Đừng để con cháu mai sau mù lịch sử.
Trong một buổi nói chuyện vào tháng 10 năm 2011.Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc lúc đó là ông Hồ Cẩm Đào đã phát biểu ý đồ của mình một cách rất rõ,đại ý là như thế nầy: “Tôi là người Trung Quốc,tôi không nói Nam Sa-Tây Sa là của tôi, thì tôi không phải là người Trung Quốc”.Cũng như các bạn là người Việt Nam mà không nói “Hoàng Sa-Trường Sa là của các bạn,thì các bạn không phải là người Việt Nam”. Đó là một thứ lý lẽ kỳ quái, ngụy biện,mà hầu như người Trung Quốc nào trong tâm của họ,họ cũng luôn luôn trong thâm tâm có ý đồ là muốn xâm lược các nước láng giềng nên, họ quyết phải nói như vậy.Đó là cái lý lẽ rất ngụy biện “bởi một cái gì đó hoặc là của anh,hoặc là của tôi,chứ làm gì có cái chuyện ai cũng nói là của tôi được”.
Cũng trong cuộc gặp mặt và nói chuyện lần nầy (dĩ nhiên là gặp và nói chuyện với những người cộng sản Việt Nam) Ông Hồ Cẩm Đào lại nói rằng: “Tôi không thể bỏ đường chín đoạn,vì đường chín đoạn là cái mà lịch sử để lại,nếu chúng tôi bỏ nó đi thì người dân Trung Quốc sẽ không theo chúng tôi”.
Thật tình ông Hồ cẩm Đào đã nói sai lắm rồi,cái đường đó đâu phải là lịch sử Trung Quốc để lại.Cái đường đó là do óc tưởng tượng của ông Tưởng Giới Thạch đã vẽ ra.Cả người cộng sản Việt nam và người công sản Tung Quốc đều không công nhận ông Tưởng giới Thạch vì là khác chính kiến,thế thì làm sao công nhận cái sản phẩm của họ Tưởng được.Nếu muốn nói đến lịch sử thì phải nói đến: “ Nhị thập tứ sử” hay “ Hoàng Triều Trực tỉnh địa dư toàn đồ” (“Nhị thập tứ sử” bộ sử ký nầy ghi chép từ thời Thượng cổ đến đời nhà Thanh và “ Hoàng Triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”.Tập bản đồ địa dư toàn đồ các tỉnh của Trung Quốc được thực hiện dưới thời nhà Thanh,xuất bản năm 1904,trong đó ghi rõ cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam).Một người Việt Nam cũng là người cộng sản,đang tham dự cuộc họp nầy,nhưng là một người có tầm hiểu biết về lịch sử,nên đã thấy cái sai trong lời phát biểu của ông Hồ cẩm Đào,mà đã xin phép đứng lên phát biểu đưa ra lời phản bác về hai phát biểu của ông Hồ cẩm Đào,từ cái đúng về sự hiểu biết của người Việt qua lịch sử,người Việt, cho dù là cộng sản cũng phải nói lên cái đúng,đến đây thì ông Hồ cẩm Đào phải im lặng, bởi từ cái hiểu biết của người Việt về lịch sử đã nói lên cái khí chất thông thái về lịch sử của đại đa số người dân Việt,nó đã chặn đứng được cái ý đồ về âm mưu luôn muốn xâm lăng,bành trướng thế lực của những người phương Bắc.
Qua câu chuyện trên,cho ta thấy mọi người Việt Nam dù ở bên nầy hay bên kia,nếu tự nhận mình là người yêu nước,thì cần phải hiểu biết một cách tường tận về lịch sử của dân tộc mình,hay nói một cách khác đó là chính lịch sử của mình,của một người công dân Việt.
Như vậy ta hiểu rằng,lịch sử là môn học bắt buộc,nó không phải là một mớ rau,nhúm cá mà để tự ý chọn lựa như ý kiến của những người sống dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa hiện tại đã đề nghị,nếu không học thuộc lịch sử về dân tộc mình một cách đàng hoàng,đúng đắn,thì cuộc sống của con người ấy cũng chỉ đang múa may trong xã hội ,nó sẽ giống như trường hợp “một anh mù sờ voi vậy”.Vì vậy mỗi người chúng ta nên ý thức một cách đúng đắn,đừng để cho con cháu chúng ta mai sau mù tịt về lịch sử, mà câu chuyện nhỏ nêu trên đã minh chứng, đó là một ví dụ.
Định nghĩa môn học lịch sử:
Lịch sử là gỉ? Theo cách nghĩ thông thường,lịch sử đó là những sự kiện đã xảy ra trong đời sống xã hội loài người,cũng như trong thế giới tự nhiên từ mỗi xứ sở,được con người từ xứ sở đó ghi chép lại bằng giấy bút (tức thành những văn bản) nhằm để lại cho hậu thế.Với cách định nghĩa như vậy, lịch sử là một phạm trù rất rộng lớn,bao gồm nhiều lãnh vực đối với cả lịch sử của cả một dân tộc, mà trong đó ghi rõ tất cả mọi sự việc xảy ra, trong cả một xã hội gồm cả sự tranh đấu trong công cuộc dựng nước và giữ nước, cùng sự phát triển đời sống về dân sinh đối với con người về nhiều mặt từ kinh tế,văn hóa,xã hội đã được áp dụng trong cuộc sống của mỗi người dân sống trên phần lãnh thổ của quốc gia đó,và kể cả sinh hoạt từ các tổ chức đoàn thể,đảng phái trong sinh hoạt chính trị dưới luật pháp của đất nước đó.Tóm lại: nói một cách cụ thể, mỗi sự vật,mỗi con người,mỗi gia đình sự tồn tại trong đời sống xã hội, kể cả trong thế giới tự nhiên đều là những hiện tượng tạo nên lịch sử riêng, cho từng bộ phận đã được nêu trên.
Như vậy lịch sử là những sự việc đã xảy ra trong quá khứ,mà các sự kiện ấy đã được ghi chép lại một cách đúng đắn để lại giúp cho các thế hệ hậu bối, biết được những sự việc đã xảy ra trong xã hội loài người,kể cả trong tự nhiên thuộc quá khứ,đồng thời cũng để chỉ cho các thế hệ hậu bối biết được các thế hệ tiền bối của họ đã sống như thế nào, đã làm được những việc gì,để cho các thế hệ hậu sinh rút kinh nghiệm từ những bài học về quá khứ,đem áp dụng thật hiệu quả vào cuộc sống hiện tại của họ một cách tốt đẹp và tiến bộ,để họ được giỏi hơn các thế hệ tiền bối của mình,có hiểu để làm được như vậy thì mới mong xã hội thăng tiến một cách tốt hơn.Từ cái ý nghĩa cao đẹp ấy,nên chúng ta thấy hầu như tất cả các nhà nước trên khắp thế giới, đều hiểu được về cái định nghĩa hữu ích trên,do vậy mà hầu như tất cả mọi quốc gia trên khắp thế giới, trong phạm vi giáo dục, chương trình giảng dạy tại những trường học đều đưa môn sử học vào chương trình giảng dạy tại các cấp nơi các trường học từ cấp thấp nhất cho đến cấp cao nhất của quốc gia mình,cốt giúp người dân sống trên đất nước ấy, om hiểu về bổn phận và nhiệm vụ của một công dân đối với đất nước,trong việc xây dựng và giữ gìn đất nước.Do vậy môn học sử luôn song hành với các môn khoa học thường nhật như toán học,thiên văn học,luật học, thần học,triết học,kể cả môn ngôn ngữ học.
