng Nam,Bùi Giáng được gia đình cho ra Huế tiếp tục học ở trường Trung Học Thuận-Hóa,đang học thì thế chiến thứ hai bùng nổ,Nhật hất cẳng Pháp, rồi đến Cách mạng Tháng Tám.Nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành Chung.
Bùi Giáng cưới vợ năm 18 tuổi (1944),vợ ông là bà Phạm thị Ninh nổi tiếng xinh đẹp,nhưng chỉ vài năm sau, bà bị bịnh ,sinh non,và cả hai mẹ con đều chết.Nhiều người cho rằng đây là 1 lý do khiến Bùi Giáng bị điên từ lúc trẻ.
Rồi Bùi Giáng theo kháng chiến. Năm 1950,khi có kỳ thi Tú Tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức.Bùi Giáng dự thi và đậu Tú tài 2 văn chương.Ông qua liên khu IV,tới Hà Tỉnh để tiếp tục học Đại Học,bằng cách đi bộ theo đường mòn trên núi hơn một tháng rưỡi trời. Nhưng khi đến nơi,nhưng không hiểu sao ngay trong ngày khai giảng,Bùi Giáng đã quyết định bỏ học để quay ngược trở về Quảng Nam,rồi theo chân đàn bò rong ruổi khắp các vùng đồi núi 2 năm.
Tháng 5 năm 1952,Bùi Giáng ra Huế lấy bằng Tú Tài, để có thể vào Sài Gòn theo học Đại Học. Nhưng một lần nữa lại bỏ học khi đọc danh sách các giáo sư giảng giạy ở ĐH Văn Khoa.Sau sự cố nầy Bùi Giáng không bao giờ đi học nữa.
Rồi Bùi Giáng chuyên tâm vào việc nghiên cứu,viết sách và sáng tác thơ văn.Những người thân cận cho biết ông đã về quê bán tất cả ruộng vườn được thừa kế để lấy tiền in sách. Từ năm 1957,ông lần lược cho ra đời một loạt sách giới thiệu về văn học Việt Nam như Truyện KIều,Lục Văn Tiên,Chinh phụ Ngâm…. Ông nổi tiếng bởi tốc độ sáng tác nhanh: Tập thơ “Mười hai con mắT” được ông sáng tác chỉ trong một đêm Noel năm 1992.
Từ năm 1962,Bùi Giáng liên tục cho ra đời nhiều đầu sách,mỗi năm đều đều vài ba cuốn.Ông là một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở Miền Nam sách của ông có thể chất thành chồng cao cả mét, thơ thì phải kể bằng đơn vị nghìn bài.
Năm 1969,tất cả sách vở cùng với nhà cửa bị cháy hết trong một cơn hỏa hoạn.Ông bị sốc nặng,từ đó trở đi ông là bệnh nhân quen thuộc của viện dưỡng trí Biên Hòa.
Từ năm 1975 trở đi ông vẫn tiếp tục sáng tác rất nhiều thơ,nhưng thời gian nầy ông có biểu hiện bịnh tâm thần nặng.Ông thường rong chơi nghịch ngợm ngoài đường với bộ đồ rách rưới,dơ dáy,nhiều lần bị công an bắt vì gây rối trật tự,cản trở giao thông.
Tháng 10 năm 1998,trong một lần đi chơi ông bị té làm chấn thương sọ não.Sau khi hỏi ý kiến của nghệ sĩ Kim Cương,bệnh viện chợ Rẫy quyết định mỗ cho ông,song đã qua đời vào ngày 7 tháng 10 -1998.
Chuyện tình cảm:
Bùi Giáng chỉ có một vợ là bà Phạm thị Ninh,một thiếu phụ hồng nhan bạc mệnh,đã để lại cho ông nhiều đau khổ.Đó là lý do để trong thơ của ông sau nầy thường xuyên nhắc đến sự mất mát,sự chia ly,một hình bóng cũ…”. Có hàng cây đứng ngóng thu / Em đi mất hút như mù sa bay, hay những dòng thơ trên bia mộ của Bùi Giáng: Đùa với gió,rởn với vân / Một mình nhớ mãi / Gái trần gian xa / Sương buổi sớm,nắng chiều tà / Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu.
Song ngoài người vợ đầu,Bùi Giáng cũng có những đối tượng khác để yêu,để làm thơ,ngoài mối tình đơn phương nổi tiếng dành cho nghệ sĩ Kim Cương, còn phải kể đến những mối tình vượt không gian với những mỹ nhân Tây phương như Marilyn Monroe (mà ông gọi là Lyn-Rô) Brigitte Bardot,ngoài ra trong thơ ông còn có những hình bóng của ca sĩ Hà Thanh,Thái Thanh,ni cô Trí Hải tức là Phùng Khánh (ông gọi là mẫu thân Phùng Khánh) hay cả những nhân vật tiểu thuyết Marguerite,A Châu,A Tử.
Riêng mối tình đối với Kim Cương được cho là sâu đậm nhất,và đã để lại nhiều giai thoại.
( Bài viết nầy tác giả ghi rõ phỏng theo tài liệu từ Wikipedia)
_________________________________________
Một bài khác của Vương Trùng Dương đăng trên Việt Báo Foundation tại Hải Ngoại.
Lời Tác Giả: Bài viết về Bùi Giáng,Đại Lão Cái Bang cho Giai Phẩm Xuân Bính Tý (1996) của tuần báo Tình thương của nhà văn Lâm Tường Dũ (hiền thê của anh,bà con với Bùi Giáng) gợi ý tôi viết bài nầy để có món quà kỹ niệm người anh vào tuổi thất thập.Nhờ tài liệu của anh Bùi như Hải lưu trữ hổ trợ cho bài viết.
Sau khi Bùi Giáng qua đời ( tháng 10 năm 1998) có nhiều bài viết cũng tựa đề nầy vì hình ảnh và cuộc sống cá biệt của ông tựa như nhân vật trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung trong võ lâm Ngũ Bá đến Anh Hùng Xạ Điêu…Bang chủ Cái Bang đời thứ 18 xuất hiện trong chốn võ lâm. “Lão ăn mày” ăn mặc rách rưới,võ công thâm hậu,thích rượu,lúc say,lúc tỉnh,khi tỉnh lặng,khi ồn ào náo nhiệt giữa đám quần hùng.Con người như vậy nhưng hành hiệp đạo nghĩa,bênh vực kể yếu,trừ ác gian tà.
Ở Sài Gòn khi chính quyền ban hành “sắc luật 007” để kiểm soát báo chí,Hội Chủ Báo,Hội Ký Giả Việt Nam,Hội Ký Giả Nam Việt,và Hội Ái Hữu Ký Giả xuống đường ngày 10/10/1974"Ký Giả Đi Ăn Mày” tại Sài Gòn.Lợi dụng thời cơ,phần tử nằm vùng,phản kháng,a dua bị gậy phản đối chính quyền.Từ đó, hình ảnh cái bang” trở thành quen thuộc.
Nay với tuyển tập về Quảng Nam,dù 25 năm trôi qua (1996-2021) nhưng với nhân vật Quảng Nam nổi tiếng trong nhiều lãnh vực thơ văn,dịch giả và triết học: Bùi Giáng. Con người bất hạnh trong cuộc sống nhưng sáng tác của ông là gia tài quý báu trong dòng sinh mệnh văn học của Miền Nam VN- VTrD.
Mùa xuân hẹn thu về em trở lại / Bên đời đi còn giữ mãi hay không / Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại /Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non bồng. (Bùi Giáng).
Bước vào năm Bính Tý (1996). Bùi Giáng vừa tròn tuổi thất thập.Với cuộc sống lang bạt kỳ hồ,túi vải,chân đất,lang thang giữa chợ đời,gầm cầu,hè phố dầm sương ,dãi nắng,bửa đói bửa no,gần bốn thập niên,qua bao thăng trầm bịnh tật,vẫn còn sáng tác ở tuổi cổ lai hy,đó là một hiện tượng.Ông ký nhiều bút hiệu,trong đó có: Trung Niên Thi Sĩ,Thi Sĩ,Bùi Bàn Dúi,Bàng Dúi,Bùi vân Bốn,Vân Mồng (truyện dịch Khung cửa hẹp,Hoàng Tử Bé)…
Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật,Bùi Giáng để lại cho đời biết bao giai thoại từ trí tuệ đến con người,đó là một hiện tượng.Ngôn ngữ thi ca của Bùi Giáng là một hiện tượng. Tình yêu (nếu có) dù đơn phương cũng là một hiện tượng. Chữ nghĩa,tư tưởng Bùi Giáng có sẵn trong đầu,khi yêu cầu bài viết,lấy giấy viết ngay.Hiện tượng Bùi Giáng.
Bùi Giáng,nhà giáo,dịch giả,nhà văn,nhà phê bình văn học,triết học nhưng đó chỉ là quán bên đường,người bạn tri kỷ,tri bỉ: thi ca.
*Ngược dòng thời gian :
Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại Vĩnh Trinh, Duy Xuyên,Quảng Nam.Thân phụ là ông Bùi Thuyên,thường gọi là Cửu Tý.Ông Cửu Tý thỉnh thoảng bị bịnh “ điên” và khi “điên” thì làm bộ cởi ngựa bằng mo cau đi từ làng Trung Phước đến làng Cà Tang đọc thơ,làm câu đối thích chọc ghẹo cô gái cho vui. Ông Cửu Tý lấy người vợ kế Huỳnh thị Kiền,sinh ra Bùi Giáng.Theo thứ tự trong gia đình,ông thứ sáu nên gọi là sáu Giáng.Nhà thờ tộc Bùi với gia phả ghi lại nơi đây và nơi nầy có thêm ở Sài Gòn.
Năm 1933,bắt đầu đi học tại trường làng Thanh Châu với thầy Cù Đình Quý,Năm 1936 học ở trường làng Bảo An với thầy Lê trí Viễn. Tiếp tục theo học Tiểu Học ở Hội An,Quảng Nam,rồi sau đó chuyển sang học Trung Học ở Thuận Hóa,Huế.Năm 1945 đậu bằng Thành Chung (Văn bằng nầy thời đó gọi là Cao Đẳng Tiểu Học,tiếng Pháp là Diplôme d’Etudes primaire Superieur Franco-Indigènes, còn gọi là Brevet Primaires,người Việt thường gọi là bằng Thành Chung,bằng Diplôme). Trong năm nầy,ông 19 tuổi,cưới vợ là Phạm thị Ninh,gọi là Vãn Ninh,rất xinh,con ông bà Phán Trai ở Hội An.
Thời điểm nầy tình hình biến động,ông đưa vợ về quê sinh sống,nhưng tai họa ập đến,vợ qua đời! Ông đau khổ,chán chường rời cố hương.Thiên tình sử của ông rất đặc biệt.Khi còn học ở trường Viên Minh,Hội An.Nữ sinh Phạm thị Ninh,học sau ông một lớp,nổi tiếng xinh đẹp,quen biết nhau rồi cưới làm vợ tại Hội An.Năm 1945 gia đình bà Phạm thị Ninh tản cư lên Trung Phước,ông đem vợ lên rồi mua một đàn dê đi chăn. Ông nuôi dê để rong chơi và còn đặt tên cho mỗi con dê rất kỳ lạ.
Theo nhà thơ Tường Linh,học trò học tiếng Pháp của Bùi Giáng,vào một buổi sáng,trời mưa dầm dề,Bùi Giáng đang ở trên núi thì nghe tin vợ mình qua đời. Ông hốt hoảng chạy ra ngoài trời và vấp vào một gốc cây,ngã xuống bất tỉnh.Người vợ mà ông rất thương yêu,sau nầy ông thường gọi là “con mọi nhỏ”, bà bị bạo bệnh và mất vào năm 1952,lúc mới 26 tuổi.Ông thôi hẳn việc chăn dê,chia tay hẳn với cỏ hoa hồn du mục để xuôi về phố thị rộn ràng.
Năm 1950 ông đỗ Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie) Ông ra Liên khu IV ( Thanh Nghệ Bình Trị Thiên) theo học đại học,nhưng khi nghe Viện Trưởng đại học đọc diễn văn,ông bỏ ý định theo học. và theo đường núi Trường Sơn trở lại cố hương. Tháng 5 năm 1952,ông ra Huế thi lấy bằng Tú Tài tương đương cho hợp lệ.
Theo lời người Bào đệ,cùng cha khác mẹ,ông Bùi Vịnh,trong ngày Hội Thi Văn & Tư Tưởng Bùi Giáng ngày 21 tháng 10 năm 1995 tại Majestic,Huntington Beach,California,Bùi Giáng “Có vợ vào lúc còn rất trẻ,sau năm 1945.nhưng vì đi tản cư ở vào những nơi rừng thiêng nước độc,người vợ trẻ đã qua đời sau cơn bạo bệnh” Ông chung tình,chung nghĩa với “mộng ban đầu” suốt nửa thế kỷ ôm vọng tưởng,điên loạn bởi “hồn nguyên tiêu” bao nhiêu hình ảnh mang dáng dấp của người tình muôn thuở vào cõi thiên thu,ngôn ngữ Bùi Giáng trở thành kỳ bí.
. “ Vào tháng Năm 1957,ông quyết định bỏ vùng Việt Minh trốn qua vùng Quốc Gia.Và tại Huế,ông thi lại bằng Tú Tài tương đương,rồi vào Sài Gòn,ghi danh vào Đại Học Văn Khoa. Cả lần nầy nữa, sau khi nhìn danh sách các giáo sư giảng dạy,ông đã quyết định chấm dứt việc học ở trường của mình tại đây.Ông bắt đầu viết khảo luận,sáng tác và đi dạy học ở các trường trung học tư thục..” (Bùi Vịnh)
Với dòng họ Bùi lúc đó nổi danh với bác sĩ Bùi kiến Tín, trưởng nam của ông Bùi Biên (ông cửu Thứ) và bà Phan thị Yến.BS Tín tham gia vào nội các của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm với chức vụ Bộ Trưởng Thông Tin (1954). Sau khi nền Đệ Nhất Công Hòa được thiết lập,ông không tham chính và phục vụ trong quân đội với cấp bậc Y Sĩ Trung Tá, sau đó giữ chức Y Sĩ Trưởng Phủ Tổng Thống và Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống (1960).Bùi Giáng đã tham gia trong thời kỳ Việt Minh,nhưng có lẽ “cái bóng” của người anh bà con nên chính quyền không theo dõi ông, nhưng ông không nhờ vã gì vào cái bóng để lập thân.
Ông có năng khiếu về ngoại ngữ,tinh tường về Anh,Đức,Pháp và Hán Văn, không biết ông theo học tiếng Đức và tiếng Anh lúc nào,nhưng khi nghiên cứu triết học Đức, thơ văn Anh, Mỹ,ông dịch và viết rất tài tình. Ông có trí nhớ kỳ lạ và “trí quên” rất độc đáo. Quên của ông cũng là hiện tượng và có lúc không biết gì cả,cùng với cử chỉ,hành động kỳ quái,người điên thời đại.
GS Vũ Ký thầy dạy của ông,trong bài “Nhớ Về Ba Người Em Lỗi Lạc” trong giai phẩm Quảng Đà 94 “ Từ năm 1943 ấy,Bùi Giáng thôi học ở Hội An,rồi lui về cố hương làm Tô Vũ mục dương ở Trung Phước,miền rừng núi xứ Quảng.Theo nhiều người cho biết,Bùi Giáng nghêu ngao làm thơ, ca hát,điên khùng suốt năm tháng.Lúc tôi gặp lại ở Sài Gòn thì Bùi Giáng đã nghỉ dạy học tư, để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ở ngõ hẻm Trương Minh GIảng và Bùi Giáng cũng vừa mới in xong mấy cuốn sách giáo khoa”.
“ Với tất cả Bùi Giáng” của Trần phong Giao, Bùi Giáng “Lập gia đình năm 18 tuổi, nhưng không được hạnh phúc bao lâu vì chiến tranh và nạn lụt đã cướp mất vợ và hai đứa con thơ của ông”. Đó là mốc thời gian tuổi niên thiếu của ông được đề cập qua Ba người có liên quan với ông,nhưng đã khác nhau. Theo sự ghi lại của “người thầy cũ và cũng là người anh” thiếu chính xác thời điểm quan trọng trong giai đoạn 9 năm “kháng chiến” đã ảnh hưởng sâu đậm trong cuộc đời Bùi Giáng. Ông tham gia “kháng chiến”,theo Việt Minh nhưng khi đụng chạm thực tế,ông ngán ngẫm,gặp bất hạnh trong tình yêu,tâm hồn điên loạn…
Sau 3 năm “chia cắt” đất nước, phân ranh Quốc / Cộng, ông mới chọn lựa quyết định ranh giới giữa hai miền. Bài Thơ “Nỗi lòng Tô Vũ” của ông đã ghi “ kỷ niệm một đoạn đường mười năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt”.