Trước năm 1975,tại Miền Nam Việt Nam,dựa vào tính chất các môn học,Bộ giáo dục đã ghép môn “Sử,địa,văn chương cùng với sinh ngữ”vào một khối áp dụng vào việc dạy cho học sinh Ban C (Ban văn chương) từ cấp cuối bậc Trung học phổ thông và giảng dạy suốt cả cho chương trình Bậc Đại học Văn Khoa.Do vậy không nên dựa vào cách sắp xếp trên mà nhầm lẫn mối quan hệ thẩm mỹ giữa văn chương và lịch sử.Bởi lịch sử không phải là “môn văn chương đẹp đứng hàng thứ hai sau văn chương”mà phải hiểu, lịch sử là một môn học nghiên cứu về quá khứ,nó bao gồm nhiều sự kiện xảy ra giữa con người và xã hội trong quá khứ.Còn những câu chuyện kể lại về lịch sử nó có thể chứa đựng những mẫu chuyện thật hấp dẫn,những bài học chứa nhiều ý nghĩa đẹp, tuy nó vẫn mang ý nghĩa của phạm trù về lịch sử, bao giờ cũng mang tính chất nghệ thuật của văn chương,nếu không phân biệt được rõ đôi lúc làm cho người đọc nhầm lẫn. Mặt khác,bởi văn chương đó là một hình thức nghệ thuật,mà các nhà văn xử dụng ngôn từ để tạo nên cái đẹp,trong đó chứa đựng cảm xúc về suy nghĩ của con người qua những sự kiện có thể là tưởng tượng,đôi lúc khá hời hợt đối với quá khứ..Ngược lại lịch sử,đôi lúc có thể được các nhà sử học trình bày một cách cũng khá hấp dẫn,đọc lên nghe rất mùi mẫm,giống hệt giọng của văn chương vì nó cũng mang đầy đủ tính chất nghệ thuật,nhưng mục tiêu chính của môn lịch sử không phải tạo ra cái đẹp ấy, mà là tìm hiểu để hiểu biết về tất cả mọi sự kiện đã xảy ra trong quá khứ.
Rất dễ nhầm lẫn một khi văn học viết về lịch sử mà các nhà văn mượn xưa để nói nay trong việc họ mượn câu chuyện về lịch sử để làm cái cốt, đó là biểu tượng gởi gắm suy tư về hiện tại,về sự tồn tại,về sự hưng phế qua giá trị của thời gian.Nhưng khi đọc ta phải hiểu lịch sử luôn là cái đã qua, còn những án văn chương viết về lịch sử luôn là gắn với hiện tại,bởi người kể chuyện và người nghe chuyện đều là người của hiện tại.Đọc các tác phẩm văn học viết về lịch sử,từ cái nhìn về loại hình (văn học) đến cái nhìn về thể loại (như tiểu thuyết, truyện ngắn) chúng ta có cơ hội tiếp cận với các phiên bản lịch sử khác, đầy hào khí của những thời đại anh hùng đánh giặc giữ nước,bằng những võ công oanh liệt của tiền nhân,với những tấm gương anh hùng,hào kiệt đã làm nên đại nghiệp kiến quốc,kinh ban tế thế.Nhưng cũng với những án văn chương đó,người đời được tiếp xúc với những cuộc đời mang tính chất rất đổi là con người: Những người đàn ông,những người đàn bà,những trai trẻ cường tráng căng đầy huyết thống,không phân biệt các bậc vương tôn công tử,đến những thứ dân mang trong người đầy nhiệt huyết,từ những con người được sống nơi gát tía lầu son cho chí đến những người sống nơi thôn dã, hang cùng ngõ hẻm của thời quá khứ. Như thế văn chương viết về lịch sử có thể nói nơi đó có khuynh hướng của một trào lưu đang rất kỳ vọng của thời đương đại.Đọc những án văn chương dã sử viết về lịch sử như vậy, người ta dễ nhầm lẫn môn sử học là môn văn chương thứ hai được xếp kề cận bên sau bộ môn văn chương. Nhưng chúng ta không nên nhầm lẫn bởi hình thức,từ ngôn từ mà lịch sử tái diễn,mà phải hiểu lịch sử là những sự việc đã qua,đã xảy ra trong quá khứ nên phải tìm căn nguyên về thời gian của nó,còn văn chương là những án văn được mượn câu chuyện về lịch sử để diễn đạt lại trong hiện tại,tuy rằng rất nhiều cảm hứng,cảm xúc tươi mát hợp khẩu vị người đọc,nhưng chỉ do tác giả trình bày mà thôi.
Ví như bài hịch của Lý Thường Kiệt ra đời với tất cả sự tự tôn của người Việt,khi khẳng định lãnh thổ Đại Việt trên cương vị là một đất nước có chủ quyền,độc lập và tự chủ: Ở tác phẩm dã sử nầy đã đưa tiếng nói của lịch sử mang tầm vóc lịch sử của bài thơ đã trở thành một bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Đại Việt.Những lời tuyên bố hùng hồn,đanh thép trong bài thơ là những lời tuyên bố hùng hồn đánh dấu uy thế của Đại Việt đối vơi ý đồ xâm lược của người lâng bang phương bắc.
(Quốc hiệu Đại cồ Việt dưới các triều đại trước,được Lý Thánh Tông đổi là Đại Việt)
Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư.
Dịch nghĩa:
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành đã định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc lai xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Bài thơ không chỉ là lời tuyên bố chủ quyền mà còn là một lời hịch,lời hiệu triệu nói lên tinh thần yêu nước,khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập của dân tộc Đại Việt trước lũ giặc ngoại xâm.
Phân tích ý từ các câu thơ hay là lời hịch của danh tướng Lý thường Kiệt như sau:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư”:Đây là lời khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nhà nước Đại Việt phải do vua Đại Việt cai trị.
“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” :Nhấn mạnh việc chia cắt lãnh thổ nầy,đã được ghi rõ trong sách trời,ý là thiên định,là lẽ đương nhiên,như vậy không một ai có thể thay đổi được .
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm” :Từ “nghịch lỗ” dùng trong câu nầy, là để chỉ bọn giặc Tống,với ý khinh miệt,dân Đại Việt quyết phản đối hành động xâm lược của chúng.