Không bao giờ muốn và để ai đề cập “tiểu sử”, theo ông “ Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ,và chết đi giữa cỏ cây ly kỳ,gay cấn”. Và hai câu thơ của ông: “Người điên mang một nỗi buồn.Chưa bao giờ biết cội nguồn từ đâu” để trả lời tha nhân. Tuy nhiên, công việc của nhà nghiên cứu Văn Học cần phải tìm kiếm chính xác,nhìn lại Văn Học Việt Nam,ông là khuôn mặt đặc biệt trong văn giới. Từ tuổi thơ đến thời điểm “ tam thập nhi lập” (1926- 1936) trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm,nỗi đau tột cùng trong tình yêu. Vì vậy trước năm 1975,nhiều cây bút viết về tư tưởng,thơ văn Bùi Giáng,nhưng không đề cập về “tiểu sử” nên có nhiều nghi vấn cùng với giai thoại quanh ông.
Tháng 5,1973,Mai Thảo và Nguyễn xuân Hoàng của tờ Văn thực hiện “ số báo đặc biệt về thiên tài thi ca Bùi Giáng” 10 câu hỏi của Nguyễn xuân Hoàng về Bùi Giáng có tính cách khác lạ và cả hai cùng hỏi và cùng nói “Chuyện rong chơi”. Nhận định thơ văn của ông với Thanh tâm Tuyền,Năm Chữ. Trần tuấn Kiệt,Tuệ sĩ…Với ông,sáng tác chẳng có liên quan gi đến tiểu sử, trong thơ đã chứa đựng đoạn đường trải qua.
Có nhiều tác phẩm đã đề cập đến ông,điển hình Cao thế Dung với Văn Học Hiện Đại: Thi Ca & Thi Nhân; Năm Sắc Diện,Năm Định Mệnh của Du Tử Lê; Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay của Tạ Tỵ; Thi Ca Việt Nam Hiện Đại của Trần tuấn Kiệt…
Sau tháng Tư năm 1975, Cái Bang Bùi Giáng với nhiều giai thoại nói lên cái điên, cái tỉnh trong cảnh khốn cùng của xã hội. Một Bùi Giáng quằn quại, một Bùi Giáng ngông nghênh, một Bùi Giáng vào tù ra khám…và một Bùi Giáng cuồng sĩ bất khuất.
* Tác Phẩm:
Gần hai thập niên ở Sài Gòn,tác phẩm của ông với số lượng đáng kể:
-Sách giáo khoa,Luận Đề :- Bà Huyện Thanh Quan,1956- Lục Vân Tiên,1956- Chinh phụ Ngâm & Quan Âm Thị Kính,1956- Truyện Kiều & Truyện Phan Trần,1957- Cung Oán ngâm khúc,1957- Nguyễn công Trứ,1957- Tản Đà Nguyễn khắc Hiếu,1958- Phan bội Châu,1958- Chu Mạnh Trinh,1958, Tôn thọ Tường & Phan văn Trị,1958…
Sách Dịch: Cõi người ta của Saint-Exupéry,1956 – Trăng tỳ Hải của Albert Canmus, André Gide, Martin Heidegger,1966- Khung cửa hẹp của A.Gide,1966, Hoa ngõ Hạnh của Shakespeare,1966 – Bạo chúa Caligula của Albert Canmus,1967-1974 – Kim Kiếm Điêu Linh của Ngọa long Sinh,1967 – Ngộ Nhận của A.Canmus,1967 – Con Người Phản Kháng của A.Canmus,1968 – Mùa Hè Sa Mạc của A.Canmus.1968 – Kẻ Vô Luân của A.Gide,1968 – Orphélia Hamlet của Shakespeare,1969 – Hòa Âm Điền Dã của A. Gide,1969 - Sương Bình Nguyên của các tác giả Âu Mỹ,1969 – Hoàng Tử Bé của Saint –Exupery,1973 – Mùi Hương Xuân Sắc của Gerald de Narval,1974…. Ông dịch rất thoáng,có khi không theo nguyên tác mà theo ý văn để diễn đạt . Còn sáng tác thơ tặng tác giả. Ông dịch Kim Kiếm Điêu linh của Ngọa Long Sinh để học thêm chữ Hán . Tác phẩm Nhà Sư Vướng Lụy của nhà văn Trung Hoa,nhà sư tên là Tô Mạn Thù (Su Manshu), Bùi Giáng dịch từ nguyên tác, Quế Sơn xuất bản 1969. (Có Bản dịch sang tiếng Anh The Lone Swan của George Kin Leung).
Sáng Tác:
-Thơ Mưa Nguồn,1962- Ngàn Thu Rớt Hột,1962 – Bài Ca Quần Đảo,1962 – Lá Hoa Cồn,1963 – Màu Hoa Trên Ngàn, 1963 – Sa Mạc trường Ca,1969 – Đêm Ngóng Trăng,1972…
_ Biên Khảo, Tạp Văn,Tùy Bút- Tư Tưởng Hiện Đại,3 quyển,1960 & 1962 – Mattin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Đại,2 quyển,1963 – Sao Là Không Có Triết Học Heidegger,1969 – Đi Vào Cõi Thơ, 1969 –Thi Ca Tư Tưởng, 1969 – Sa Mạc Phát Tiết,1969 –Sương Bình Nguyên,1969 – Trăng Châu Thổ,1969 – Mùa Xuân Trong Thi Ca, 1969 – Thúy Vân,Tam hợp Đạo Cô,1969 – Mùa Thu Trong Thi Ca,1970, Biến Động Xe Cát,1970 – Ngày Tháng Ngao Du, 1971 – Đường Đi Trong Rừng, 1972 – Lời Cố Quận,1972 – Lễ Hội Tháng Ba, 1972 – Con Đường Ngã Ba, 1973…
Năm 1965 nhà ông bị cháy làm mất nhiều bản thảo của ông. Năm 1969 ông “bắt đầu điên rực rỡ” nhưng được các nhà xuất bản in nhiều tác phẩm nhất. Sau đó,ông “lang thang du hành Lục Tỉnh”, trong đó có Long Xuyên,Châu Đốc…cho thỏa chí nguyện.Thầy Thanh Tuệ,giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, rất thân với Bùi Giáng và lo ấn hành tác phẩm. Nói đến Bùi Giáng con người nhập tâm Truyện Kiều của thi hào nguyễn Du. Có lần ông dạy Việt Văn,khi đề cập đến Thúy Kiều bán mình chuộc cha,ông khóc nức nỡ. Ngay trong tác phẩm viết về triết học, ông cũng dẫn chứng tư tưởng đó có trong thơ Kiều. Và,trong các tác phẩm Âu Châu qua bản dịch của ông cũng thấp thoáng “hồn Nguyễn Du” thấp thoáng. Với những tác phẩm được ấn hành,tuy có nhiều tiền tác quyền nhưng ông “thú vui kẻ sĩ” không lưu giữ, “nướng” cho thú vui trong lối sống giang hồ bạt mạng trên đường phố.
(Xin được lược bớt một đoạn)
.Nơi nào ông xuất hiện,đám đông vây quanh nhất là trẻ con bu quanh “diễn viên Cái Bang” náo nhiệt. Ông xuất thần với những câu thơ,được truyền tụng lại thật hư không biết, nhưng cái điên của ông mới bạo gan chửi chế độ như vậy. Từ đó,”Cái bang 9 túi” lang bạt suốt hai thập niên . Bất kể mưa nắng,màn trời chiếu đất,thân xác gầy còm…thế mà sống thọ qua tuổi thất thập.
“ Có hôm gặp ông ngoài đường.Ông mặc quân phục chế độ cũ,lon lá huy chương đầy mình.Mọi người sợ hết hồn,vì thời gian ấy các sĩ quan chế độ cũ phải lên đường đi học tập cải tạo,kẻ nào trốn cũng khó thoát khỏi lưới tình báo nhân dân” (Nguyễn thụy Long- Giữa Đêm Trường)
Ông cũng tự giải thích:
“Tôi điên là bởi tôi điên / Cầm tay cô hỏi cho phiền lòng nhau / Tôi điên từ trước đến sau …” (Bùi Giáng “Thơ Bùi Giáng,hải ngoại 1990”).
Sống chết với ông như lời tự nguyện:
“ Hãy mang tôi tới giữa đời / Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo / Hãy mang tôi tới nắng chiều / Giết tôi chết giữa một chiều khe nương” (Sa Mạc Trường Ca 1969).
Tại hải ngoại,có 3 tuyển tập về thơ Bùi Giáng sáng tác vào sau năm 1975:
-Thơ Bùi Giáng, năm 1990,nhóm Việt Thường ở Canada thực hiện,gần 200 bài thơ.
-Thơ Bùi Giáng Thế kỷ 1994,Phạm xuân Đài thực hiện,gồm 106 bài thơ.
-Thơ Bùi Giáng, California 1995, Bùi Vịnh & thân hữu thực hiện,gồm 81 bài thơ,tranh bìa “Thiếu nữ” do Bùi Giáng vẽ.
- Chớp biển Anaheim,1996,
Suốt bốn thập niên,Bùi Giáng đã cống hiến cho đời, cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam thật nhiều tác phẩm gồm đủ mọi thể loại.Một con người không có nơi nương tựa ổn định,thể chất gầy gò,bệnh tật,tâm tính lúc bình thường khi điên loạn mà tạo dựng :kho tàng quý báu” cho văn học Việt Nam,điều rất lạ,không thể hiểu được.
Ngôn Ngữ và cuộc sống :
Gần gũi,tiếp xúc với Bùi Giáng,mỗi lần ,có thể nói giai thoại về ông, thương mến,cảm quý con người tài hoa nhưng sống đầy khổ hạnh.
Viết về Bùi Giáng, với Mai Thảo: “Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa,Bùi Giáng trùng trùng một biển văn Chương…Sự hình thành một tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn còn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn nụt,cái bất tuyệt thao thao,cái chớp mắt là của nó…Bùi Giáng đã đem lại cuộc đời biết bao nhiêu châu ngọc. Bằng tài thơ trác tuyệt.Bằng ngôn ngữ ảo diệu,không tiền khoáng hậu.Có ông, thi ca mới đích thực có biển có trời. Từ ấy, thi ca mới không cùng không tận”.
Thế mà, chân dung, đời sống của nhà thơ “Mái tóc ông đổi màu. Mấy chiếc răng cửa bị gãy,nụ cười vừa trẻ thơ vừa móm mém. Cặp mắt sâu hoắm xa khuất dần với mọi hình hài thực tế…Ông ấy chỉ còn da bọc xương trong quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải còn thêm cây gậy…Có lúc thấy nói ông đeo một xâu chuỗi toàn giày dép và quần áo phụ nữ quanh cổ như một vòng gai quái dị,đám con nít reo hò chỉ chỏ người điên,người điên. Có khi nghe thấy, ông ẩn lánh ở ngôi chùa vùng ngoại ô thành phố,ăn chay niệm phật cả ngày không nói”.Bùi Giáng cũng tạo được một cái lạ mà theo tôi là một cái ngang…
“Trần gian lắm kẻ không cơm áo / Mà còn thơ thẩn cứ nhìn trăng”
Bùi Giáng có cái giọng bạt đó và cái giọng bạt đã ảnh hưởng vào âm vận của thơ Giáng” ( Uyên Thao – Thơ Hiện Đại).
( Xin được lược bớt một đoạn )
Dẫn chứng vài cây bút tượng trưng viết về ông ở trên cho thấy con người của ông bất thường,đời sống của ông bất định,nay đay mai đó,ngôn ngữ của ông có lúc thật huyễn hoặc,kỳ bí, lúc thật bình dị,nhẹ nhàn,lúc thanh,lúc tục.Quan niệm sáng tác của ông “chơi mà thôi”,chẳng có gì bận tâm,chẳng có gì để bàn.Cuộc đời của ông ở giữa trần thế chỉ là ngày tháng ngao du,rong chơi,ung dung tự tại.
Trước kia,Thượng Tọa Thích Minh Châu dành cho ông căn phòng ở Đại Học Vạn Hạnh,ông chỉ để sách vở rồi rong chơi đầu đường xó chợ,gặp đâu ngủ đó bất kể nắng mưa,đêm ngày. Sau nầy thân nhân lo cho ông túp lều trong vườn ở Gia Định,căn phòng nhỏ trên lầu ở đường Trần quang Diệu Sài Gòn,ông để đó,rong chơi dưới gầm cầu Công Lý,vỉa hè.
Với ông,tư tưởng triết học của M.Heidegger,Nietzsche, thi ca của Holderlin, Walt Whitman, Emely Dickinson… Văn chương Pháp của A.Guide,St Exupery, A. Camus, văn chương Anh của Shakespeare… Ông chọn lựa và chuyển ngữ rất linh động,tài tình.Cuộc đời của ông điên,tỉnh,ông đã đề cập trong tác phẩm, tình yêu huyễn hoặc thấy bàn bạc trong thơ văn. Tư tưởng triết học,tư tưởng cao siêu của con người,theo ông, đều có đề cập trong Kiều của Nguyễn Du. Với Bùi Giáng, Truyện Kiều là một thứ “mê hồn trận thị phi”. Bùi Giáng tôn thờ Nguyễn Du và M. Heidegger như “thánh nhân tư tưởng”. Tác phẩm Martin Heidegger, & Tư Tưởng Hiện Đại dày hơn một nghìn trang là một công trình biên khảo triết học từ năm 1963, còn xa lạ với bộ môn nầy ở Miền Nam Việt Nam. Đôi lần tôi hỏi anh Trần Văn Nam,sau khi tốt nghiệp cử nhân giáo khoa Triết học Tây Phương,vừa đi dạy,tiếp tục với luận án cao học về Hiện tượng luận,từ quan niệm của Husserl được thay đổi bởi Heidegger,anh nói bộ môn nầy rất nhức đầu nhưng cũng từ tác phẩm của Bùi Giáng nên anh chọn đề tài cho luận án.
Sức sáng tạo của ông rất kỳ diệu. Như một tay võ công tuyệt luân khi xuất chiêu liên tục bất tận. Trong một đêm,ông viết cả trăm trang cho một tác phẩm.Gặp ông, hỏi thơ để đăng, ông sáng tác ngay tại chỗ,viết như đã nhập tâm từ trước.
Với năng khiếu về ngoại ngữ và cách học của ông, chọn tác phẩm để học,đọc,tra cứu.Biết hết chữ nghĩa của các tác phẩm là biết được ngôn ngữ nước đó. Vì vậy,khi tìm hiểu M.Heidegger,ông học tiếng Đức mới hiểu được tư tưởng. Văn chương Pháp,Anh,ông chuyển dịch từ nguyên tác. Chuyển ngữ lại từ tác phẩm được chuyển ngữ (không nguyên bản) thì không còn thoát được cái ý của nó. Chẳng hạn thi phẩm Ngàn Thu Rớt Hột của ông nghe rất văn chương bóng bẩy, đó là “hình ảnh cứt dê” bao năm ông gần gũi với nó trên núi rừng . Làm sao chuyên ngữ thoát được cái âm điệu,hình ảnh bóng bẩy đó được, hay thi phẩm “Lá Hoa Cồn” ẩn ngữ bí hiểm.
Bây giờ đành chịu xa nhau / Em vào hang núi tôi ra hố ngàn / Gởi linh hồn lại nhân gian / Ôi người Hải ngoại,ôi nàng Phương Tây”. (Bây giờ còn lại- Lá Hoa Cồn 1963).
Có lần Huy Tưởng, nhà thơ Tam Kỳ, Quảng Nam,gặp và hỏi chơi với ông chuyện chăn dê có thi phẩm “Rớt Hột”, nghe nói ông có chăn bò ở quê đúng không? – Đúng! Đúng? Đúng với cái đầu của họ. Rồi cười thỏa mái,xem như hỏi chơi,đáp chơi rồi thôi.
Nguồn thơ của ông dạt dào,bất tận,ông viết nhiều về hình ảnh ở quê hương,ở núi rừng Trung Việt. Điều bắt gặp trong thơ của ông với chữ Kim ở đầu. “Người tình trong thơ” Kim Nowak,Kim Cương.Ngòai ra với vài hình bóng các cô Kim…thấp thoáng.
“ Ôi phương cảo! Ôi Kim Liên / Cảo thơm Kim Thú diện tiền Kim Hoa! / Ôi Kim Ngọc! Ôi Kim Nga / Chắc gì mai hận mà ra phụ lòng”. (Ra Hoa).
“Tuy nhiên hồn mộng chan hòa / Đầu tiên Kim Thúy, Kim Hoa thập thành / Cuối cùng thừa thượng Kim Thanh / Đi về vô tận tập thành Kim Liên / Kim Nga,Kim Ngọc điện tiền / Đầu sương cuối tuyết thần tiên bấy chầy”. ( Cuối ngày em đi).
Ông lang thang với thời gian quá dài cho một đời người,xem cuộc sống nhẹ như tơ hồng, xem cuộc đời ảo thật, thật hư, thế gian đảo điên, nhưng đôi lúc tìm trong thơ ông mới cảm nhận được nỗi thống khổ thiết tha cho mối tình đầu đã hoài công tìm lại:
“ Chắp tay tôi lạy ông trời / Tìm người yêu giúp giùm tôi một lần” (Tìm Em ).
Khi làm kẻ chăn dê và hình ảnh nơi cố hương được ông mô tả qua dòng thơ rất tuyệt:
“ *Đồi tăm tắp chạy về ôm chân núi. / San sát đồi phủ phục quấn núi xanh / Chiều xuống rồi tơ lòng rộn ràng rối / Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh / Thôi từ nay tha hồ em mặc sức / Nhảy múa tung sườn núi vút giòng khe / Thôi từ nay tha hồ em mặc sức / Vang vang lên đồi núi giọng be be” . (*nỗi lòng Tô Vũ).
Và, trong khung cảnh đó,ông bày tỏ nỗi niềm cùng hình ảnh người yêu:
“ Em nhớ hay không hồn hòa dại cỏ / Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya / Vàng cao gót nai đầu truông hãi sợ / Gió cây rung trút lá mộng tan lìa” (Nỗi lòng Tô Vũ).
Ông lấy hình ảnh Tô Vũ đời Hán Vũ Đế,đi sứ sang Hung Nô bị giữ lại và đày đi chăn dê gần hai thập niên. Vì vậy,nỗi lòng Tô Vũ là nỗi lòng của kẻ lưu đày giữa chốn trần gian.
Hình ảnh người vợ, người tình ban đầu,yêu thương say đắm,đã vĩnh viễn ra đi để lại cho ông nỗi thống khổ với tình,với thủy chung hình bóng cũ:
“ Em chết bên bờ lúa / Để lại trên đường mòn…/ Đêm cuồng mưa khóc điên / Trăng cuồng khuya trốn gió… / … Anh đi về đô hội / Ngó phố thị mơ màng / Anh vùi thân trong tội lỗi / Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang” (Bờ lúa – Mưa Nguồn,1962 ).
“Miền cát lạnh chân lạc đà bé bỏng / Bóng hình em tơi tả dưới trăng rằm” (Người Xưa, Mưa Nguồn) .
Chỉ có Bùi Giáng và duy nhất chỉ có ông mới gọi những “bóng hồng” bằng mẹ. Hiện hữu hay ở phương trời xa xôi. Ông ngông đến thế,bỡn cợt hay lòng thành kính,huyễn hoặc với ngôn ngữ thi ca,cũng là hiện tượng.
Phùng Khánh và Phùng Thăng là hai dịch giả nổi tiếng qua vài tác giả văn học,Phùng Khánh là ni sư giữa thập niên 1960.Ông ngưỡng vọng hai dịch giả nầy:
“ Mẹ còn nhớ nữa con chăng / Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên / …Phùng Thăng mẹ chớ xui nên / Từng cơn điên dại khôn đền cho con” … “Con thương Phùng Khánh vô ngần / Phùng Thăng thân mẫu cũng gần như nhiên”…
Có lúc Bùi Giáng gọi là thân mẫu Phùng Khánh,có lúc gọi là Trí Hải ni cô.Cùng lúc với Marilyn Monroe, Kim Novak, Kim Cương nương tử…nên ông yêu điên cuồng,nguyện làm đệ tử của thần ái tình.
Nhưng có khi ông coi mình như vị vua với người tình:
“Trẫm ghé thăm em / Một bận này / Mai sau trẫm sẽ / Nhớ hôm nay / Một lần Trẫm ghé / Thăm em thế / Suốt một bình sinh / Trẫm nhớ hoài” …(Trẫm ghé thăm- Lá Hoa Cồn).
“ Trẫm nhớ em như / Nhớ một người / Rất gần mà cũng / Rất xa xôi”… (Trẫm nhớ Em= Lá Hoa Cồn).
Bất hạnh trong tình trường,ông rong ruổi trong nỗi bất hạnh đó qua ngôn ngữ bằng thơ, văn, bằng trái tim rướm máu,bằng tài hoa lỗi lạc của Bùi Giáng và có lẽ duy nhất với cái tên Bùi Giáng.
Văn thơ cùng tư tưởng của Bùi Giáng đi vào lịch sử văn học đất nước, đánh dấu một giai thoại về Bùi Giáng sống cùng những cái “điên loạn,ngông khùng” của Bùi Giáng,cũng sẽ được nhắc nhở hoài trong văn chương,văn học “ (GS Vũ Ký) Phải hiểu con người Bùi Giáng mới cảm nhận được ý thơ, văn và tư tưởng của ông,ông sáng tạo lúc tỉnh,ngao du lúc động để mãi mãi đi tìm hình ảnh xa thẳm,mịt mù! Hồn thơ luôn luôn chất chứa trong Bùi Giáng,bất luận ngày đêm,gặp đối tượng khơi động,dòng thơ tuôn trào.Tâm hồn Bùi Giáng chu du mộng mị khắp bốn phương trời để “thơ và giai nhân” kết tinh thành,”thiên cổ lụy” ngất ngây,nồng nàn,say đắm hòa cùng điên dại trong ngôn ngữ thi ca.Viết về bản thân, ông phơi bày cái tốt,cái xấu,khi tỉnh,khi điên…nhưng mọi người vẫn quý mến,thán phục tài năng của ông.
Với thi ca,nó nhập vào trái tim,tâm hồn,định mệnh ông khi điên,lúc tỉnh khi hoan lạc,lúc khổ đau…Ý thơ,hồn thơ,chất thơ…của Bùi Giáng nếu đề cập không đơn giản qua bài viết, cũng vài trăm trang sách.
Một hình bóng,suốt cả cuộc đời trôi nổi với hệ lụy khổ đau, một nhân tài không bao giờ có được mùa xuân nhưng với tâm hồn thanh thoát,ông không quan tâm mọi người nhìn ông với đầu tóc bù xù,áo quần tả tơi,kỳ quái trên đường phố…mà tự bản thân ông cho mình rong chơi trong cõi ta bà mộng mị với “Ngày Tháng Ngao Du”…
Khi còn sống ở giai đoạn cuối đời,Bùi Giáng bị bỏ quên từ con người đến tác phẩm ở trong nước.Khi ông qua đời,nhiều người “Làm văn tế ruồi” như Kim Cương với “nước mắt cá sấu” được báo chí tung hê.Tình đời là vậy! Bùi Giáng bỏ lại bao mối tình cô độc để trở về với người vợ năm xưa nơi cố hương,vĩnh viễn bên nhau nơi cõi thiên thu. (Vương Trùng Dương 1996- Viết thêm khi Bùi Giáng mất 1998).
Bùi Giáng lại trở về với người vợ năm xưa
Phục hiện hình ảnh yêu dấu xưa, là dấu tích của người vợ để lại,một không khí rất đổi bi ai của thi sĩ.
Em chết bên bờ lúa / Một dấu chân bước của / Một bàn chân bé con! / Anh qua trời cao nguyên / Nhìn mây buồn bửa nọ / Gió cuồng mưa khóc điên / Trăng cuồng khuya trốn gió / Mười năm sau xuống ruộng / Đếm lại lúa bờ liền / Máu trong mình mòn ruỗng / Anh đi về đô hội / Ngắm phố thị mơ màng / Anh vùi thân trong tội lỗi / Chợt đêm nào, gió bờ nọ bay sang .
Và :
Ông gọi bà là “con mọi nhỏ” để thổ lộ cái tình yêu đối với người vợ nhỏ bé của mình,ông coi bà là một con người thật tinh khiết,trong trắng, nên được ông thể hiện tình yêu đậm đà của ông với người vợ mà ông coi rất trong sáng tinh khiết như giọt sương mùa xuân,giọt sương ban đầu đã khai sáng tình yêu lứa đôi trong lòng ông.Cách gọi như vậy là thể hiện hết bản chất của con người Quảng Nam.
Mọi em là mọi sương xuân / Ban sơ núi đỏ chào mừng non xanh / Rồi rốt cuộc em vui cười như thể / Những tình yêu thương nhớ đã phục hồi / Tờ giấy mỏng anh tô bồi hồng lệ / Gởi cho em tình mộng đất xa trời / Giờ ly biệt, ta xin em đừng khóc / Nào phải không ? Lệ chảy có vui gì? / Trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc/ Nước xuôi dòng,ngàn thu hận ra đi .
Và đây ta hãy nghe Vũ Đức Sao Biển nói về tâm tình của Bùi Giáng, nhớ đến người vợ thân yêu và thơ ông viết cho người vợ thân yêu “Con mọi nhỏ” thân yêu- con mọi nhỏ giữa núi rừng Trung Việt,càng lúc càng đậm đà niềm thương yêu trìu mến. Sống trên một miền đất mang nặng đấu ấn của văn minh lúa nước Ấn Độ giáo,người Quảng Nam tôn thờ,ca ngợi Huyền tẫn- Nguyên lý Mẹ của triết học phương Đông. Người Quảng Nam đặt tên cho giòng sông lớn nhất của tỉnh mình là sông Thu Bồn. Thu Bồn- tiếng Champa. Là tên một cô gái bản địa mới mười lăm tuổi,đã có tấm lòng hy sinh,bảo bọc, che chở người dân sống hai bên giòng sông.
Do cô gái đó chết đi khi còn đồng trinh,người Quảng Nam vẫn xưng tụng là bà Thu Bồn- người mẹ của xứ sở. Sông Thu Bồn có nghĩa là Sông Mẹ. Lễ hội phục thị Bà Thu Bồn diễn ra vào mùa xuân hằng năm trên đất Duy Xuyên,cho ta biết người Quảng Nam tôn trọng nguyên lý Huyền Tẫn đến chừng nào.
Văn minh lúa nước phương Đông ấy đã đi sâu vào tâm thức Bùi Giáng. Cũng dễ hiểu thôi,quê nhà ông ở kế cận khu đền tháp Mỹ Sơn- biểu trưng của văn hóa Ấn Độ giáo,của văn minh lúa nước phương Đông. Ông lớn lên là đã thấy cả ngàn Apsara xinh đẹp nhảy múa trên tháp cổ, thấy Linga và yoni được tạc bằng sa thạch giao phối.Ông lớn lên bên giòng sông Thu ,uống nước sông Thu, tắm nước sông Thu.Cho nên nguyên lý Huyền Tẫn thấm vào máu thịt của ông. Ông phong tặng người vợ của mình –con mọi nhỏ,lên thành mẹ của giang san:
Em thành mẹ của giang san,/ Em là thần nữ đoạn trường chở che.
Thơ ông càng lúc càng trang trọng khi viết về người vợ,viết cho người vợ.Tất cả cái mẫu tính dịu dàng,hồn nhiên,tươi đẹp,đôn hậu toát lên từ con người của bà Bùi Giáng khiến ông cảm phục vợ. Từ một con người cụ thể,mảnh mai, bà qua đời và vụt trở thành hình tượng cao quí nhất trong lòng ông,trong thơ ông:
Em thuyền quyên ban mưa móc xum xuê / Em rắc gieo khắp xứ sở bốn bề / Suốt địa hạt tình quê hương ba ngõ / Anh quỳ xuống gọi em : Em mọi nhỏ.
Ở lại giữa quê nhà, có được những tháng ngày lang thang giữ dê,đọc sách là một hạnh phúc. Thế nhưng trong khung cảnh ấy,ông nhìn nơi đâu cũng có bóng dáng,hình ảnh của “em mọi nhỏ” hiện ra. Hình ảnh ấy càng hiện ra thì trái tim Bùi Giáng còn phải hứng chịu nỗi đau tình khôn tả. Chính vì vậy,ông chọn sự ra đi:
Sẽ đi cùng bước chân mùa / Bóng vang sầu cũ tháp chùa rộng thênh / Hào hoa bỏ lại bên mình / Là thiên thu đẹp làm thinh bên đường.
Thế nhưng, ra đi không phải là quên được. Cái vang bóng về cố quận,về hình tượng người vợ cứ còn mãi đó trong lòng ông. Tập Mưa nguồn có thể xem là tập thơ viết về cố quận,viết cho vợ. Tập thơ thể hiện gần như trọn vẹn tài hoa thi ca của Bùi Giáng- Lúc nầy mới ngoài ba mươi tuổi,vẫn còn là thanh niên Bùi thi sĩ. Thơ ông thật tuyệt vời; thi ảnh lung linh, thi tứ tràn trề niềm cảm xúc,dịu dàng và lãng mạn bay bổng như khúc Roman trong âm nhạc Piano cổ điển:
Em về mấy thế kỷ sau / Nhìn trăng có nhớ nguyên màu ấy không? / Ta đi,gởi lại đôi dòng / Lá rơi có dội vào trong sương mù?.
Lắm khi ở phương xa,ông nhớ cố quận.Trí tưởng tượng phong phú đưa ông trở về với cố quận, đối diện với bà về cuộc sống đoàn viên,ước mơ hạnh phúc. Thế nhưng,còn gì nữa đâu giữa nguồn xưa hư vô. Thơ Bùi Giáng đau cái nỗi đau nát ngọc tan vàng:
Anh cứ ngỡ đùa vui trong tí chút / Đâu có ngờ đùa mãi đến điêu linh.
Mà đời ông sau cái chết của Bà, trở thành điêu linh thật. Tôi đọc Tiếu Ngạo Giang Hồ của nhà văn Kim Dung, thấy ông tả tướng mạo của chưởng môn phái Hành Sơn Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh “tướng mạo vô cùng điêu linh cổ quái”. Ngay sau, gặp Bùi Giáng lần đầu,tôi cứ nghĩ ông là hiện thân của Mạc Đại tiên sinh; cũng “ Cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm âm” – Trong cây đàn dấu thanh kiếm,kiếm la lên lại phát ra tiếng đàn.
-Bờ mây trắng dựng cuối trời bóng dáng / Của ban sơ hoài vọng giữa nhân gian / Lòng vạn vật mơ màng chiều qua sáng / Em về nhanh cho mây trắng buông màn / ….Đời xiêu đổ, nguồn xưa anh trở lại /Giữa hư vô,em giữ nhé,ngần nầy /.
Tội nghiệp, qua mấy mươi năm , hình ảnh người vợ trẻ, hiên ngang ấy vẫn sống trong lòng ông. Ông uống trà giữa Sài Gòn mà hình ảnh của bà ngày xưa ở Quảng Nam như hiển hiện ra trước mặt.
-Trung niên thi sĩ uống trà / Thưa em mọi nhỏ,em đà uống chưa? /Bỗng dưng trận nhớ về trưa / Nhớ chiều sương núi chớm vừa trở cơn / Sắt se giết chết cung đờn / Nhận chìm cung bậc vang hồn thưa em.
Một nửa cuộc đời ông,một nửa trái tim ông dành để nhớ bà.Đáng yêu thay hình tượng người phụ nữ Quảng Nam trong thơ Bùi Giáng:
Bây giờ đối diện riêng tôi / Còn hai con mắt khóc người một con.
Bùi Giáng thật đa tình nhưng cũng thật chung thủy. ( Vũ Đức Sao Biển ).
Ghi thêm vào đây một bài nữa của người Sài Gòn.
Người Sài Gòn 18 tháng 10/ 2017.
Đoạn dưới đây trích từ “Bùi Giáng” thơ Tiên hay thơ Điên? Trong “Hồi ức một đời người” Nguyễn ngọc Chính,kể lại những giai thoại “hậu -1975” về một nhà thơ nổi tiếng một thời của Sài Gòn xưa.