Câu cuối “Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư”: Lời tuyên bố đanh thép về sự thất bại của quân xâm lược,thể hiện qua ý chí quyết tâm bảo vệ sự độc lập,toàn vẹn lãnh thổ của con dân Đại Việt.
(theo Wikipedia)
Ý nghĩa từ Lịch sử và ý nghĩa các bản văn viết về Lịch sử:
Lựa chọn viết những án văn về lịch sử,tìm về quá khứ cũng là một dụng ý chính đáng của những nhà văn chân chính hết lòng yêu nước,như bản cáo trạng “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trải,là một sự nhìn lại một quá trình chiến đấu anh dũng trong lịch sử nước nhà,thay lời người dân tố cáo tội ác của quân giặc,nó mang tính chất như một hào quang phản chiếu của lịch sử.Nó không những nói lên sự căm hờn,sự ai oán kêu than.Tuy nhiên, nó không hề mang tính chất bi lụy,sự trách móc,và càng không phải để chỉ mua vui,xuyên tạc,hay lôi kéo thị hiếu của người đọc.Mà là khi văn học dùng viết về lịch sử tức một khi văn học đã có lịch sử. Đem lịch sử đan xen vào các tác phẩm văn chương,là chứng tỏ văn học và lịch sử có mối quan hệ khắng khít với nhau là điều hiển nhiên. Nhưng phải biết tách ra để phân biệt lịch sử vì nó là lịch sử,nó rất khác biệt với văn chương,tuy rằng bản thân lịch sử đã sinh ra vô vàn những cái khác nhau như vậy,nhưng lịch sử vẫn phải hiểu một cách đúng đắn là cái quá khứ của vạn vật,là qui trình vận hành trong nhân gian mà tạo nên cái quá khứ cho đến hiện tại,ngay cả văn học cũng chỉ là một phần của tế bào lịch sử.Chính văn học cũng có lịch sử riêng của nó qua các thời kỳ.Các giai thoại,có thể phải trải qua những biến cố,những thăng trầm trong suốt chiều dài phát triển của nó.
Tóm lại: nhà văn viết về lịch sử là muốn chiêm ngưỡng lại thành quả của tiền nhân trong quá khứ, khơi dậy lòng tự hào dân tộc,soi rọi lại những góc khuất bị lu mờ của quá khứ,khơi dậy lòng tự hào của dân tộc,tức làm một việc bổ sung,can dự vào việc đánh giá để nhìn nhận lại quá khứ thật đúng, qua cách dùng nghệ thuật để hướng dẫn người đọc,phải nhìn đúng về quá khứ của lịch sử.Những án văn như vậy,lịch sử là cách mượn làm cái cớ để viết,để gởi gắm cái suy tư về hiện tại, mượn xưa để nói nay,lịch sử chỉ là cái cớ, nên khi ta đọc được những án văn như vậy,ta phải phân biệt được cái giá trị hưng phế qua thời gian, để từ đó lần tìm hiểu cái gốc về lịch sử là những cái đã qua theo thời gian,còn những án văn chương viết về lịch sử thì luôn gắn liền với hiện tại, vì là những con người của hiện tại kể cả về người viết lẫn người đọc.
Văn chương viết về lịch sử,có thể một vài khía cạnh nào đó góp phần soi sáng cho quá khứ của lịch sử,nhắc người đọc hiểu biết lịch sử về giai đoạn đó.Nhưng phần chính yếu văn chương vẫn phô bày vẻ đẹp về nghệ thuật,vẻ thẩm mỹ,nó là thông điệp về nhân sinh chứ không phải là lịch sử.Trong một cộng đồng,một dân tộc,văn chương viết về lịch sử là nhằm tạo ra những khả năng,hướng đến việc kiến tạo giá trị,bản sắc,mang tầm vóc văn hóa,tư tưởng qua hành trình từ quá khứ đến hiện tại để hướng tới tương lai của dân tộc đó vậy.
Sự bổ ích trí tuệ từ môn học lịch sử:
Bất cứ một vùng lãnh thổ nào,hay một quốc gia nào đã được hình thành trên bề mặt địa cầu,cũng đã được viết nên một trang lịch sử riêng cho từng vùng đất ấy,bởi sự đấu tranh của con người sống trên vùng lãnh thổ đó qua nhiều thế hệ, đã tạo nên một quá khứ được ghi nhận lại một cách đầy đủ bằng văn bản,với danh xưng được gọi là “Lịch sử” đã lưu lại cho các thế hệ kế tục về sau . Để nuôi dưỡng lòng yêu nước của con dân, là khi mà dòng lịch sử của dân tộc ấy được mọi công dân thấu triệt, hiểu rõ về dòng lịch sử của dân tộc mình một cách chính xác, trong đó có những giai đoạn thật hào hùng,cũng có những giai đoạn khó khăn mà tiền nhân của họ đã phải vượt qua.Người công dân một khi đã thấm nhuần được những giá trị truyền thống ấy,tức đã ý thức được cội nguồn để biết trách nhiệm của mình trong công cuộc bảo vệ đất nước, mà tiền nhân đã dày công xây dựng và giữ gìn để lưu lại cho hậu thế đến hiện tại,đó là bổn phận rất tự nhiên đối với mọi công dân trong một quốc gia.Để hình thành nên lòng yêu nước một cách chân chính,một khi mọi công dân đều được am tường về lịch sử của mình, mà đôi lúc trang lịch sử ấy thật hào hùng, bên cạnh đó cũng có những lúc thật bi đát mà tiền nhân phải gánh chịu một khi phải trải qua. Hiểu được như vậy không những đã tạo được niềm tự hào,sự gắng bó để trở thành người có trách nhiệm, mà sẵn sàng đóng góp cho sự phát triển chung của quốc gia, một khi đã được làm công dân của quốc gia đó.
Vậy muốn bảo vệ đất nước khỏi mất chủ quyền,trước hết mọi công dân trong một quốc gia phải thể hiện được lòng yêu nước.Muốn thể hiện được lòng yêu nước,mỗi công dân trong quốc gia đều phải am tường về lịch sử dựng và giữ nước của mình,muốn đạt được như vậy,trước hết phải qua một nền giáo dục đúng đắn,bởi từ sự tổ chức chính danh guồng máy lãnh đạo của quốc gia đó.Có được nền giáo dục đứng đắn,chân chính như vậy thì mới hướng con người tới đỉnh điểm của lòng yêu nước một cách chân thành được.