****
Bùi Giáng không đi Mỹ như người ta đồn. Bùi Giáng vẫn còn sống và sống rất mãnh liệt ngay trên mãnh đất Sài Gòn vừa đổi chủ. Thỉnh thoảng, người ta nhìn thấy Bùi Giáng “Làm cảnh sát giao thông” giữa cầu Trương Minh Giảng; có lúc ông trú mưa dưới mái hiên Trung tâm Ngoại ngữ Đại học Sư phạm (Đại học Vạn Hạnh trước 1975) Đôi khi ông đến thăm khu tăng ni và các thiền viện qua những câu chuyện kể của quý thầy…. Bùi Giáng bụi bặm,gầy gò, nghêu ngao,tự tại:
“…Sài Gòn,Chợ lớn rong chơi ? / Đi lên ,đi xuống đả đời du côn…”
Xét cho cùng ông chẳng hề “du côn” chút nào! Phần ‘du côn’ ông đã khiêm tốn ‘nhường lại’ kẻ khác…
“ Ở đời sáng uống cà phê / Quán trong hẻm nhỏ như quê quán nhà / Ngoại ô thành phố phồn hoa / Ấy Sài Gòn ấy thiết tha bấy chầy”.
Thơ ông không thiếu những từ “ lạ” như ‘ hạ quyết tâm’; ‘bốc lột’…chỉ xuất hiện sau ngày Sài Gòn sụp đổ:
“ Ngày nay hạ quyết tâm rồi / Về trần thế bốc lột người thế gian / Tình yêu đã lỗi muôn vàn / Chỉ còn bốc lột vạn ngàn máu tim…/ Mỗi năm mồng một ra giêng / Con dẫn ông dạo suốt miền vực khu / Khu nầy Bình Thạnh quận khu / Khu trên Gò Vấp tuyệt trù lưu phong / Dưới kia Bà Chiểu Lăng Ông / Lên xe buýt thẳng dông chơi Sài Gòn”.
Sau khi Sài gòn thất thủ,người ta cũng bắt gặp một Bùi Giáng quảy trên vai bó cũi,đầu kia thì loảng xoảng nồi niêu soong chảo… Một hình ảnh khiến ta liên tưởng đến những người từ vùng kinh tế mới trở lại đô thành. Bao hình ảnh chợt thoáng qua như một đoạn phim ngắn về cuộc sống của người Sài Gòn. Đời trở nên chật vật,trật tự xáo trộn,kinh tế khó khăn. La Toàn Vinh viết về Bùi Giáng sáu 1975;
“ Đến những ngày sau 1975,Bùi Giáng vẫn cứ làm con người Bùi Giáng, con người nhân chứng cho cảnh đời,cho bao bể dâu biến đổi và nếu như cuộc đời ví như một vở kịch thì người thắng cuộc lại là những người đóng trọn vai tuồng một cách xuất sắc”.
Cuộc đời Bùi Giáng, về cuối, rất ngang tàng. Đã có rất nhiều giai thoại về ông. Người ta kể,có lần nhà thơ Huy Cận từ Miền Bắc vào Nam,nói chuyện ở Cao Đẳng Mỹ Thuật,Bùi Giáng xuất hiện,đi tới,đi lui ở trước cổng trường và chửi đổng; “ Mẹ mày Huy Cận,mẹ mày Huy Cận” Sinh viên vào báo cho ban giám hiệu,nhưng tất cả đều im lặng.
Họa sĩ đồng hương Hồ thành Đức.phu quân họa sĩ Bé Ký,có lẽ là người biết rất nhiều về Bùi Giáng trong giai đoạn ‘hậu giải phóng’; Đại khái chuyện như sau:
Huy Cận, Thứ Trưởng Bộ văn hóa,có bài thơ được Bùi Giáng sửa lại khi mang ra giảng dạy.Huy Cận biết được, phục tài sửa thơ của họ Bùi nên lúc vào miền Nam đã cho người tìm Bùi Giáng để thăm. Nhưng,sau năm 1975 Bùi Giáng đã thành “ Chủ Cái bang”; biết đâu mà tìm. Nhân viên ông Thứ Trưởng tìm đến nhà họa sĩ Hồ thành Đức,bởi sau năm 1975,nơi ở của họa sĩ xem như chỗ vãng lai của nhiều nhân vật văn nghệ miền Bắc.
Anh Đức chạy kiếm nhà thơ và khuyên ông: “Anh à, đến thăm ông Thứ Trưởng,anh phải ăn mặc cho đàng hoàng,về nhà em tắm rửa rồi lấy áo quần em thay” . Bùi Giáng không nghe,cứ mặc nguyên áo quần rách rưới hôi hám,ai đời quần xà lỏn mà thắt cà vạt,lại tòn ten trên người lon hũ linh tinh.
…Huy Cận ra tận cửa đón Bùi Giáng,nhưng thoạt nhìn đã phải quay đi vì không thể nhịn được cười. Huy Cận gọi nhà thơ là Tiên Sinh,chuyện vãn thân mật.Cuối cùng ông hỏi Bùi Giáng;
- Tiên sinh có cần giúp đỡ gì không xin cho biết?
Bùi Giáng nói như thật:
-
Ông Thứ trưởng giúp cho mấy chữ để tôi trình công an chớ họ gặp là đánh tôi bầm mình,bầm mẩy.
-
Huy Cận viết cho Bùi Giáng mảnh giấy đại ý: Nhà thơ Gùi Giáng,bạn tôi,ông ta có tính hay đi lang thang,các anh em công lực thông cảm giúp đỡ.
Mãnh giấy như là bùa hộ mệnh,anh Đức bảo đưa photo để cất bản chính,nhưng Bùi Giáng không chịu.Mấy bửa sau,gặp lại,anh Đức hỏi”
-
Sao công an còn khó dễ với anh không?
-
Nó vẫn đánh tao hộc máu.
-
Sao không trình giấy cho họ?
-
Thì tao chưa kịp lấy giấy ra nó đã đánh rồi.
-
Lại có chuyện đồn một hôm nhà thơ lang thang trên đường Lê lợi,gặp một phụ nữ người Âu,ông thản nhiên.. bóp vú cô đầm.Công an can thiệp,ông nói tỉnh bơ: Tôi chỉ muốn thử xem hai bầu vú Liên Xô có còn nuôi nổi Việt Nam không”.
-
Một lần khác trong chợ An Đông,ông giật một chiếc xe đạp của bà bán dạo trên đường,Bà hàng đuổi theo,ông trả lại và nói: “ Mất cả nước thì không la,mất cái xe đạp lại la oai oái!”.
-
Và Phù hợp nhất bài thơ dưới đây:
Những người tưởng mình tỉnh / Té ra là người điên / Điên như BÙI TIÊN SINH / Triệu thằng tỉnh không bằng / Điên mà nhìn thấy được / Nhiều năm sau năm trước / Đau thế thái nhân tình / Đau đồng loại điêu linh / Đau nổi đau nô lệ / Đau áp bức bất công / Một tiên ông trần tục / Thường hay bị nhục hình / Bởi kẻ tưởng mình tinh (tỉnh) / !!!!!! (Phương Nguyễn).
.
Bùi Giáng là một hiện tượng,được gọi là: HIỆN TƯỢNG BÙI GIÁNG.
Một cái nhìn của nhà văn Thụy Khuê về “Hiện tượng Bùi Giáng”. (Trên Sóng từ trường II)
Sinh thời, Bùi Giáng bảo: “Hãy để cho tôi yên,tôi dại.Đừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có ai bàn đến thơ tôi..”. Có lẽ vì tôn trọng nhà thơ,cho nên ít ai bàn đến thơ ông. Ca tụng Bùi Giáng thì nhiều,nhưng phê bình Bùi Giáng thì ít.
Như thơ,Bùi Giáng sống tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng,cả đời lục bát. Tại sao lục bát?
Lục bát bởi vì đối với Bùi Giáng “Lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất,kỳ ảo nhất của năm châu bốn bể,ba bảy sông hồ” .Đó là lộng ngôn của Bùi Giáng.
Về bản thân mình, Bùi Giáng tự họa: “ Nhe răng cười trong bóng tối… Không bao giờ bắt chuồn chuồn mà cứ bảo rằng mình luôn bắt chuồn chuồn…. Không thiết chi đọc sách,mà vẫn cặm cụi đọc sách hoài…Chán chường thi ca mà cứ làm thơ hoài… Chuốc sầu vạn đại thì bảo rằng mua vui cũng được một vài trống canh”. Đó là mâu thuẫn Bùi Giáng.
Hỏi về tiểu sử; Bùi Giáng trả lời:
Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu, / Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa / Gọi tên là một hai ba, / Đếm là diệu tưởng,đo là nghi tâm. ( Đó là vô tâm BùI Giáng*).*
Xin được mượn lời nhận xét về hiện tượng Bùi Giáng của nhà văn Thụy Khuê mở đầu bài “Hiện Tượng Bùi Giáng” trên sóng Từ Tường II,để kết lại phần ghi về nhà thơ Bùi Giáng, một thiên tài thuộc vào hàng thiên tài ngoại lệ nên cũng phải được liệt vào hàng ngoại hạng trong hàng thi sĩ của cái xứ đất Quảng Nam ta vậy.
______________________
Cần tìm hiểu sâu hơn về xứ đất Quảng Nam,là vùng đất được vinh danh là “Địa Linh”.
Từ những yếu tố địa lý gồm: núi,sông, đồng bằng,ao hồ và biển cả,đó là những cảnh quan tạo nên thế đối lập của một vùng đất,sự đối lập ấy đã tạo nên sự tương tác với nhau để tạo thành cái “LINH”. Cái linh ấy tức là kết quả từ linh khí do sự đối lập giữa những cung ngũ hành, mà tạo thành các yếu tố mà các nhà địa lý, phong thủy đã nhìn ra được sự tương tác ấy, một khi các yếu tố đã tạo nên sự tác động với nhau để hình thành nên cái “linh” để tạo thành cái hồn cho một vùng đất .
Vì vậy, xứ đất Quảng Nam chúng ta cũng không thể vượt ra ngoài cái qui luật tự nhiên trên, đã Không vượt ra ngoài cái qui luật ấy,ắt phải có những yếu tố đặc biệt của nó.Chúng ta nên tìm hiểu kỹ hơn về khía cạnh nầy,để có một niềm tự hào về cái “linh” của cái xứ đất mà mỗi người trong chúng ta đã mặt nhiên nhận nơi ấy làm quê hương,mà được mệnh danh là xứ “Địa Linh” và từ cái xứ địa linh của vùng đất ấy đã tạo ra biết bao nhiêu là “Nhân Kiệt” mà chúng ta đã ghi nhận được bên trên.
Sự tương tác phong thủy giữa núi,sông,biển cả đã tạo nên “ĐỊA-LINH” cho vùng đất Quảng nam,nó được hình thành bởi sự kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố địa hình,khí hậu,và dòng chảy.Núi cao tạo thế che chở sự rủi ro được ví như là “Tả Thanh Long,Hữu Bạch Hổ” trong khoa phong thủy. Các sông lớn tạo nên dòng chảy,sinh ra vượng khí đem đến tài lộc,biển cả mang đến sự thịnh vượng về tài nguyên và sự thuận lợi cho mặt giao thông. Một khi hội đủ được ba yếu tố trên, là đã tạo được sự an bình cho mọi con người sống trên vùng đất ấy, tạo nên sự phát tiết làm thăng hoa cho cả về phẩm chất lẫn trí tuệ. Vùng đất Quảng nam còn được gọi với danh xưng lá “Xứ” đất Quảng Nam,bởi cái xứ đất ấy đã hội đủ được các yếu tố trên.
Rừng núi Trường sơn hùng vĩ đã bao bọc hết cả mặt phía tây,lại tạo thêm một nhánh thòng ra giáp biển làm ranh giới cho cái xứ đất nầy về phía bắc ,với tên gọi là dãy “Bạch Mã”,còn được gọi là núi Hải Vân,mà bên dưới chân đèo là biển cả,bên trên đỉnh núi thì lại giáp với mây trời. Nơi đỉnh cao của núi Hải Vân có “Hải Vân Quan” cùng với một đồn canh để giữ an ninh, đồng thời điều hành việc giao thông vào thời gian trước,được gọi là “đồn nhất”. Tất cả dãy Trường sơn về phía tây làm phên dậu là “lưng dựa” một cách chắc chắn cho cả vùng đất Quảng Nam,mà theo khoa phong thủy được ví von là “Tả Thanh Long,Hữu Bạch Hổ”,nó mang đến sự che chắn vững chắc làm nền móng của cả vùng đất,bên cạnh đó còn mang đến nguồn tài nguyên phong phú là gỗ. Đỉnh núi Ngọc Linh là nguồn cội phát xuất nên các dòng sông lớn, nhỏ,cung cấp nguồn nước ngọt là “sinh khí” cho cả vùng đất bên dưới.
Các dòng sông Thu Bồn (sông Mẹ),Vu Gia,sông Trường Giang,sông Tam Kỳ,đóng vai trò làm mạch máu mang nguồn nước,phù sa từ thượng nguồn đổ về các đồng ruộng tạo nên sự phì nhiêu giúp việc canh tác vụ mùa bội thu cho nông dân,đồng thời dòng nước ấy cũng mang theo các thứ ô uế bị tồn đọng từ các xóm làng ,và cả trên các cánh đồng ruộng để trút ra biển cả. Các dòng chảy của sông là “vượng khí” mang tài lộc đến giúp làm cho nền kinh tế phát triển.Trước đây con sông Trường Giang là con đường giao thông huyết mạch của các thương gia trong toàn tỉnh,đã đem nguồn sống đến cho mọi người dân sống trên mảnh đất Quảng Nam, từ Bắc chí Nam kể cả các vùng Đông và tây.
Biển cả: Xứ đất Quảng Nam được hình thành bởi sự cấu tạo địa chất từ khởi thủy,đã tạo nên một vùng đất hẹp,kẹp giữa dãy Trường Sơn về phía Tây,và biển cả nơi phía đông.Tuy nhiên biển cả là nơi thủy tụ.Thủy tụ lại giúp mang đến sự phồn thịnh,giàu có,góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế cho dân chúng,nghĩa là tạo cho người dân Quảng Nam có thêm nghề đánh bắt hải sản từ biển.Hải sản là nguồn tài nguyên rất phong phú,đã giúp cho mọi người dân sống trên toàn vùng lãnh thổ Quảng Nam có được một đời sống hài hòa giữa các vùng cả xuôi,lẫn ngược, nên đã có câu ca dao: “Ai về nhắn với nậu nguồn / Mít non gởi xuống,cá chuồng gởi lên”.
Sự tương tác giữa các yếu tố hình thể về địa lý tạo nên cái địa linh của xứ đất Quảng nam.
*Hải vân sơn:
Ca dao : “ Chiều chiều mây phủ Hải vân / Chim kêu ghềnh đá,gẫm thân lại buồn”
Có người cho rằng câu ca dao nầy,ám chỉ lời than thở của công chúa Huyền Trân khi phải xa quê đi lấy chồng nơi xứ Chiêm Thành,trong lúc đi ngang qua đèo Hải Vân vào mùa thu năm 1306 mà cảm xúc nên thốt thành lời.
Hải Vân một cảnh đẹp qua cái nhìn của văn sĩ Lê văn Siêu:
“ Ôi, Hải vân, Hải Vân không một chút bụi trần,trong như luồn qua khung kính,Hải vân quả là viên ngọc bích long lanh khoe sắc với trời cao,khiến cho khách xa diễm phúc tới đây,khi dời chân xuống đèo,không sao không bịn rịn. Lòng khách bâng khuâng như một giấc mơ của kẻ trên tiên cung mà bị đày về trần giới.Cỏ cây,vách đá,trời mây loang loáng ở hai bên đường với các thứ màu pha trộn như trên một tấm vóc dang dở đương chạy trên khung cửi. Khách ngoảnh cổ lại thấy xe của ai đó bằng độ bao diêm lù lù bò trên đường nhỏ và đưa mắt nhìn vực sâu bên …thấy con đường ngoằn ngoèo uốn khúc lượn mà xe mình sắp đi tới. Khách đi một khoảng,thấy mây còn ngẩn ngơ trên đầu núi,mà lòng những mang mang ,trông cho chóng đến Ngũ Hành Sơn để vơi bớt sầu nhớ tiếc.
(trích từ Sóng dội Miền Nam- loạt II số 4 đặc biệt 1960).
Ca dao: Đi bộ thì khiếp Hải Vân / Đi thuyền thì khiếp sóng thần hang Dơi.
( Hang Dơi nằm trên lãnh thổ Quảng Bình).
*Ngũ Hành Sơn.
Đối diện với cái khủng khiếp của Hải Vân,lại có thắng cảnh Ngũ Hành Sơn nằm về phía nam khá gần với con đèo nầy chỉ một khoảng không xa lắm, khi chúng ta băng ngang qua hết thành phố Đà nẵng. Đây là thắng cảnh thuộc vào hàng bậc nhất của tỉnh Quảng nam.