Dòng giống người Việt ta là một bộ phận trong cộng đồng Bách Việt,một cộng đồng có đời sống định cư được trải dài từ bên nầy bờ sông Dương tử trở về phương Nam và để rồi có một khoảng thời gian tránh đi nạn nhân mãn,người dân Bách Việt nhân cơ hội mực nước sông Dương Tử xuống thấp, họ đã vượt qua dòng nước của Trường giang để sang sinh sống bên bờ phía Bắc,và cũng kể từ sau thời gian sau đó, giống người Hoa-Hạ du mục sống bên kia bờ Hoàng Hà cũng đã vượt dòng nước sông Hoàng Hà, đến chiếm cứ vùng lãnh thổ nơi khoảng giữa của hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử,nơi mà trước đó không lâu cũng đã có một số người thuộc các giống dân Bách Việt vượt sông Dương Tử đến sinh sống.Khi hai giống dân du mục và lúa nước gặp nhau,họ sống chung đụng với nhau một cách hòa bình trong một khoảng thời gian khá lâu,và càng lâu ngày về sau, giống dân du mục đã tìm cách đồng hóa các nhóm dân Bách Việt,và càng về sau nữa theo cái đà ấy những cộng đồng du mục họ tìm cách đồng hóa các giống dân Bách Việt một cách triệt để,do bởi các nhóm thuộc giống dân Bách Việt sống nghề trồng lúa nước thì bản chất của họ khá hiền từ,không bon chen,nên giống dân du mục Hoa Hạ đã dùng đủ mọi mánh khóe để đồng hóa hết các nhóm dân lúa nước thuộc dòng Bách Việt.Và đến giờ nầy các nhóm dân du mục lại thắng thế đã chiếm cứ được hết vùng đất nầy mà họ gọi đó là vùng Trung Nguyên.Khi chung đụng với người thuộc cộng đồng Bách Việt,họ nhận thấy người thuộc các cộng đồng Bách Việt rất hiền hòa, vì các cộng đồng thuộc Bách Việt có đời sống chơn chất của giống dân sống với nghề trồng lúa nước,không mánh mung,không so bì,do vậy khi có sự chung đụng,các sắc dân thuộc nhóm du mục đã quen dùng sức mạnh của người sống trên lưng ngựa, tạo mọi điều kiện trong ý đồ bành trướng để chiếm đồng cỏ,họ áp dụng phương pháp dùng sức mạnh để lấn chiếm mà đồng hóa các nhóm dân thuộc cộng đồng Bách Việt.Họ dùng sức mạnh là bản chất của những người luôn dùng xảo thuật của người dùng sức trên lưng ngựa để lấn chiếm lãnh thổ,và rồi sau đó họ dùng ngôn ngữ để đồng hóa các nhóm dân thuộc cộng đồng Bách Việt có đời sống chơn chất của nghề trồng lúa nước, và càng về sau nhiều ngàn năm,các cộng đồng thuộc Bách Việt đã bị người Hoa Hạ (sau thời lập quốc của Lưu Bang nhà Hán, các giống dân du mục trên đã được đổi thành tên gọi chung là Đại Hán).
Cho đến giờ nầy chúng ta thấy,các giống dân thuộc dòng Bách Việt,đã bị Hán hóa hầu như gần hết,vì người ta bắt chước học theo giọng nói của người Hán,chỉ còn lại mỗi dòng Lạc Việt đã chống lại sự đồng hóa của các giống người phương Bắc,để rồi tìm cách lập quốc tại dãy đất nơi phương Nam xa xôi,mà giữ đúng bản sắc của dòng giống Lạc Việt mình.
Dòng Lạc Việt,giữ bản sắc dân tộc mình không bị đồng hóa một cách dễ dàng, bởi Lạc Việt chỉ là một nhóm nhỏ trong cộng đồng Bách Việt, nhưng không bị đồng hóa bởi từ mỗi người dân Lạc Việt đã nhìn thấu lòng tự tôn dân tộc của giống nòi mình,hầu như tất cả chúng ta đều đã nhìn thấy.
Từ xa xưa,người Lạc Việt đã biết thân phận mình là một cộng đồng thiểu số,rất nhỏ bé sống nơi vùng đất hiểm trở phương Nam,nên biết mượn cái địa thế hiểm trở ấy ẩn thân để mà sinh tồn.Qua một thời gian dài người Lạc Việt bị đô hộ bởi người Đại Hán,nhưng người Lạc Việt rất khôn khéo,chỉ việc mượn văn tự của Hán tộc làm phương tiện mà truyền đạt tư tưởng cho người mình,nhưng tuyệt nhiên không bao giờ học nói theo cái âm,theo cái giọng của người Hán,người Việt chỉ đọc chữ Hán và nói chữ Hán theo cái âm,cái giọng của người Việt.Đây là một bí quyết mà người Lạc Việt đã thực hiện để giữ được bản sắc riêng của mình,đã trải qua thời gian dài trên cả 2.000 năm kể từ năm 2.879 trước Công nguyên (thời đại Hồng Bàn),và kể cả hơn hai ngàn năm sau công nguyên cho đến bây giờ là 2025,dân tộc Lạc Việt vẫn không bị đồng hóa,đã phải trải qua với rất nhiều mánh mung,thủ đoạn mà người phương Bắc luôn luôn áp dụng,dù dưới thể chế chính trị nào.Tuy nhiên người Lạc Việt vẫn kiên cường đấu tranh để giành quyền tự quyết cho nòi giống mình.
Vào thời khi còn là khuyết sử sau công nguyên,năm 40 thuộc thế kỷ thứ nhất,dòng Lạc Việt đã ung đúc nên hai vị nữ anh hùng của dân tộc đó là hai bà: Trưng Trắc và Trưng Nhị. Công cuộc kháng chiến dựng và giữ nước của hai bà tuy bất thành,nhưng đã chứng tỏ được niềm tự hào dân tộc,minh chứng lòng yêu nước của con dân dòng giống Lạc Việt.Sự thất bại của hai vị nữ anh hùng con dân Lạc Việt làm cho cuộc đấu tranh tuy phải ngưng lại,nhưng tinh thần tranh đấu giành độc lập của dân tộc ta vẫn âm ĩ nung nấu,không bao giờ bị dập tắt.Mãi cho đến hơn 200 năm sau vào thế kỷ thứ III,người phụ nữ trẻ tại đất Thanh Hóa,Triệu thị Trinh mới 19 tuổi đã cùng anh là Triệu quốc Đạt,đứng lên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại quân Đông Ngô của Tôn Quyền, thời Tam Quốc ( vào năm Mậu Thìn 248 của thế kỷ thứ III sau công nguyên).Nhờ vào tài nghệ cao cường cùng với lòng dũng cảm và chí lớn,quyết đánh đuổi giặc ngoại xâm để dành lại quyền tự chủ,tự quyết cho dân tộc.Tuy tuổi còn rất trẻ,nhưng với ý chí sắt đá, người phụ nữ trẻ Triệu thị Trinh đã cảm hóa được lòng tín nhiệm của mọi đầu mục trên khắp vùng lãnh thổ Giao châu phải nể phục,để rồi tôn xưng bà lên làm chủ soái chỉ huy cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là bọn giặc Đông Ngô.
Hành động ấy của bà cùng tất cả đoàn quân kháng chiến của người dân Lạc Việt,có phải họ làm việc ấy là vì bổn phận công dân không? Chắc chắn là không!! Sự hiến dâng khi tổ quốc cần là bản sắc của con dân dòng giống Lạc Việt,nó đã chứng tỏ qua ý chí không chịu bị đồng hóa bởi âm mưu Hán hóa của bọn người phương Bắc.Tinh thần chống ngoại xâm phương Bắc được ung đúc bởi lòng tự nguyện hiến dâng một cách không đắn đo, bởi đó chính là “LÒNG YÊU-NƯỚC”,nó đã được ung đúc từ dòng lịch sử của dân tộc,mặc dầu vào thời điểm lúc bấy giờ,lịch sử dân tộc ta còn đang trong thời khuyết sử,không có văn bản viết thành sách,tuy nhiên, mọi người dân dòng Lạc Việt đều nhìn và biết được sự tàn bạo của nạn nếu bị đồng hóa,tức phải làm kiếp nô lệ.Chính từ sự hiểu biết ấy qua giai đoạn lịch sử nầy,mà lòng yêu nước đã trổi dậy một cách mạnh mẽ như là một sức mạnh siêu nhiên.Người dân Lạc Việt quyết phải chống lại âm mưu Hán hóa của bọn người phương Bắc,với cái manh tâm,xảo trá,họ từng bước,từng bước đã đồng hóa các nhóm thuộc dòng Bách Việt,vì các nhóm dân nầy thiếu ý thức về lòng tự chủ,ngoại trừ dòng Lạc Việt,để rồi họ bị hòa tan vào dòng chảy của lịch sử Trung Hoa như ngày nay.
Các nhóm dân tộc thuộc dòng Bách Việt trồng lúa nước có thể được hệ thống như sau:
- Ô Việt,Âu Việt,Mân Việt,Dương Việt, Sơn Việt,Nam Việt,Lạc Việt,Tây Âu Việt, Việt Thường,Đan Việt,Đằng Việt,Đầu Việt,Việt Tủy, Cứu Việt,Dạ Lang,Quỳ Việt. V…v. (ghi theo sử gia giáo thụ La hương Lân,tuy nhiên các giống Việt ghi trên nó mới chỉ là con số chỉ về số nhiều mà thôi.Vẫn chưa đủ con số để gọi là “Bách” Việt).
Sau cuộc kháng chiến thất bại của Bà Triệu thị Trinh,người Lạc Việt phải bị đô hộ,tuy nhiên cứ mỗi một khoản thời gian sau đó,người dân Việt lại đứng dậy huy động sức mạnh toàn dân để chống lại nạn ngoại xâm của người Tàu,qua các cuộc kháng chiến được ghi nhận như sau: Lịch sử Trung Hoa sau thời kỳ nhà Hán,đếnTam Quốc,cũng lại bị thay đổi qua nhiều triều đại,nhưng nạn xâm lăng của người phương Bắc dù dưới triều dại nào thì âm mưu muốn đồng hóa vẫn liên tục và dưới nhiều hình thức,do vậy người Lạc Việt phải đứng dậy chống lại kẻ thù để mưu cầu sự độc lập, mà chúng ta có thể hệ thống qua các cuộc kháng chiến của người dân Việt như sau:
Sau khi bà Triệu mất,nhà Đông Ngô (Tôn Quyền) tăng cường sự áp bức,bót lột,bắt hàng ngàn thợ thủ công giỏi người Việt ta đi xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp cho chúng (túc là thành Nam Kinh) bắt trói thanh niên ta đưa sang đi lính đánh giặc thay cho chúng.Quá uất ức,dân ta phải nổi dậy giết hai Thái thú là Tôn Tư và Đặng Tuân,là hai tên Thái thú tham lam và tàn bạo nhất.Các cuộc nổi dậy kháng chiến lúc thì ngấm ngầm,lúc thì công khai, nhưng luôn kiên nhẫn và bền bỉ,ảnh hưởng của phong trào chống ngoại xâm đã được lan tràn khắp cả 3 châu Giao chỉ,Cửu Chân và Nhật Nam,trong suốt thời kỳ bị thống trị bắt đầu từ thời ngũ Đại trên đất Trung Hoa, từ nhà Tấn (265-420) rồi tiếp theo là nhà Tống đến nhà Tề (420-588), cuối đời Tề tiếp đến là nhà Lương (Thời kỳ nầy Trung Hoa đã thay đổi qua 5 triều đại, sau nhà Hán thì được gọi là thời Ngũ Đại) Thời kỳ ngũ Đại được hệ thống như sau:Nhà Tấn,nhà Tống,nhà Tề,nhà Lương,và tiếp theo là nhà Tuỳ,đó là thời kỳ gọi là Ngũ Đại.Sau khi vua Tùy chết thì nhà Đường (Lý Uyên) nối nghiệp cai trị,vào khoảng thời kỳ nầy được gọi theo một tên kép là thời Tùy-Đường.
Trong khoảng gần một ngàn năm sau công nguyên,người Lạc Việt đã đứng dậy đấu tranh giành độc lập cho dân tộc mình, qua các cuộc kháng chiến được hệ thống như sau:
-
Cuộc khởi nghĩa của bà Triệu (Triệu thị Trinh) vào năm 248.lúc bà mới 19 tuổi,bởi giàu mưu trí và đầy khí phách,nên bà đã thu phục được sự tín nhiệm của tất cả các Hào Trưởng của cả ba châu,và bà được tôn lên làm chủ soái cầm đầu cuộc kháng chiến chống quân Đông Ngô của Tôn Quyền (thời tam Quốc).
-
Lý Bôn cuộc kháng chiến chống ngoại xâm được tiếp nối: chống lại sự cai trị của nhà Tấn (đầu thời ngũ Đại) vào năm 265-420,rồi đến chống nhà Tống và nhà Tề vào năm 420-588,các cuộc kháng chiến vào giai đoạn nầy vì nhỏ lẻ nên hoàn toàn thất bại.Mãi đến cuối đời nhà Tề tiếp nối là nhà Lương, Tên Tiêu Tư làm thứ sử Giao Châu vô cùng tàn bạo làm cho lòng người cũng vô cùng oán giận.Lý Bôn nhân cơ hội dân chúng chán ghét bọn giặc Tàu,ông đứng lên hô hào kháng chiến chống lại nhà Lương.
Lý Bôn, nguyên là con cháu dòng dõi người Tàu,chạy lánh nạn sang Giao Chỉ được 7 đời nên đã trở thành người bản xứ của xứ Long Hưng (huyện Thái Bình,Sơn Tây) ;lãnh chức giám quận Châu Đức (Hà Tỉnh) vì bất bình sự tàn bạo của người Tàu, mà ông rất thương dân mình,nên đã từ quan về quê rồi chiêu tập hiền sĩ,tụ hợp nghĩa binh để khởi nghĩa quét sạch bọn xâm lược nhà Lương vào năm 542, ông tự xưng là Nam Đế (tức Lý Nam Đế) lấy niên hiệu Thiên Đức,ban sắc phong cho bà Triệu để nhớ ơn vị nữ tướng anh hùng tiền bối.Năm 544,Lý Bôn tuyên bố dựng nước,đặt quốc hiệu là Vạn Xuân và lên ngôi Hoàng đế để lãnh đạo cuộc kháng chiến dai dẵng chống quân Tàu.Năm 548 Lý Nam Đế qua đời,nhưng các quan vă> ,võ vẫn tiếp tục cuộc kháng chiến chống xâm lăng.