Ngũ Hành Sơn là tên chung để chỉ cho cụm núi, mọc lên giữa bãi cát mênh mông giữa hai làng Hóa Khuê và Quán Khai thuộc quận Hòa vang,chỉ cách thành phố Đà nẵng 7 cây số về hướng nam. Phía đông giáp bể Nam Hải,Tây giáp sông Trường Giang
Được đặt tên là “Ngũ Hành”tức cụm núi có năm hòn núi được sắp xếp theo như hệ thống ngũ hành của khoa phong thủy theo luận thuyết văn hóa Phương Đông gồm: Kim sơn, Mộc sơn,Thủy sơn, Hỏa sơn, và thổ sơn. Năm hòn núi nầy được sắp theo chiều thuận của ngũ hành: Núi Kim nằm về phía Tây, hòn Mộc nằm về phía Đông, Thủy nằm ở phía Bắc, hòn Hỏa nằm về phía nam,và chính giữa gọi là trung cung là hòn Thổ. Năm ngọn núi được nằm theo chiều thuận ấy,nên được nhân cách hóa là cụm “Ngũ Hành Sơn”.
Tìm hiểu một chút về tính chất của các cụm núi thuộc danh lam nầy:
Quách Tấn,trong tập san Sóng Dội Miền Nam số 5 năm 1960,ông đã chép: Tại Dương Hỏa sơn,trước có một tấm bia của vua Lê Thánh Tôn,khắc mấy hàng chữ “ Nhứt thiên niên tiền nhứt hải đảo,nhứt thiên niên hậu nhứt danh sơn”,nghĩa Là nghìn năm trước là một hải đảo,một nghìn năm sau là một danh lam. Tấm bia ấy nay không còn thấy nữa,có lẽ tấm bia ấy đã bị cát vùi sâu đã lâu.
Trên hòn Hỏa sơn,có cái động nhỏ.tương truyền,ngày xưa có bà công chúa là em vua Minh Mạnh đến tu tại động ấy. Vua đòi về để gã lấy chồng,bà không chịu về, có dâng cho vua một bài thơ sau:
“ Thế sự nhìn xem rối cuộc cờ! / Càng nhìn,càng ngẫm lại càng nhơ! / Đánh tan tục niệm hồi chuông sớm / Gõ vỡ trần tâm tiếng mõ trưa / Chu tử ngán mùi,nên vãi ấm / Đỉnh chung lợm giọng hóa chay ưa / Lên đài cứu khổ toan quay lại / Bể ái trông ra nước đục lờ!.
Nhà vua xem thơ biết ý bà đã quyết đi tu nên không ép nữa.
Âm Hỏa sơn không có động,dưới chân núi có một tản đá, được khắc sáu chữ lớn: “ Phổ Đà Sơn,Quan Âm Điện” .Bởi vậy Âm Hỏa Sơn cũng có tên “Phổ Đà Sơn”,nơi đây có đền thờ Quan Thế Âm”..
Tại Mộc Sơn,có hòn đá cẩm thạch trắng tinh,giống như tượng đàn bà,tục gọi là “Cô Mụ”
Bên chân núi Thổ Sơn,có viên đá giống hình người,các tăng nói là tượng Kim Cang.
Kim Sơn nằm giữa Hỏa Sơn và Thổ Sơn,trong có động lớn gọi Là động “Quan Âm”,động nầy mới tìm ra từ năm 1956,có tượng Quan Thế Âm cầm bình Cam Lộ và nhành dương chi? Ngoài cửa động có hai tướng là Tề Thiên và Hộ Pháp. Hai bên vách đá gồ ghề,có nhiều thạch nhũ. Có cái to đánh kêu “boong boong” gọi là chuông nhà Phật.Bên cạnh lại có tấm đá gõ nghe thùng thùng,nên được gọi là trống nhà Phật.
Bên trong có nước suối và giếng nước,. Hai bên suối có nhiều hàng đá hoặc như hình rồng,hoặc như hình cá sấu.
Hồn Thủy Sơn tục gọi là hòn “Non Nước” hòn nầy cao hơn các hòn kia,du khách khó có thể leo lên một hơi mà đến được,nên chi chùa có xây từng cấp đá và có chỗ ngồi nghỉ chân để nhìn phong cảnh.Nhờ những bóng cây im mát và gió từ biển nhè nhẹ thổi vào làm cho người thêm khoan khoái.
Lên hết cấp đá,tới chùa Tam Thai,trước có cổng tam quan,kiến trúc cũ kỹ,trong chùa thờ phật có tượng,có mõ,có chuông và có cả hương đèn,kinh kệ như các chùa khác,tạo nên khung cảnh “ Đêm thanh mõ giục hồi triêu mộ,ngày vắng chuông khua khúc gọi hồn”.Thật đúng quan cảnh mà Phương Cầm đã tả.
Phía tây chùa là nhà phương trượng, có tấm bia hình bông sen do vua Minh Mạng cúng,và chùa nầy cũng do vua Minh Mạng cho xây vào năm 1825.Cảnh trí chung quanh có cây cổ thụ với cỏ hoa bốn mùa trông thật thanh tú.
Trước nhà phương trượng có một khoảnh đất rộng gọi là đài “Vọng Giang” kiến trúc đơn sơ theo lối nhà dù.Đứng trên đài vọng giang,phóng tầm mắt nhìn xa thì thấy con sông Vĩnh Điện cùng các con sông nhỏ chảy quanh co nơi cánh đồng lúa xanh ngắt tại Quảng nam.Trên mặt nước sông luôn có những đàn cò bay là là trên mặt nước,trông rất ngoạn mục.
Bên cạnh đài vọng giang còn có đài “Vọng Hải” nữa, đài nầy cũng được xây dựng vào thời vua Minh Mạng,đứng tại nơi nầy trông ra biển,thì thấy mặt nước biển mênh mông xa đến tận chân trời xanh biếc. Trên trời,dưới biển gió thổi, sóng vang,khiến cho thân thể cảm thấy nhẹ nhàn,hình dung như đang bay bổng lên cảnh tiên.
Sau chùa Tam Thai có động Hoa Nghiêm, trong có tượng Quan Âm bằng cement,tay cầm bình cam lộ. Theo đường hầm bên đông thì có đàng đi xuống động Huyền Không.
Động Huyền Không cao và rộng,ánh sánh dịu mát,hai bên có nhiều thạch nhũ,đủ hình,đủ kiểu,như hoa,như lá có đủ màu sắc vàng,xanh.Lại có tượng Thích Ca được đúc bằng cement, có nhiều miếu thờ Linh Sơn Thánh Mẫu Thiên Y-A-Na. Tại nơi nầy có vú cẩm thạch thiên nhiên tròn trịa, thường nhỏ ra những giọt nước trong mà có vị ngọt.Du khách đến đây không mấy ai là không xin nước ấy để uống.
Tương truyền trước kia trong động có hai vú đá,lúc vua Minh Mạng ngự đến,ông nhìn thấy hay hay,nên lấy tay rờ thử,không dè cái vú ấy về sau không nhỏ nước nữa;có lẽ phẩm tiên không chịu tay phàm chăng? ( sau nầy có thuyết nói là vua Thành Thái rờ vào vú đá,không biết thuyết nào là chính xác).
Sau lưng chùa Tam Thai có động Linh Nham,bên trong có thờ tượng Ngọc Hoàng. Động nầy nhỏ hơn động Huyền Không,cảnh quan không có gì là kỳ thú.
Tại hòn Thủy sơn nầy lại có hang lộ thiên có tên là “Vân Nguyệt Cốc”. Hang có hai cửa phía tây gọi là: Động Thiên Phước địa,hai bên thạch nhủ gồ ghề,nhiều chùm phong lan mọc chen trong các kẻ đá.Làm ưa lòng khách du ngoạn với “Cỏ cây chen đá,Lá chen hoa”. Bên cạnh cũng lại có hang “Vân Thông Cốc”tức là hang lên trời, nhưng nhà Chùa lại xây hai pho tượng Di Đà chắn ngang trước cửa.Cũng có hang Long Cốc tức là hang Rồng,tuy nhiên hang khá tối tăm nên ít ai dám tới. Bên dưới chân hòn Thủy Sơn có hang Âm Phủ, nhưng cũng tối tăm mà lại sâu thẳm,nên cũng không ai đi đến.
Tại Thủy Sơn còn có chùa Linh Ứng,kiến trúc theo lối cổ xưa,bên trong thờ Phật như chùa Tam Thai.Chùa nầy trước có tên là Ứng Chân,đến năm Thành Thái thứ 3 được đổi tên là Linh Ứng. Sau chùa có giếng tiên nước rất ngọt,và luôn có nước dù là những năm đại hạn. Từ giếng Tiên leo lên dốc thì đến hang Đèn. Hang nầy có nhiều thạch nhũ, cấu tạo nhìn giống như bông lúa,hoặc như củ khoai,hoặc như củ đậu,trái bắp,từ các hình tượng trên, nên người ta mới đặt tên cho nó là “hang Ngũ Cốc”.Bên cạnh có một động lớn,gọi là động Tàng Chân.
Động nầy chia làm ba hang,hai động: Động Thiên Chân và động Tam Thanh.
Động Thiên Chân thì thờ Thái Thượng lão quân, và Thánh Mẫu cùng Bát Tiên.
Động Tam Thanh có tượng Thích Ca Mâu Ni bằng cement to tướng,trên động có hang gió.Nơi đó trống không,gió thổi rất mạnh,cũng còn được gọi là hang Thân Thương.
Tóm lại, tất cả tính chất về năm ngọn núi thuộc cụm núi Ngũ Hành Sơn, là thắng cảnh độc đáo của miền Trung Việt Nam, đã được mô tả một cách khá rõ ràng từ mỗi cụm, có thể giúp mọi người hình dung được dễ dàng về năm ngọn núi thuộc cụm ngũ hành,trước khi đến nơi nầy để nhìn tận mắt.
Là một thắng cảnh có một không hai của Việt Nam,do vậy mà du khách đến nơi nầy đều để lại những bài vịnh phong cảnh Ngũ Hành Sơn,xin được trích ghi lại một vài bài tượng trưng:
*Chí sĩ tiền bối Nguyễn thượng Hiền khi viếng động đã có ba bài tứ tuyệt như sa:
I) Ngộ nhập Hồng trần nẫm ngũ niên / Bồng lai Hồi thủ tứ mang nhiên / Như kim đáo đắc tàng Chơn động / Tảo thạch niên hoa lễ chúng tiên .
II) Linh Ứng đài cao ẩn túy vi / Tàng chơn động cổ Thạch đài hy / Thu phong độc ỷ tùng quan vọng / Bất kiến thiên nhai hải hạc phi .
III) Ẩm bãi trùng dao tọa túy vi / Tiên ông tằng thử tức trần ky / Cố nhân tung tích quân hưu vấn / Nhứt phiến nhàn vân vạn lý phi.
Ông Mính Viên Huỳnh thúc Kháng dịch:
-
Hai mươi năm lẻ xuống trần gian / Ngoảnh lại bồng lai,gẫm dở dang / Kìa động Tàng Chơn nay được đến / Dâng hoa quét đá lễ tiên ban.
-
Linh Ứng đền xây giữa núi sâu / Tàng Chơn động cổ đá xưa rêu / Gió thu tựa cửa tùng quan ngắm / Hạc biển bay mù chả thấy đâu.
-
Non cao mấy chén rượu tùng say / Xa tục tiên ông ở chốn nầy / Tung tích người xưa thôi chớ hỏi / Chùm mây muôn dặm tự do bay.
Và bài Vịnh Ngũ Hành Sơn của ông Bùi Dị (tức ông Bùi Ân Niên)
Ngũ hành tú khí uất thiều nghiêu / Hải thượng tam thần định bất diêu / Nhựt nguyệt cửu thiên hồi động khẩu / Ba đào vạn khoảnh đãng nham yêu / Tình không thạch bích sanh hàn vũ / Dạ bán chung thanh lạc nộn triều / Lãm thủ giang sơn kỳ thắng tuyệt / Tọa giao khối lỗi nhứt thời tiêu .
Ông Mính Viên Huỳnh thúc Kháng dịch:
Khí thiêng nghi ngút núi chon von / Rõ thật bồng lai giữa biển con / Nhựt nguyệt chín tầng soi cửa động / Ba đào muôn lớp giội sườn non / Trời quang vách rỉ hơi mưa lạnh / Đêm vắng chuông pha ngọn sóng dồn / Kỳ thắng gian sơn xem đến đấy / Bao nhiêu khối lỗi bỗng tiêu mòn.
Và dưới đây là bài thơ của chính tác giả Mính Viên,sau 13 năm tù ở Côn Lôn đi về, ngang qua Ngũ hành Sơn cảm tác.
Bình tung lưu lạc lộ tam thiên / Trùng hứa Hành Sơn nhận túc duyên / Thạch ký danh lam bi vị lão / Kim đề ngự tháp tự do tiên / Não nhân khổ hải phù trầm tế / Tri ngã hà sơn cảm tú niên / Thập tải tương tu,kiêm nhựt kiến / Nghĩ phao trần lự,học tham thiền.
Và ông Mính Viên cũng đã dịch:
Ba vạn dặm thẳng cánh cò rơi / Ngó Ngũ Hành Sơn lại thấy người / Đá khắc chùa danh bia chửa mục / Vàng đề bút ngự chữ còn tươi / Bể oan đã chán cơn chìm nổi! / Sông núi đương ngon nét vẽ vời / Cách mặt mười năm nay lại gặp /Trần duyên vứt quách, thử tu chơi . (Mính Viên)
Chỉ trích tượng trưng mấy bài vịnh về cảnh núi Ngũ Hành Sơn,bởi thắng cảnh nầy có vô số bài vịnh về nó,xin tìm hiểu về các bài ấy bên ngoài,vì nó vượt ngoài tầm của bài viết nầy nên không thể trích nhiều hơn.
Là một thắng cảnh của Quảng Nam qua bài thơ của Tú Tài Hồ Mậu ghi trên vách đá nơi thác nước Hố Bông:
“Đông Lâm qua hố bạn ta hè / Sau hố thời non,trước hố khe /Chim đứng đầu cành kêu tí tí /Nước chen gành đá chảy te te / Đôi bên thi vịnh đề hay dở / Bốn phía hoa thơm nở lập lòe / Ta cũng dạo chơi cho biết thú / Đào nguyên nơi đó chớ mô he ?”.
Bài thơ tả cảnh trí nơi Hồ Bông,nó cũng được ví như cảnh đào nguyên khi ta tưởng tượng. Hố Bông là ở đâu? Hố Bông thuộc làng Đông Lâm. Quận Đại Lộc,nay là ấp Đông Lâm xã Lộc Kỳ.
Nơi đây là một thác nước từ núi chảy ra,nước chảy đổ trên mặt đá nghiêng tạo nên trắng xóa ,tưởng tượng như màu bông vải,nên người ta gọi là Hố Bông,cũng có người lại nói vì hai bên có nhiếu loại bông hoa nên gọi là Hố Bông,vì vậy nên không biết thuyết nào đúng.
Bên dưới thác có khe sâu,có khá nhiều cá bơi lội.Thác nầy hình dáng tương tợ như thác Cam ly hay Gou -ganh ở Đà Lạt,nhưng thiếu đi chùm thông reo.
Nơi đây phong cảnh hữu tình,nên trước đây vào thời mà đất nước còn thái bình,du khách thường đến thưởng ngoạn cảnh trí tại đây,người ta còn tắm gội,nhất là làm thơ cùng ngâm vịnh với nhau,nói về cảnh quan nên thơ nơi con thác và họ ghi lên trên mặt đá khá nhiều bài thơ được khắc sâu vào mặt đá, tuy nhiên dụng cụ lại khá thô sơ nên chạm khắc không được sâu,do vậy mà thời gian lại bào mòn nét chữ,bây giờ nhìn không rõ lắm. Chỉ ghi lại bài thơ trên của Tú Tài Hồ Mậu còn đọc được như trên.
Nóc nhà của Tây Nguyên ngọn núi Ngọc Linh.
Phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh Quảng Nam, ta có một nhánh núi Trường sơn mọc ngang thọc sâu ra đến biển, làm ranh giới giữa hai tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên,tạo nên cảnh trí khá hùng vĩ, trên đỉnh cao có Hải vân Quan,và Đồn Nhứt.Toàn bộ dãy Hải vân về phía tây đã góp phần tạo nên yếu tố cho sự tương tác để làm nên cái “linh” của xứ đất nầy,bên cạnh đó về phía Đông Bắc của tỉnh cũng lại có chùm núi Ngũ Hành Sơn là một thắng cảnh cũng là một cảnh trí tạo sự tương tác rong khoa phong thủy để cũng làm nên cái “linh” của xứ đất Quảng Nam ta.Chưa hết,nếu nói đến sự tương tác để tạo nên cái “linh” để hình thành nên cái xứ “Địa linh”. Thì chúng ta còn phải quan sát thêm một số cảnh quan khác nữa về phía Tây nam biên giới tỉnh nhà: Đó là ngọn núi Ngọc Linh thuộc dãy Trường Sơn.
Núi Ngọc Linh,có thể nói là nóc nhà của Tây Nguyên, có đỉnh cao nhất 2.598 m của dãy Trường Sơn về phía nam.Là biên giới giữa hai tỉnh Quảng Nam và Kon Tum.Núi Ngọc Linh còn có tên gọi khác nữa là Ngọc Linh liên sơn, nơi đầu nguồn phát xuất của nhiều con sông lớn.
Núi Ngọc Linh là dãy núi cao và hùng vĩ nhất của dãy Trường Sơn,trải dài qua địa bàn bốn tỉnh: Kon Tum,Quảng Nam, Quảng Ngãi và Gia Lai.Ngoài yếu tố tạo sự tương tác cùng với các cảnh quan khác trên địa bàn của tỉnh mà tạo nên cái “linh” để tạo nên cái “Địa linh” cho xứ đất Quảng Nam, ung đúc nên những người con dân xứ quảng có một trí tuệ ưu hạng để được gọi là “Nhân Kiệt” mà cả nước đều phải khâm phục.
Núi Ngọc Linh,ngoài cái các yếu tố đặc biệt trên, dãy Ngọc linh còn là nơi cho ra một loại sâm qúi hiếm,tạo cho người dân quanh vùng một nguồn lợi về kinh tế đem lại nguồn thu nhập cho gia đình của nhiều người dân trong vùng rất đáng kể.Bởi nơi nầy mới có loại sâm ấy vì loại cây Sâm Ngọc Linh nó chỉ ưa mọc và phát triển trên các vùng đất cao trên 2.000 mét, vì vậy nên toàn vùng đất nơi núi Ngọc linh lại là vùng đất thích hợp của loại cây trồng nầy.
Xứ đất Quảng Nam, ngoài những yếu tố núi rừng Trường Sơn ở phía tây,biển cả về phía đông là hai yếu tố chính cấu tạo nên cái linh khí cho toàn vùng đất .Ngoài ra, các dòng sông cũng góp một phần quan trọng trong việc tạo nên cái “linh khí” làm tăng thêm sự phong phú cho xứ đất Quảng Nam ta. Trên bề mặt toàn tỉnh hiện có ba dòng sông lớn là Thu Bồn + Vu Gia và sông Tam Kỳ.
Sông Thu Bồn (con sông mẹ) là con sông lớn nhất của tỉnh phát xuất từ rặng núi Ngọc Linh,khi chảy qua các huyện Tiên Phước,Hiệp Đức đoạn sông nầy được gọi là “Sông Tranh” rồi hợp lưu với sông Vu Gia con sông phát xuất từ tỉnh Kon Tum, nằm về phía bắc sông Thu Bồn chảy qua địa phận các huyện Đông Giang,Tây Giang,Đại Lộc,Điện Bàn,rồi hợp lưu với dòng chảy sông Thu Bồn tại địa phận vùng ranh giới giữa hai huyện Duy Xuyên và Đại Lộc, để tạo nên dòng chảy đối với con đường thủy lộ quan trọng nầy, hằng ngày ghe thuyền lưu thông thường xuyên trên mặt sông vào thời gian trước. Đây là con đường thủy lộ dùng ghe thuyền để chuyên chở mà trao đổi để cung cấp hàng hóa từ miền xuôi lên miền ngược và ngược lại,tạo cho dân chúng cả hai miền xuôi, ngược có được một cuộc sống hài hòa.Miền xuôi thì nhận được các mặt hàng nông lâm sản,gồm lúa, bắp, đậu mè,tiêu,chè,mà nhất là gỗ,gỗ được kết thành bè thả trôi theo dòng nước mà về xuôi.Dân chúng miền ngược lại nhận được các mặt hàng hải sản là cá,là mắm, cùng với vải vóc, và nhất là loại nhu yếu phẩm quan trọng huyết mạch nhất đó là “muối” do các ghe thuyền chuyên chở đem lên. Sông Thu Bồn,ngoài việc mang trọng trách là đường giao thông thủy lộ,nó đã tạo phương tiện giúp cho dân chúng hai bên bờ một cuộc sống dễ chịu hơn,đó là việc đi lại thuận tiện tạo thêm nghề bán buôn trên sông, giúp cho việc mưu sinh của rất nhiều người kể cả hai miền xuôi, và ngược.
Ngoài việc là con đường thủy lộ,sông Thu Bồn còn góp phần trong việc tạo nên nhiều cảnh trí thiên nhiên khá đẹp, nhất là nơi đoạn sông đầu nguồn, làm cho mọi người nô nức ước muốn phải nhìn thấy ít ra một lần trong cuộc đời, bởi họ đã được thuộc nằm lòng câu ca dao của xứ đất Quảng Nam là: “ Ngó lên hòn kẽm,đá dừng / Thương cha,nhớ mẹ quá chừng bạn ơi! .
Nơi đầu nguồn sông Thu Bồn đoạn chảy qua làng Trung Phước để mới đổ về xuôi,dòng nước đã chứng kiến qua biết bao nhiêu những bờ dâu xanh biếc, các cánh đồng lúa xanh rì, rồi từ đó mới xuôi dòng mà dịu dàng ôm lấy ngôi làng nhỏ Đại Bường với bốn mùa cây trái sum sê,để rồi từ đó dòng nước mới lại chịu êm đềm mà xuôi về hạ nguồn thoát ra cửa Đại Chiêm để trả lại cho đại dương.
Bây giờ, nơi đoạn đầu nguồn sông Thu Bồn,nó lại trở thành một thắng cảnh tạo nên nhiều cảnh trí đẹp giúp làm phong phú cho ngành du lịch,giúp những người có tính hiếu kỳ cơ hội đến nơi đầu nguồn con sông nơi được gọi là hòn kẽm,đá dừng mà chiêm ngưỡng, hiện tại thì đường đi đến đoạn sông đầu nguồn không còn mấy khó khăn cho lắm.
Người dân vùng tây huyện Quế Sơn cư ngụ quanh nơi bến đò “Tí Bồi”, đã tổ chức thành một bến đò đón khách để đưa lên du ngoạn nơi vùng thượng nguồn là Hòn Kẽm, Đá Dừng. Từ Tí Bồi ngồi đò máy chỉ hết độ 1 tiếng đồng hồ là đến địa điểm trên.
Nơi đoạn đầu nguồn con sông Thu Bồn bị thắt hẹp lại tạo thành một dòng chảy nhỏ nhất, hai bên bờ dòng nước là hai hòn núi kẹp lại bởi hai vách đá cao dựng đứng che chắn hết cả dòng chảy hẹp,tạo cho khúc sông trở nên huyền hoặc,vì cả hai bên được che chắn bởi vách đá cao, không thể nhìn thấy ánh sáng bên ngoài,chỉ có ánh sáng trên đỉnh vách đá chiếu rọi thẳng đứng xuống mà thôi,ngồi trên thuyền phải ngước cổ nhìn lên mới thấy được ánh sáng mặt trời. Đá hai bên bờ vách có màu trắng đục, một khi ánh sáng buổi chiều rọi vào ta nhìn thấy vách đá có màu sáng trắng đục như màu kẽm,do vậy nên được người đời gọi đây là “hòn kẽm”. Nơi đoạn đầu của khúc sông nầy lại bị một hòn núi cao khác chắn ngang ,tạo hai dòng nước nhỏ chảy hai bên để đổ vào khúc sông trên,bởi hòn núi chắn ngang nên được gọi là “ đá dừng”. Thiên nhiên đã tạo nên một cảnh trí tuyệt đẹp nơi tận đầu nguồn con sông Thu Bồn. Tuy nhiên cái hay hơn nữa không phải là cảnh quan của thiên nhiên, mà là con người,con người đã tinh ý mà hình dung ra được để nhân cách hóa các vật thể ấy mà đặt tên cho chúng một cách thích hợp, rồi được truyền tụng loan tỏa ra khắp mọi nơi ,làm cho chúng trở thành những cảnh trí mà con người qua nhiều thế hệ đều luôn được ưa thích.
Chưa hết đâu,bên dưới đoạn sông cao nhất nầy, các khúc sông vẫn còn được gọi là sông đầu nguồn.Quay mũi thuyền đi xuống một đoạn,lúc qua các khe nước chảy nghiêng nghiêng có tên là Đá Bàn,Đá Mài, đá Nước Mắt,du khách có thể ghé thăm khe núi có tên là “Ban Hang” nơi được tương truyền là ngày xưa người Champa đã chọn nơi nầy làm nơi thờ Phật,và cũng còn được tương truyền rằng trước đây có tấm bia khắc chữ Phạn,làm dấu tích cho sự thờ phượng tại nơi nầy,nhưng qua năm tháng do thiên nhiên bị biến đổi,bây giờ tấm bia không còn thấy nữa. Từ đây cho thuyền chạy xuôi khoảng hai tiếng đồng hồ nữa là đến làng Đại Bình (thuộc xã Quế Trung) xứ nầy được mệnh danh là vùng Nam bộ của Quảng Nam. Một vùng đất có đầy đủ các loại cây trái của Miền Nam,bên cạnh đó người dân nơi đây lại vô cùng hiếu khách,nếu du khách đến thăm vườn thì tha hồ mà ăn trái cây do chủ vườn đãi,có cả rượu sầu riêng nữa. Đến Đại Bình đường đi đã bằng phẳng,cây cối lại xanh tốt,tạo cho du khách một cái nhìn mà được hình dung phong cảnh nơi đây có thể nói như là những bức tranh thủy mạc .
Khi dòng nước Thu Bồn chảy về đến vùng đồng bằng Duy Xuyên,Điện Bàn,con sông trở nên hiền hòa một cách dễ chịu. Bên cạnh đó con sông còn tạo ra một nhánh chảy sát cạnh khu phố Hội An có tên là sông Hoài tạo nên những nét quyến rũ, sông Hoài cũng là nhân chứng sống của quá trình hình thành nên lịch sử thương cảng của Hội An xưa.
Sông Tam Kỳ cũng là một dòng sông lớn thuộc tỉnh Quảng nam,thời gian trước năm 1975,dòng nước chảy trên con sông với một lưu lượng khá lớn,nên con sông cũng là đường thủy lộ để người dân buôn bán tạo điều kiện sinh sống của nhiều gia đình,tạo điều kiện cho việc sinh hoạt của dân chúng giữa hai miền xuôi,ngược tại các xã thuộc các huyện mà dòng nước chảy qua, cũng giống như con đường thủy lộ trên dòng sông Thu Bồn ngày trước. Sau năm 1975, nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,cho xây dựng con đập thủy lợi trên con sông Tam Kỳ,đem nước về tưới cho nhiều cánh đồng trên toàn tỉnh từ: Tam Kỳ,Thăng Bình,Quế Sơn,Duy Xuyên ,cho đến tận Điện Bàn.( dựa theo sự nghiên cứu của người Pháp) Do từ việc thực hiện con đập nầy,dòng chảy trên con sông bị cạn,vì vậy mà con sông Tam Kỳ mất đi con đường Thủy lộ.Bởi lưu lượng nước trên sông đã bị cạn kiệt,do vậy mà các loài hải sản nước ngọt sinh sống và phát triển trên sông Tam Kỳ bị mất đi. Hiện tại các sinh hoạt của người dân hai bên bờ lại phải ngưng nhiều nghề nhất là việc buôn bán, đem hàng hóa từ miền xuôi lên miền ngược và ngược lại như ngày trước, nay đã bị mất hẳn.
Người dân hành nghề đánh bắt thủy sản nước ngọt trên sông cũng bi thất nghiệp luôn.Ngày trước vào các thập niên 1950 - 1960,mỗi mùa nước lớn (mùa đông) sông Tam Kỳ có thêm một số lượng loại “cá Vược” từ biển vào sống nơi dòng nước lợ Trường Giang,đến mùa nước lớn chúng lại vào sông,khi vào sông cá bơi hàng vây trên lưng nổi dựng trên mặt nước,rất dễ nhìn thấy,tạo cho dân chúng hai bên bờ thêm một trò giải trí là chuyện săn cá “vược” rất là vui.Người ta dùng những cây đọc nơi đầu có cắm một đoạn sắt nhọn có ngạnh, ngồi trên thuyền nhỏ bơi trên mặt sông để mông cá vược. Cá vược thân hình thật to, to như một tấm ván khổ nhỏ,khi chúng bơi đưa hàng vây trên lưng lên trên mặt nước,nên rất dễ trông thấy,vì chúng to nên săn chúng khá công phu, nhưng lại là một thú chơi rất là hứng thú.Khi phát hiện được một chú cá vược,người ta chèo ghe đi kè một bên để theo dấu,dùng cây đọc phóng vào thân chúng để làm cho chúng mang thêm cây đọc bị nước cảng mà làm cho đuối sức,khi chúng đuối sức người ta mới dùng lưới vây lại mà bắt, có nhiều con cá lớn phải theo dấu mất cả ngày mới bắt được.Phóng cây đọc vào thân cá phải là tay sở trường mới biết cách phóng lao cho dính sâu vào thân cá được.Phải lường để phóng ngược vào giữa hàng vảy cá,phóng như vậy thì mũi lao mới không bị trượt, đó là bí quyết của những người chuyên săn cá vược,do vậy, những người tay ngang thì không thể phóng loại lao ấy được, tôi đã chứng kiến được một trận săn cá trên sông Tam Kỳ nầy rồi. Có một điều cần chú ý,duy chỉ trên dòng sông Tam Kỳ thì mới có loại cá vược nầy mà thôi,dòng nước sông Thu Bồn cũng đổ ra sông Trường Giang nhưng lại không thấy có loại cá vược như vậy,cái đó cho chúng ta suy luận là vùng biển tại cửa An Hòa là vùng biển có nhiều loài cá vược mà thôi.
Tóm lại,mặt nước sông Tam Kỳ bị cạn,do vậy việc sinh hoạt của dân chúng bị hạn chế tối đa, không còn phát triển được nghề buôn bán như các thập niên trước nữa.Tuy vậy tại các đoạn sông đầu nguồn lại trở thành hồ nước Phú Ninh,ngành du lịch lại tổ chức được các chuyến du lịch trên vùng hồ nước Phú Ninh nầy cũng khá phong phú.
Đập Phú Ninh được đắp thành nhiều bờ chắn nước, do vậy đã tạo cho cụm núi nơi nầy trở thành 32 đảo lớn nhỏ theo thống kê của công ty du lịch,mà công ty du lịch đã lợi dụng địa hình nầy để tổ chức các tua du lịch giúp cho khách chiêm ngưỡng cảnh đẹp của núi rừng tại vùng nầy,được gọi với tên là khu sinh thái hồ Phú ninh.
Cái thú thứ nhất là tắm nước khoáng nóng tại hồ Phú Ninh.Đây là loại nước khoáng được bơm từ lòng đất sâu khoảng 200 mét,loại nước khoáng có nhiệt độ cao đến 700 độ C. Loại nước khoáng nầy đã được khai thác từ thời Pháp thuộc kia,nước chứa hàm lượng khoáng rất cao, có nhiều nguyên tố vi lượng có lợi cho sức khỏe. Khách du lịch có thể đến ngâm chân để tận hưởng những giây phút thỏa mái do từ loại nước khoáng nóng tại nơi nầy đem lại.
Du ngoạn hồ Phú Ninh, khách có thể bơi thuyền rong chơi trên mặt nước hồ, cũng có thể ghé mà tham quan trên nhiều hòn đảo lớn nhỏ,một số đảo được dung chứa rất nhiều các loại con vật như là Rùa, là Khỉ .v…v. Mỗi cụm núi để trở thành như hòn đảo thì phải có bàn tay con người nhúng vào,một số hòn núi đã trồng được nhiều loại cây xanh,để tạo cái khung cảnh thiên nhiên cho được dễ chịu. Tuy rằng do bởi con người tạo nên,không phải do thuần túy từ thiên nhiên tạo ra như nơi đầu nguồn sông Thu Bồn, nơi có hòn Kẽm,đá dừng nổi tiếng được truyền tụng.