Năm 571,Lý Phật Tử thuộc hàng thân tộc của Lý nam Đế,xưng đế hiệu,đóng đô ở Phong Châu (tỉnh Vĩnh Yên).Đến năm 602 vua nhà Tùy sai tướng Lưu Phương đem quân sang đánh nước ta, vây thành Cổ Loa,bức Lý phật Tử phải đầu hàng và bị bắt giải về Tàu,từ đó đất nước ta lại rơi vào ách thống trị của nhà Tùy,nước Tàu có cơ hội cai trị dân ta thêm 336 năm nữa.Nhà Tùy cải đổi đơn vị hành chánh tại nước ta thành quận,tức thành các quận Giao Chỉ (là toàn phần vùng Bắc Bộ) quận Cửu Chân (Thanh Hóa),quận Nhật Nam là (Nghệ an,Hà Tỉnh) và thêm đất mới chiếm được của Chiêm Thành là (Quảng Bình,Quảng Trị,Thừa Thiên). đồng thời bổ nhiệm Khâu Hoa làm thái thú Giao chỉ là một tên hung ác khét tiếng.
Năm 679 vua nhà Tùy chết,nhà Đường (Lý Uyên) chiếm ngôi mà kế nghiệp làm vua nước Tàu.Nhà Đường cũng không khá hơn các triều đại trước, bọn họ chia nước ta ra làm 12 châu,gồm 56 huyện,và dưới cấp huyện là Hương và Xã,đặt chức An Nam Đô hộ Phủ.Vì vậy danh xưng “An nam” của nước ta được khởi đầu là từ đó.Trong 289 năm (gần ba thế kỷ dân tộc ta bị nhà Đường thống trị kể từ năm 618-907) nhân dân ta đã nhiều lần đứng dậy chống lại sự áp bức,bóc lột khắt khe của bọn quan lại nhà Đường.Lý tự Tiên phát động khởi nghĩa năm 687,vây thành Tống Bình (Hà Nội) giết viên Đô hộ sứ Lưu Diên Hựu, nhưng sau bị viện binh nhà Đường đánh bại.
-
Mai thúc Loan quê ở Mai Phụ,cũng phải đi phu như mọi người,quanh năm phục dịch vất vả cho bọn quan lại nhà Đường.Năm 722,Mai thúc Loan kêu gọi và chỉ huy dân phu nổi dậy khởi nghĩa,được quần chúng cùng các sĩ phu hưởng ứng rất đông.Mai thúc Loan lập căn cứ ở vùng núi rừng hiểm trở cạnh sông Lam.Mai thúc Loan xưng đế để có danh chánh ngôn thuận cho cương vị chỉ huy,ông cho đóng đô ở Vạn An (vùng núi Đụn cạnh sông Lam) Vì da mặt ông đen sì,nên còn được gọi là Mai Hắc Đế.Nhưng cuộc kháng chiến cũng chỉ được một ít lâu sau đó,khi nhà Đường cử Dương Tư Húc đem 10 vạn quân sang trấn áp.Mai Hắc Đế bị thua,nghĩa quân tan rã.
-
Phùng Hưng người Sơn Tây,tụ tập nghĩa binh,tổ chức cuộc nổi dậy để chống sưu thuế nhà Đường quá nặng.Năm 766 đem quân về vây đánh phủ Đô hộ Sứ Tống Bình,phát động cuộc khởi nghĩa chống Tàu.Sau 7 năm Phùng Hưng qua đời,con là Phùng An nối nghiệp,suy tôn cha Phùng Hưng làm Bố Cái Đại Vương.Phùng An làm chủ đất nước được hai năm thì bị Triệu Xương được nhà Đường cử sang làm đô hộ An Nam sứ,chiêu dụ Phùng An ra hàng.Năm 791 Phùng An đầu hàng nhà Đường.
-
Năm 803 một tướng lãnh người Việt là Vương quí Nguyên tụ tập nghĩa binh nổi dậy chống lại cuộc binh biến của Triệu Xương nhưng không lâu sau đó bị dập tắt.
-
Dương Thanh,một thủ lĩnh người Việt căm phẫn vì sự hung bạo, khắc nghiệt của bọn quan lại phong kiến Bắc phương,cùng con là Chí Liệt,lãnh đạo binh lính dưới quyền, tập kích thành đô giết tên Đô hộ Sứ Lý tương Cổ thuộc dòng tôn thất nhà Đường.Sau đó nhà Đường cất quân tiến công thành Tống Bình,Dương Thanh bị giết ,con trai là Chí Liệt rút quân về mạn Yên Mô,Ninh Bình cầm cự đến tháng 7 năm 820 thì thất bại.
-
Khúc thừa Dụ,nhân triều đình nhà Đường bên Trung Hoa đổ nát,được nhân dân khắp vùng ủng hộ,ông tự xưng là Tiết độ sứ,một chức danh của quân Tàu,ông đã tự xây dựng một chính quyền tự chủ,loại trừ được quan lại phong kiến thống trị nước ta.Khúc thừa Dụ quê người Hải Dương,Ông qua đời năm 907,con là Khúc Hạo nối nghiệp,tiếp tục sự nghiệp xây dựng nền độc lập dân tộc,nhưng rồi ông mất vào năm 917,con trai là Khúc thừa Mỹ lên thay.
Năm 930 nhà Nam Hán sai tướng Lương khắc Trinh đem quân sang đánh nước ta,Khúc thừa Mỹ bị bắt giải về Quảng Châu,quân Nam Hán chiếm Tống Bình (Hà Nội),nhưng không dám ra khỏi thành,bởi các tướng cũ của họ Khúc,và các Hào Trưởng tại các địa phương đang giữ quyền cai trị nhân dân mình.Một trong các tướng của họ Khúc là Dương Đình Nghệ,người Ái Châu (Thanh Hóa) quyết chí giành độc lập dân tộc.Ông tự xưng là Tiết độ sứ.Ông tự tuyển mộ,nuôi và luyện tập ba ngàn quân.rồi mở cuộc tiến quân ra Giao Châu đánh bọn Lý Tiến,quan quân nhà Hán tháo chạy về nước.Như vậy vào năm 931,đất nước ta một lần nữa lại giành được quyền tự chủ.Năm 937,ông lại bị một viên tướng của mình là Kiều công Tiễn giết chết để đoạt chức tiết độ sứ.