Cảnh trí nơi đây, phần lớn do bàn tay con người tạo ra sau khi hình thành con đập Phú Ninh,nhưng hiện tại với mặt nước hồ trong xanh và phẳng lỳ,làm gương phản chiếu mà soi bóng cho những cụm đồi cây xanh nơi bờ nước,có lẽ cũng tạo cho con người một sự cảm nhận khá dễ chịu,khi mà lâu lâu mới lại được nhìn ngắm cảnh vật ấy một lần,trong thời gian tranh thủ để xả hơi qua bao ngày phải làm việc liên tục nhiều tuần khá vất vả.
Đến hồ Phú Ninh để tham quan và giải trí một lần có lẽ cũng vui,có thể cũng xã bớt đi được sự bực bội trong người qua những ngày làm việc vất vả của mọi người.
Tuy mới chỉ lướt qua,nhưng chúng ta cũng đã khảo sát được ba dòng sông lớn trên bề mặt địa bàn tỉnh Quảng nam.Tuy vậy địa Bàn tỉnh Quảng Nam vẫn còn một dòng sông thuộc vào loại khá đặc biệt,mà mọi người trong chúng ta cũng cần nên biết,đó là giòng Trường Giang,một con sông không có đầu nguồn,cái đặc biệt của nó là ở điểm nầy. Nước sông lớn, nhỏ là tùy vào mực nước biển lên xuống nơi hai cửa biển, chính vì vậy nên nói là dòng sông không có đầu nguồn.
Sông Trường Giang của Quảng Nam là dòng sông độc đáo,chảy song song với bờ biển,có chiều dài hơn 70 km,nối hai cửa biển hai đầu là cửa Đại Chiêm (Hội An) và cửa An Hòa (An Tân). Nó chảy xuyên qua các huyện Duy Xuyên,Thăng Bình,Tam Kỳ và Núi Thành (Lý tín cũ).Về mặt địa lý,sông Trường Giang là một phần trong hệ thống sông ngòi trên lãnh thổ Quảng Nam,chúng ta có thể ví dòng Trường Giang giống như “Phá Tam Giang” của tỉnh Thừa Thiên.Phá Tam Giang thu nhận các ngọn nước của ba con sông là Ô Lâu,Sông Bồ và sông Hương tạo nên Phá Tam Giang với dòng nước lợ mà có chiều dài đến 65 km.Nếu tính đến mũi Chân Mây thì chiều dài gần cả 100 km. Sông Trường Giang của Quảng Nam với chiều dài 70 km, thu nhận chỉ hai ngọn nước từ các con sông lớn là Thu Bồn + Vu Gia để thoát ra cửa Đại Chiêm về phía Bắc và sông Tam Kỳ để thoát ra biển từ Cửa Lở và cửa An Hòa về phía Nam.
Dòng Trường Giang là sự pha trộn giữa nước biển và nước ngọt từ các con sông đổ về mà trộn lẫn với nhau để thành dòng nước lợ,tạo cho dòng sông một dòng nước lợ thật tốt, nuôi dưỡng và cung cấp cho dân chúng quanh vùng một lượng hải sản nước lợ rất là đặc biệt,ngon nhất là loại “cá Dìa,cá Đối,cá Trãnh ,cùng với loại tơm Sú” nước lợ rất là ngon .v..v
Đoạn sông Trường Giang chảy qua lãnh thổ huyện Thăng Bình,tạo một dòng nước dùng dằng giữa hai hướng,vì không có nguồn nên dòng nước chảy về hướng Bắc,khi nước biển tại cửa An Hòa lên cao tràn vào dòng sông. Và khi nước biển từ cửa Đại Chiêm cao lên tràn vào sông,dòng nước sông lại chảy về hướng Nam, mà gặp nhau tại vùng Thăng Bình nên mới có sự dùng dằng như trên.
Sông Trường Giang trước đây là lộ trình thủy lộ huyết mạch của tỉnh Quảng Nam,ghe bầu chạy từ cửa Đại Chiêm đến An Hòa và ngược lại từ An Hòa đến Bàn Thạch,Hội An,các thuyền luôn chuyên chở mắm,cá các loại,củi dương liễu,các loại chum vại,muối và nhất là các vật liệu làm nghề biển,cùng với loại gạch,ngói Thanh Hà của Quảng Nam để trao đổi và cung cấp cho khắp các làng quê,các phố thị, cho đến cả các vùng trung du,các vùng đồng bằng thuộc cánh Bắc và cho chí cả cánh Nam trong toàn tỉnh.Thậm chí thuyền còn có thể chở cả các bi gỗ súc lớn từ thượng nguồn Thu Bồn + Vu Gia hay ngược lại từ sông Tam Kỳ nơi An Tân – Bến Ván về Trường Giang ,rồi từ Trường Giang đưa đến các xã vùng duyên hải Thăng Bình,Tam Kỳ để làm vật liệu xây cất nhà cửa,đình,chùa, miếu vỏ. v.. v.
Là vị trí làm cầu nối quan trọng trong hàng chục thế kỷ qua,dòng Trường Giang đã giữ một vai trò quan trọng là huyết mạch trong ngành giao thông tại xứ Quảng Nam. Do vậy mà dòng Trường Giang đã tạo được sự thông thương với hàng trăm khu chợ trên toàn vùng lãnh thổ xứ Quảng Nam ta.
Thử tính theo lộ trình từ Chợ Vạn Tam Kỳ, các thương lái sẽ đến được các chợ gần bến sông, là trung tâm đóng vai kết nối với các chợ như: Bầu Bầu, Cây Trâm,chợ Trạm, An Tân,Bến ván,Tam Quang,Tam Hòa, Kỳ Trung (Núi Thành). Chợ Đò- Tam Ấp,Kim Thành (Tam Kỳ) Bình Đông,Tây Giang,Bến Đá,Chợ Được,Mù U.Chợ Bà ( Thăng Bình). Nồi Rang, Bàn Thạch,Mỹ Lược…(Duy Xuyên) Hương An,Bà Rén (Quế Sơn) Vĩnh Điện (Điện Bàn); Ái Nghĩa,Phú Thuận,Hà Nha ( Đại Lộc); Hiên, Giằng, Thạnh Mỹ (Đông Giang) Trung Phước,Mỏ than Nông Sơn, Đồng Làng, Trà Linh, Bến sông Trường ( Hiệp Đức); Tiên Lãnh ( Tiên Phước); Đà nẵng và Hội An …
Ngược dòng thời gian lui về quá khứ,sông Trường Giang có thể cũng là đường thủy lộ quan trọng của người Chiêm Thành ngày xưa. Trên những nổng cát dọc theo bờ sông Trường Giang vùng Tam Thăng,Tam Phú thuộc lãnh thổ Tam Kỳ,mới cách đây khoảng 50 năm, trên các nổng cát dọc theo bờ sông có rất nhiều ngôi mộ được đắp bằng loại đất đen, mà dân địa phương thường truyền miệng với nhau,đó là “mả Hời”.Cách đây độ khoảng chục năm,dân đào hồ nuôi tôm trên những đám ruộng mà tổ tiên họ lúc mới đến đã khai khẩn,tại đó đã nhặt được rất nhiều các loại mảnh gốm nằm ở tầng sâu hơn cả một mét, nhưng đến nay vẫn chưa được nghiên cứu. Người dân địa phương lại đưa ra giả thuyết đó là của người dân Champa đã ở tại đây, nên mới có hiện tượng mảnh gốm nhiều như vậy.
Trường Giang hiện nay đã bị lấp nhiều đoạn do bởi thiên nhiên tạo nên vì không được nạo vét,nhưng phần lớn nhiều đoạn lại do lòng tham của con người đã lấn chiếm,tạo nên một dòng sông bị méo mó ,dòng nước trở nên cạn kiệt, làm mất đi con đường thủy lộ trọng yếu ngày nào, và mất luôn cả nguồn cá tôm, loại hải sản nước lợ quý hiếm.Dân chúng lại mất đi nguồn lợi, nhưng xét kỹ là cũng tại do con người tạo ra, chịu thôi!
Các dòng sông đã tạo và cho những cảnh trí đẹp, làm phong phú thêm cho quan cảnh của xứ sở,đó là những nét quí hiếm mà thiên nhiên đã tạo nên.Bên cạnh đó,sông,hồ cũng lại giữ vai trò quan trọng đối với mặt tâm linh theo như ngành khoa học huyền bí về khoa phong thủy của người phương đông mà dân ta đang rất coi trọng.
Mọi vật hiện hữu trên mặt lục địa,đều có sự tương tác lẫn nhau theo khoa phong thủy luận từ ngũ hành là Kim,Mộc,Thủy,Hỏa để hợp cùng cung chính là Thổ.Tôi không biết nhiều về khoa nầy,chỉ đại khái nghe được từ sự giải thích của những vị thầy phong thủy đại khái là như vậy .Các vị giải thích rằng các vật thể do thiên nhiên cấu tạo luôn có sự tương tác với nhau, vì vậy mà giữa núi,sông,biển cả, ao hồ đều có lực tương tác để tạo thành linh khí tạo cái “địa linh” của xứ đất Quảng Nam vậy. Từ cái địa linh ấy mới hun đúc được những “Nhân Kiệt” mà chúng ta đã hệ thống được bên trên, tuy chưa đầy đủ,còn thiếu sót nhiều lắm.Tuy nhiên, cũng đã minh chứng được cái linh khí từ phong thổ đã tạo nên,giúp chúng ta hiểu được ít ra một phần nào cái huyền diệu phát sinh trong vũ trụ ,giúp chúng ta có được thêm niềm tin về môn khoa học huyền bí phong thủy,do sự tương tác giữa các vật thể trong thiên nhiên qua các hành của ngũ hành mà tạo nên.
Qua các dữ kiện được ghi nhận lại nơi bài viết nầy,đã cho chúng ta một sự hiểu biết về mãnh đất quê hương Quảng Nam. Tuy nhiên, để dễ nhớ các địa danh cấu tạo nên nó, không phải là một chuyện dễ dàng đối với những người có trí nhớ từ trung bình trở xuống.Để giúp cho tất cả mọi người có thể nhớ được các địa danh nằm trên bề mặt vùng lãnh thổ Quảng nam ta,tôi xin được mạng phép ghi thêm vào đây bài ca dân gian mà người dân Quảng nam đã sáng tác từ xa xưa để giúp mọi người dễ nhớ về các địa danh theo chiều dọc suốt từ Bắc đến Nam thuộc phạm vi tỉnh nhà.Tôi không biết bài ca nầy đã hiện diện vào thời gian nào,nhưng thế hệ của cha tôi,ông đã thuộc nằm lòng,khi tôi đến độ tuổi vừa hiểu biết,ông đã đọc cho nghe nhiều lần nên nhớ về nó.Cái may mắn hôm nay lại đọc sách gặp lại nó,nên xin được ghi lại để giúp mọi người dễ nhớ về các địa danh thuộc quê mình.
Dưới đây là toàn văn bài ca dân gian mô tả các địa danh trên vùng đất Quảng Nam, đoạn tính từ đầu phía Bắc tính vào.
“ Kể từ đồn nhứt(1) kể vô / Lăng Chiểu,Thủy Tú,Nam Ô xuống Hàn / Hà Thân ,Quảng Cái , Mân Quang / Bông Miêu, Cẩm Lệ là đàng vô ra / Ngó lên chợ Tổng bao xa / Bước qua Phú Thượng, Đại La,Cồn Dầu / Cẩm Sa, chợ Vải,Câu Lâu / Ngó lên đàng cái thấy lầu Giáp Năm / Bây chừ thiếp viếng ,chàng thăm / Ở cho trọn nghĩa miếng môi (?) năm chờ”
Và kể từ Nam Quảng trở ra:
“ Kể từ Ông Bộ kể ra / Cây Trâm ,Trà Lí, bước qua Bầu Bầu / Tam Kỳ,Chợ Vạn,Thầu Đâu / Phía trên đường cái có lầu ông Tây /Chiên Đàn,Chợ Mới gần đây / Kế Xuyên mua bán đông tây nhộn nhàng / Hà Lam gần sát phủ đàng / Phía ngoài bãi cát Hương An nằm dài / Cầu cho gái sắc trai tài / Chung lòng xây dựng tương lai huy hoàng”.
Ghi chú: (1) Đồn nhứt là một đồn canh trên đỉnh Hải Vân được gọi là “Đồn Nhứt”.Nơi đây có bốn chữ khắc trên bảng đá “Đệ nhứt hùng quan” được dựng từ đời chúa Nguyễn phúc Chu (Thiên Túng Đạo Nhân) lúc chúa vào thăm Quảng nam.Với cảnh núi non hùng vĩ mà địa thế rất đẹp, chúa cho đây là “Đệ nhứt hùng quan” và khắc vào đá làm kỹ niệm cho chuyến đi.Sau nầy tấm bảng đá “Đệ nhứt hùng quan” đã trở thành di tích lịch sử văn hóa. Lúc đến nơi nầy nhìn thấy núi rừng hùng vĩ,Chúa Nguyễn phúc Chu đã khẩu chiếm bài thơ với tên “ Ái Lĩnh Xuân Vân “ xin ghi lại dưới đây:
“ Việt Nam xung yếu thử sơn điên / Tuyệt lĩnh hoàn như Thục đạo thiên / Đản kiến vân hoành tam tuấn lĩnh / Bất tri nhân tại kỷ trùng thiên / Lãnh triêm tu phác phi đồng tuyết / Thấp triển y thường khởi thệ tuyền / Duy nguyện hải phong xuy tác vũ / Chính nghi thiên lý nhuận tang điền” (tác giả: Thiên Túng Đạo Nhân,tức chúa Nguyễn Phúc Chu).
Nghĩa bài thơ:
“ Ngọn núi nầy là chỗ xung yếu nhất của Việt Nam / Chẳng khác gì cảnh hiểm nghèo như đường vào đất Thục (TrQ) / Đứng trên đỉnh chỉ thấy mây phủ cả ba tầng núi cao / Và không biết bao nhiêu mây trắng như bao bọc quanh ta / Khí lạnh bám vào tóc râu chẳng khác gì tuyết dính / Làm cho quần áo ướt sũng như dưới khe vừa bước lên /[ Bây giờ] chỉ mong gió ngoài biển xa đem mưa lại / Tưới mát cho ngàn dặm ruộng dâu ở đất nầy”.
Vào giữa thế kỷ thứ XIX.Ông Tam nguyên Trần Bích San vào Quảng nam nhậm chức Tri Phủ Thăng Bình, lúc qua đèo Hải vân,ông tức cảnh bài “Hải Vân Sơn” xin ghi lại dưới đây:
“ Tam niên lam thưởng Hải vân đài / Nhứt điểu thân khinh độc vãn hồi / Thảo thụ bán không đê nhựt nguyệt / Càn khôn chích nhãn tiểu trần ai / Văn phi sơn thủy vô kì khí / Nhân bất phong sương vị lão tài / Hưu đạo Tần quan chính lộ hiểm / Mã đầu hoa tận đới yên khai”.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương dịch:
“Ba năm vượt ải đã ba lần / Nhẹ cánh chim trời dạo Hải Vân / Ngắm rộng kiền khôn coi cũng bé / Lên cao nhựt nguyệt tưởng đâu gần! / Gió sương như búa tài thêm chuốt / Hồ biển làm nghiên bút mới thần / Đầu ngựa rừng hoa chen khói nở / Cười ai khen hiểm lối sang Tần” .
___________________
Và dưới đây Bản Dịch bài “Phú” tỉnh Quảng nam. (do cụ HỒ NGẬN đã dịch).
Bài phú tỉnh Quảng Nam (Quảng Nam tỉnh phú) của Đốc học Tiến sĩ Mã Sơn Trần Đình Phong viết về đất nước và con người Quảng nam.
Bài văn phú nầy lấy mấy chữ Điện,Diên,Duy,Hòa,Thăng,Lễ,Quế, Đông làm vần, là chữ đầu tên tám Phủ,Huyện trong tỉnh,bản dịch có một vài chỗ thêm bớt cho rõ nghĩa,nên so với nguyên bản chữ Hán có đôi chỗ hơi khác.
(Nên nói sự thật về các thay đổi xưa nay và tứ chí địa giới,núi sông,nhân vật,nghề nghiệp, sản phẩm, danh lam thắng cảnh trên khắp tỉnh).
Vâng nay,thống nhất giang sơn,bao trùm lãnh thổ.
Dư đồ một bức,mở mang bờ cõi Mân Kỳ,
Đức hóa bốn phương,khắp đến nơi xa sơn hải.
Trang nghiêm cảnh trí,kinh đô là chốn bản căn,
Bao bọc chung quanh,ngoại tỉnh làm nơi rào dậu.