- Ngô Quyền: Vào tháng 11 năm 938,Ngô Quyền là một viên tướng giỏi đồng thời cũng là con rể của Dương đình Nghệ,ông hay tin nhạc phụ mình bị giết,ông liền kéo quân từ Ái Châu ra trị tội tên phản bội.Cùng thời gian này, (938) vua Nam Hán phong con trai làm Giao Vương,đem thủy quân sang xâm lược nước ta.Ngô Quyền (899-944) cùng con là Ngô Mân,được sự ủng hộ của quân sĩ đã đem quân ra hạ thành Đại La,giết tên phản bội Kiều công Tiễn,trừ nội gián,rồi gấp rút tổ chức kháng chiến chống quân xâm lược.
Quân Nam Hán lần nầy dùng thủy quân từ mặt biển tiến vào nước ta,Ngô Quyền cho quân chặt cây đẽo nhọn một đầu làm cọc,và cho bịt đầu nhọn bằng sắt, đem cắm xuống lòng sông,lúc thủy triều lên,cho quân ra khiêu chiến để dụ quân Nam Hán tiến sâu vào bên trong dòng sông,chờ lúc thủy triều xuống,ông cho quân tấn công đánh úp,quân Hán tháo chạy,nhưng thuyền bị cọc nhọn đâm thủng, bị đắm nên quân Hán chết vô số.Hoằng Thao là viên chỉ huy thủy quân của giặc cũng bị quân ta giết chết.Chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng dưới quyền chỉ huy của Ngô Quyền vào năm 938,đã kết thúc hoàn toàn thời kỳ Bắc thuộc hơn một ngàn năm của nước ta kể từ năm (111 BC cho đến năm 938 sau công nguyên) .Mở đầu cho thời kỳ độc lập lâu dài trên lãnh thổ Đại Việt qua các triều đại Ngô,Đinh, Lê,Lý,Trần, hậu Lê (Hậu Lê là thời phân tranh Trịnh Nguyễn) tiếp theo là nhà Nguyễn từ năm 1802 mãi cho đến tháng 8 năm 1945,thuộc vào đời vị vua cuối cùng nhà Nguyễn là Bảo-Đại đã phải thoái vị dưới sự khống chế của Mặt trận Việt Minh Cộng Sản do ông Hồ Chí Minh cầm đầu,đã chấm dứt thời kỳ Quân chủ trên đất nước ta qua nhiều triều đại,như đã được liệt kê bên trên.
Tiền nhân của chúng ta đã hiểu biết mà khẳng định,nếu bị mất nước điều đó không phải là cái nhục của riêng một cá nhân,một dòng tộc nào,mà là cái đau của trăm họ.Với cái hiểu biết sâu sắc ấy,lòng yêu nước lại càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn,con dân Việt lại gắng bó và đoàn kết hơn,quyết đem sức từ mỗi cá nhân chung lại mà chiến đấu bảo vệ tổ quốc,quyết giữ vững nền tự do,nền tự chủ của dân tộc,trong công cuộc chống lại quân đô hộ phương Bắc.Các cuộc kháng chiến đã lại nổi lên nối tiếp nhau, mặc dầu quân ít, bị yếu thế nên đã liên tiếp nhau bị dìm trong biển máu.Tuy nhiên, máu xương của cha ông ta,không uổng phí mà tiếp tục làm dày hơn lên bài học “Yêu Nước”,yêu độc lập,yêu tự do,đã thể hiện qua ý chí chống ngoại xâm một cách kiên cường qua nhiều thế hệ của các ngài.Để rồi năm 938 Ngô Quyền đã lãnh đạo toàn quân dân Việt, đứng lên mà nhấn chìm toàn bộ quân xâm lược phương Bắc tại dòng sông lịch sử Bạch Đằng,chiến công ấy đã chấm dứt vĩnh viển thời kỳ Bắc thuộc đau thương của dân tộc, đưa đất nước vào một kỷ nguyên độc lập,tự chủ,để sánh vai cùng với các quốc gia lân bang,kể cả nước Tàu.
Một ngàn năm, thông thường phải tính được ít ra là 40 thế hệ,hay nói một cách khác,dân tộc Việt được tính là đã có trên 4.000 năm văn hiến (chúng ta sẽ xét đến yếu tố nầy sau),tuy nhiên,với cái thời gian dài dằn dặc đó mà giống người Lạc Việt đã không bị đồng hóa,đó là một kỳ tích,mặc dầu người Tàu đã dùng đủ mọi mánh khóe để chiêu dụ quyết đồng hóa chúng ta..Nhưng chúng ta chỉ cần tính khoảng thời gian bị đô hộ gần nhất là một ngàn năm trở về sau, kể từ năm 111 TCN đến các thế kỷ sau công nguyên mà chúng ta biết. Ông cha chúng ta đã liên tục đứng liên chiến đấu giành độc lập không ngừng nghỉ,hỏi có một dân tộc nào kiên nhẫn chịu đựng mà làm được điều đó không ? Bằng chứng là các giống dân Bách Việt khác ngoài Lạc Việt,đã bị kẻ mạnh đồng hóa tất cả như chúng ta đã thấy.
Hơn cả một ngàn năm va chạm với một giống dân du mục đầy tham vọng xuất phát từ Hoa-Hạ (Cam Túc),được cải danh là Đại Hán.Lòng yêu nước của người Việt lại tăng lên liên tục qua mỗi thời kỳ bởi các thử thách,mà cứ qua mỗi thử thách thì lòng yêu nước của người Việt lại càng bền vững thêm lên,điều đó đã chứng minh được cái sức mạnh ung đúc bởi từ lòng yêu nước, một khi mọi người dân đã am hiểu một cách tường tận về lịch sử của dòng giống mình,nên đã biến niềm tự hào thành những chiến công hiển hách mà tiền nhân đã để lại cho con cháu đời đời,kiếp kiếp về sau, qua bài hịch chống ngoại xâm của Trần Hưng Đạo, cùng với bài học qua chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng là những bài học quý giá nhất.
Sau những lũy tre làng yên ắm,nền văn hóa Việt vẫn được phát triển một cách đều đặn,chuyển tải dòng lịch sử Việt một cách liên tục,tạo được những giá trị ưu việt về lòng yêu nước đã lưu truyền đời đời cho cháu con,tạo cho mỗi người con dân một sự hiểu biết giá trị về lòng yêu nước.Nhất là hiểu rõ nguy cơ của sự bị trị,là vấn nạn của sự nô lệ.Biết giá trị về cái chết một cách đau đớn của một đất nước,đó không phải của một cá nhân,một dòng họ,mà là của cả một dân tộc.Nhờ am hiểu như vậy nên con dân thuộc dòng giống Lạc Việt đã quyết hy sinh trong tinh thần hiến dâng cho công cuộc chung là cứu nước,khi tổ quốc lâm nguy,mọi người nhất tề đoàn kết đứng dậy quyết bảo vệ tố quốc, giữ vững bờ cõi qua nhiều cuộc xâm lăng của đế quốc kẻ mạnh, đã tạo và giữ vững được một dãy giang sơn gấm vóc có hình chữ “S” như ngày nay mà con cháu dân Việt đang thừa hưởng.