Quảng nam,phía tả kinh kỳ,phần sao Thuần,Vĩ,
Phủ hai, huyện sáu,tổng bốn mươi lăm.
Xã một nghìn dư,đinh năm vạn lẻ,
Ruộng đất hơn ba muôn mẫu.
Tô thuế đến năm vạn linh,
Làng La Qua là nơi tỉnh lị, dinh thự nguy nga.
Xã Thanh Chiêm ấy chốn học đường,cửa nhà đồ sộ,
Miếu thờ thánh,đền thờ thần,đồn bảo giữ gìn mọi nẻo.
Sứ có quán,thương có cuộc,công trình kiến thiết bấy lâu,
Thành trì hùng tráng phiên châu,dấu tích đổi thay cõi vũ.
Từ Trần về trước đất thuộc Chiêm Thành: lộ đặt từ Hồ Thừa Tuyên,Lê đổi.Kể cả phủ Hoài Nhơn,Tư Nghĩa. Hồng Đức có ba,tháp vào dây Thuận Hóa,Điện Bàn,tiên triều thêm một.
Thái Tổ gọi Dinh,gọi Trấn,
Minh Mạnh đổi tỉnh đến nay.
Trải bao thế cuộc đổi thay,
Nhìn thấy non sông rạng vẻ.
Nam giáp Quảng Ngãi, Bắc giáp Thừa Thiên,
Tây giáp Lào,Xiêm,Đông kề biển cả.
Cu Đê Tây Bắc, Hữu Bang Tây Nam,
*Đại Yểm Đông Nam,Đà Nẵng Đông Bắc. [*Đại Yểm là cửa An Hòa]
Từ cửa bể đến đầu nguồn,chín mươi dư dặm,
Từ Hải Vân vô Bến Ván,bảy trạm liền nhau. (1)
Giao kỳ phân định rõ ràng,sông núi điểm tô rực rỡ,
Núi có Bàng Than,Đồng Hoạch,Hương Quế,Trà Sơn,
Mõ Diều,Kiều Ngựa,Tượng Lãnh,Cổ Cò.
Quế Sơn có hòn Nha Não,Hà Đông có núi Răng Cưa;Vân Thê một dãy về Nam gần miền Quế, Lệ,Mỹ An,mấy hòn phía Bắc ngó xuống Hòa Duy.(2)
Hòn Tạng ở tại Thạch Khôi,hòn Nga thuộc về huyện Lệ. Quế Sơn có núi Thiên Trù, cao ngất từng mây,Phú Nham có núi Chúa sơn còn lưu dấu tích.
Cù lao ở ngoài mé biển,Chánh Lãnh thuộc hạt Hà Đông.
Tào Sơn cao mấy chục dặm dư,tỉnh đàn có tế,
Hành Sơn trong ba mươi sáu cảnh,Ngự chế có thi.
*Cửa biển có ba,ngỏ nguồn có sáu, [*Đà nẵng,Tam kỳ,An Hòa]
Hai dòng nước Sài Giang phát nguồn từ tả trạch.
Mấy nhánh sông Kỳ Thủy chảy xuống cửa An Hòa,
*Trường Giang một dãy bình sa,quanh co mấy khúc. [*trường Giang là con sông chảy ngang]
Vĩnh Điện là con sông mới đào bởi công trình,
Trà Úc sông nước trong xanh; Cẩm Lệ sông sâu dợn sống.
Sông Hòa Vang cò thường lặn lội,sắc trắng phơi màu,
Bàu Hà Lam sen mọc tốt tươi,mùi hương thơm nức.
Trải xem non cao thủy thanh,thấy rõ hùng châu danh thắng,
Mới biết địa linh nhân kiệt,nảy sinh anh tuấn khác thường.
Nam cung ứng tuyển; nhạn tháp đề danh,
Xuân thí khôi khoa,vân trình thắng bước. (3)
Hoặc bà con một họ,tấn sĩ,phó bảng ghi tên,
Hoặc dòng dõi một nhà,khoa trước,khoa sau đều đỗ.
Khoa trường đã thịnh,hoạn lộ càng hanh,
Phò vua lập được công to,trừ cọp chỉ dùng ngòi bút.
Thanh liêm nổi tiếng,khí tiết nêu cao,biết bao những bậc anh hào
còn lưu sử sách,
Trọng trấn được lòng dân chúng,tuẫn tiết ở chốn biên cương.
Mô phạm xứng tài,sứ trình nổi tiếng,cảm thay bao nhiêu công nghiệp
chẳng ngớt người khen,
Không những nhiều bậc văn thần,cũng có lắm tay võ lược;
Thi đỗ nhị giáp,tam giáp,quan đến trung quân,hữu quân.
Khẳng khái anh hùng, biểu dương trí dũng; tùy thời xuất hiện
Có đủ hạng người,
Làng Thái Bình có Đỗ Bố Y ( Đỗ Quí Lương) thảo dã dám cửu trùng bộc bạch!
Thôn Hà Nhuận có Nguyễn Kỳ lão,vợ chồng thọ trăm tuổi có dư.
Mũi Thành,miệng Trị,râu Lê,trán Vinh là bốn tướng tốt; cờ Khâm,
đờn Hòa,sáo Sâm,họa Thiệu cùng một tài hay [các tài danh về ca,nhạc,họa]
Tuy là những sự tầm thường cũng được người đời truyền khẩu;
Còn như khuê môn,bồ liễu cũng có những kẻ lừng danh;
Đoàn Lệ Phi,tiếng hát trong dân,được vời vào nội. [ cô gái hái dâu Đoàn ngọc Phi,vợ Chúa Nguyễn
Phúc Lan,sau trở thành Hoàng hậu]
Lý tài nữ,ca trường diễn kịch,nổi tiếng một thời,
Thủ tiết thờ chồng,mẹ ông tu soạn họ Nguyễn,tuổi xuân ở góa;
Vợ Phủ Định Tường họ Trương.
Phong tư dù có khác nhau,tài hạnh cũng đều đáng trọng,
Chí như ảo huyền,tà thuật mà cũng có kẻ tương truyền.
Hà Đông Tạo thiền sư,thư trái cây chữa bệnh; Điêm Điền Lánh đạo sĩ cởi rồng vẽ bay cao, (4)
Có khi háo sự đặt bày,lẽ nào thuật cao đến thế!
Các nghề nghiệp khác vẫn được chuyên cần:
-Sĩ thì cắp sách đến trường,hoặc cấp lương ăn học.
-Nông thì đạp xe lấy nước,hoặc bắt trâu để cày,
-Thương thì buôn bán Bắc-Nam,phố Minh Hương, Hội An, thuyền Trà Nhiêu,Bàng Thạch.
-Công thì giữ nghề tổ phụ,lò rèn Phước Kiều,Phú Xuân,xưởng mộc Kim Bồng,Chợ Phố,
Chỉ ba canh bảy,gái giỏi dệt guồng.
Kiểu tròn,mẫu vuông thợ nghề đồ gốm,
Vườn có nhiều trái cau,ruộng có nhiều mía; đầu nguồn nhiều lợi cây gỗ,
dưới bể nhiều lợi cá tôm.
Chằm nón thợ nọ khéo tay,dệt chiếu nghề kia cũng thạo,
Xem hát xướng trò xưa tích cũ,gẫm cũng vui thay!
Bày tế diên,lồng kính,soi đồng,còn nhiều mê tín.
Nói về thổ sản cũng chẳng thiếu gì: lộc,nhung,sáp ong,ngà voi, tê giác,
Tiên Giang,Trà Nô,Lỗ Thủy,đất có lộn vàng.
Ba Vi,Chiên Đàn,Trà Mi,rừng thường sinh quế,
Cũng có mõ đồng,mõ chì, mõ sắt.
Cũng hay dệt sa,dệt lụa dệt là,
Nam trân,cảm lãm,am la,trái ngon thường tiến.
Yến sào,ve non,mắm dãnh vật quý thường cung. [mắm dãnh một
loại mắm ngon ở Hội An]
Đá thì có cẩm thạch,đá cưa,đá mài.
Gỗ thì có gổ liêm,gỗ kiền,gỗ giáng,
Phước Giang có vỏ hến làm vôi dễ bề xây cất.
An Xuân có bùn đầm khô chụm,tiện việc nấu nung,
Đá than để chạy khí cơ,trầm hương để cúng ky lạp.
Núi có sa nhơn,đậu khấu,đầm sinh cây lát,cây đay,
Thuốc thì thuốc Cẩm Lệ thơm ngon,trà thì Quế Sơn thanh thú.
Mật ngọt,gạo hèm nấu rượu,băng ba,lục đậu làm quà,
Khéo hồ đến nỗi nhìn lầm: vải Thanh Quít,lụa Hà Nhuận.
Thu thuế có ti sở quản,biển về hộ,núi về sông,
Nói về cổ tích cũng lắm cảnh kì: có Cổ Tháp,có Phương Trì,
Có Giếng Tiên,có Núi Ngọc.
Đại Trấn hải buồm thuyền như dệt,
Cầu Lai Viễn xe ngựa thường qua. [ Chùa Cầu Hội An*]*
Đầm Thạch Bồ có chuyện lạ kì, kéo gỗ núi làm lầu thủy phủ,
Làng Lai Phước dưới chân Núi Đất, có suối kia là nước ôn tuyền.
Huyệt Thạch Bích vạn đại công hầu, (5)
Am Tiên tử nghìn thu dấu tích.
Nhớ nhà sư ứng nghĩa,Chiên Đàn cởi áo cà sa,khiếp thượng tướng
Oai phong,Bến Ván chôn cây kích gãy,(6)
Thành Hoàn vương rêu xanh che phủ,lũy thượng công cổ bích sum sê.(7)
Lăng công tử nơi đâu? Đá vọng phu còn đó.
Trấn Cù dậy oai truyền Bắc Đế,cỡi diều bay dấu để Cao Biền, [ các con Cù nơi Chùa cầu,Hội An*]*
Núi Ngũ Hành Non nước xinh xinh; Trấn Hải Vân núi mây vời vợi.
Tôn lăng tại Chiêm Sơn hai vị, vương khí ngàn thu,
Danh lam có Phước Lâm chính chùa, khói hương muôn thuở. [ chùa Phước Lâm ở Hội An*]*
Trải bao thế kỷ,sự tích còn truyền,nói đến tiết thời có nhiều kinh nghiệm,
Cu Đê rạn mống là lụt sắp dâng,Trà Kiệu mù mây là mưa sắp đổ.
Ở gần nhiệt đới,lạnh ít, nóng nhiều,vì phương Nam là nơi trường dưỡng
Khác với khí hậu Bắc phương.
Rực rỡ thay!Nghìn năm bờ cõi,một dãi phong cương,đất ngày mở thêm;
Vật ngày càng thạnh,
Sông núi có nhiều lợi lộc,thuế khóa lại được dồi dào.
Gặp hội minh trào,thấm nhuần mưa móc,
Trình bày những chuyện nghe thấy,dám đâu trích quái cầu kì,những mong góp ý
Nhã phong,để tỏ cảnh nầy,vật nọ.
Bởi vậy huơ bút làm bài phú nầy,nhờ các bậc cao minh phủ chính,
Có thấy phong vật tốt tươi trong một tỉnh,mới biết công ơn giáo dục
Trải ba trăm.
MAI- SƠN.
Với đất nước văn vật ấy,bây giờ hậu bối ở nơi xa, không tiện đi lại,thì xin quí vị về thăm quê hương qua trang sách,cùng xem lại hành trạng các nhân vật đất Quảng đã làm rạng danh tổ quốc và chốn nhau rốn.
Ghi chú:
-
Bảy trạm liền nhau gồm: các trạm Nam Chân,Nam Ổ,Nam Giáng,Nam Phước,Nam Ngọc, Nam Kỳ,Nam Vân.
-
Bàng Than ở cửa An Hòa,Đại Yểm; Đồng Hoạch ở Hòa Vang [ nay thuộc Đại Lộc].
-
Xuân thí khôi khoa – Phạm phú Thứ đỗ song nguyên,Phạm như Xương đỗ Hoàng Giáp
-
Tạo Thiền sư là Thiền sư tên Tạo.
-
Huyệt Thạch Bích tức búi Thạch Bích làng Xuân Yên ,Quế Sơn.
-
Nhà sư Ứng Nghĩa tức nhà sư Nguyễn Tương xuất gia lúc 12 tuổi tại chùa Chiên Đàn,Cởi áo Cà Sa theo Nguyễn Ánh đi đánh Tây sơn, trận Bến Ván và tử trận tại đây,sau được thờ ở Thái miếu.
-
Thành Hoàn vương là thành vệ ở Điện Bàn (cổ Chiêm Thành).
VÀ ĐÂY LÀ CA ĐỊA CHÍ QUẢNG NAM.
Quảng Nam vốn đất Chiêm Thành
Trần,Lê thuở trước đánh giành đã lâu
Triều ta mở vận nam châu
Từ vua Gia Dũ khởi đầu khai cơ,
Tây Sơn,Giáp ngủ dựng cờ.
Cao Hoàng khôi phục cõi bờ về tay,
Đặt làm dinh,trấn những ngày.
Sau đặt làm tỉnh đổi thay mấy lần,
Bắc Thừa Thiên giáp Hải Vân.
Nam giáp Quảng Ngãi kề gần núi Phong,
Tây thì giáp đến Mê Kông.
Mọi cao,Mọi thấp mấy vồng núi xanh,
Đông thì biển rộng thinh thinh.
Đất hai trăm dặm sẵn ghi rành rành,
Bảy phủ huyện ấy tên chi.
Sát ngoài phía Bắc vậy thì Hòa Vang,
Giữa thời là phủ Điện Bàn.
Tỉnh thành thì cũng nằm ngang một bề,
Duy Xuyên huyện nữa trong kề.
Quế Sơn vô nữa thì về phủ Thăng,
Hà Đông,Quảng Nghĩa sát giăng.
Còn huyện Đại Lộc mới tăng trên cùng,
Nhìn xem non nước trùng trùng.
Ngõ nguồn có sáu phải thông tên gì?
Hữu Bang sát núi Trà Mi.
` Chiên Đàn nguồn ấy vậy thì ở trong,
Thu Bồn một dãy cong vòng.
Ô Gia thì ở trên dòng sông Côn,
Lỗ Đồng sát núi Cao Sơn.
Cu Đê thì ở gần hòn Hải Vân,
Lại xem đến dưới hải phần.
Cửa biến có bốn xa gần đâu đâu,
Cu Đê,Thủy Tú có cầu.
Đà Nẵng hải khẩu nước sâu đậu tàu,
Phố cùng Đại Chiếm gần nhau.
Còn cửa Đại Áp ở sau Tam Kỳ,
Bản trạm ấy là tên chi?
Nam Hòa phía Bắc,Nam thì Nam Vân,
Cứ trên đường cái kể lần.
Nam kỳ trạm ấy lại gần phủ Thăng,
Lễ Dương,Nam Ngọc sát dăng.
Còn trạm Nam Phước ở gần Duy Xuyên,
Miếu Bông,Nam Giáng gần liền.
Còn trạm Nam Ổ ở làng Hóa Ô,
Ngàn năm xây dựng cơ đồ,
Người trong khắp nước tỉnh mô dám bì,
Nông Sơn than đá thiếu chi.
Bảo An đường tốt, Trà Mi quế nhiều,
Bạc vàng thì ở Bông Miêu.
Phò Nam,Phú Thượng biết bao nhiêu chè,
Tơ cau,quế chở đầy bè.
Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần,
Một ngàn bốn mươi xã dân.
Đinh dư sáu vạn,điền gần bảy muôn,
Theo truyền văn bài ca địa chí Quảng Nam nầy là của Tiến sĩ Phạm Liệu,một trong Ngũ Phụng Tề Phi viết trước năm 1904. Trích lại từ Huỳnh thúc Kháng,Con người và thơ văn (Nguyễn quốc Thắng phủ QVKĐTVH xuất bản 1972 tại Sài Gòn). Và trích ghi lại từ Nguyễn Quốc Thắng:Quảng nam Đất Nước và Nhân Vật I,II.
Ghi các bài phú và bài Ca địa chí bên trên cố ý giúp mọi người dễ hiểu về các địa danh nơi quê hương của người Quảng nam. Bên cạnh, cũng mượn sự ghi chép nầy mà khép lại bài viết “Những chuyện nên ghi lại về xứ đất Quảng nam,quê tôi”mà tôi đã thực hiện bên trên./.
Viết xong,ngày 20 tháng 11 năm 2025. Phan công Thạnh .