Tìm hiểu dấu mốc văn hiến gần năm ngàn năm của dòng Lạc Việt.
Thật sự dòng gióng người Việt chúng ta đã có cái lịch sử 4.000 năm văn hiến đã thật sự đúng hay chưa? Nếu thật sự tính đúng theo sách vở đã ghi,người Việt chúng ta đã có đến gần 5.000 năn văn hiến tính đến ngày hôm nay 2025 vậy.
Làm sao biết và xác định con số nầy. Chỉ trích ghi từ quyển “Việt Nam Sử Lược” của cụ Trần Trọng Kim nơi đoạn mỡ đầu là chương I nói về họ Hồng Bàng,tức truy nguyên nguyên gốc về “Thủy Tổ Người Việt” mà nhà sử học Trần Trọng Kim đã ghi thật rõ thời gian nói về Họ Hồng bàng được tính từ năm 2879 đến năm 258 trước tây lịch,đó là dấu mốc thời gian mà dòng Lạc Việt đã lập quốc,có nghĩa là nói về thời gian mà người Việt chúng ta vào thời cổ đại đã lập quốc và có mặt trong cộng đồng xã hội loài người.
Trang lịch sử nầy tác giả ghi lại thật gọn gàng,gọn gàng đến mức khá đơn giản như sau:
Trích:
*Họ Hồng Bàng: Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh,là cháu ba đời của vua Thần Nông,đi tuần thú phương nam,đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam Trung Quốc bây giờ),gặp một nàng tiên,lấy nhau đẻ ra người con trai,đặt tên là Lộc Tục.Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trai trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam,và xưng là Kinh Dương Vương lấy quốc hiệu là Xích quỉ
Bờ cõi nước Xích Quỉ lúc bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam) phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành),phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên),phía đông giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỉ vào khoảng năm Nhân tuất (2879 trước tây lịch) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm,nối ngôi làm vua,xưng là Lạc Long quân.
Lạc long quân lấy con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ,đẻ ra một bọc trứng,nở ra một trăm người con trai. Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là dòng dõi Long quân,nhà người là dòng dõi thần tiên,ăn ở lâu với nhau không được; nay được trăm đứa con,thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi,còn 50 đứa ta đem xuống biển Nam Hải”.
Gốc tích truyện nầy có lẽ là từ Lạc Long quân về sau,nước Xích Quỉ chia ra những nước gọi là Bách Việt.Bởi vậy ngày nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ nam,tỉnh Quảng Đông, và tỉnh Quảng Tây) còn xưng là đất Bách Việt.Đấy cũng là một điều nói phỏng,chứ không có lấy gì làm đích xác được.
*Nước Văn Lang. Lạc Long quân phong cho người con trai trưởng sang làm vua nước Văn Lang,xưng là Hùng Vương.
Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia làm 15 bộ:
-
Văn Lang (Bạch Hạc,tỉnh Vĩnh yên)
-
Châu Diên ( Sơn Tây)
-
Phúc Lộc (Sơn Tây)
-
Tân Hưng (Hưng Hóa,Tuyên Quang
-
Vũ Định (Thái Nguyên,Cao Bằng)
-
Vũ Ninh ( Bắc Ninh )
-
Lục Hải ( Lạng Sơn )
-
Ninh Hải ( Quảng Yên )
-
Dương Tuyền( Hải Dương)
-
Giao Chỉ ( Hà Nội,Hưng Yên,Nam Định,Ninh Bình )
-
Cửu Chân ( Thanh Hóa )
-
Hoài Hoan ( Nghệ An )
-
Cửu Đức ( Hà Tỉnh )
-
Việt Thường( Quảng Bình,Quảng Trị)
-
Bình Văn (?).
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (Bây giờ ở vào địa hạt Huyện Bạch Hạc tỉnh Vĩnh Yên) đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu,tướng võ là Lạc Tướng.Con trai vua gọi là Quan Lang,con gái vua gọi là Mỵ nương,các quan nhỏ gọi là Bố chánh. Quyền chính trị thì cứ cha truyền con nối.gọi là phụ đạo.
Về đời bấy giờ sử Tàu có chép rằng năm Tân Mão (1100 tr CN) đời vua Thành Vương nhà Chu có nước Việt Thường ở phía nam xứ Giao Chỉ,sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người làm thông ngôn mới hiểu được tiếng,và ông Chu Công Đán lại chế ra xe chỉ nam để đưa sứ Việt Thường về nước..Vậy đất Việt Thường và đất Giao chỉ,có phải là đất Hùng vương lúc bấy giờ không?
Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm Quí Mão (258 BC) thì bị nhà Thục lấy mất nước.
Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ 18 cả thảy 20 ông vua,mà tính từ năm Nhâm Tuất (2879) đến năm quí Mão (258 Tr tây lịch) thì vừa được 2622 năm.Cứ tính hơn bù kém,mỗi ông vua trị vì được 150 năm.Dẫu là người đời thượng cổ nữa,cũng khó lòng mà có nhiều người sống lâu như vậy. Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng Bàng không chắc là chuyện xác thực . (Hết trích)
Con số 4.000 năm văn hiến,đến giờ nầy,coi ra chưa ai có thể giải thích một cách cho hữu lý và chính xác,tuy vậy ta vẫn thấy người dân Việt,rất nặng tình với con số nầy,mặc dầu chưa một người có thể lý giải được cho đúng nghĩa,tuy nhiên trong trí não mỗi người đều có sự nhìn nhận về con số nầy là đúng, đó là thời gian mà lịch sử Việt Nam đã có,nghĩa Là người Việt ta đã có 4.000 năm văn hiến, là con số mà người Việt đã chấp nhận nói lên lịch sử dựng ngước và giữ nước của tổ tiên ta kể cả chúng ta ngày nay.Nếu tính đến ngày nay thuộc vào thời đại của chúng ta,thì cái lịch sử lập quốc của đất nước chúng ta đã tăng lên là 5.000 năm vậy.
Trước đây khi mà khoa học công nghiệp chưa phát triển,con số 4.000 hay 5.000 năm văn hiến theo dòng lịch sử của dân tộc Việt thì rất khó mà giải thích cho trọn nghĩa.Nhưng đến thời đại bây giờ nhờ vào sự tiến bộ khoa học,ngành khảo cổ đã xuất hiện,đã tìm ra nhiều di vật thuộc thời cổ đại,giúp loài người việc xác minh các vật thể thuộc về nên văn minh cổ.Do vậy cũng giúp chúng ta là người Việt xác định được số năm về thời gian mà tổ tiên người Việt đã lập quốc,đã tạo nên nền Văn Hiến cổ xưa đã là có căn cứ.
Chúng ta hãy xét đến một số khía cạnh về nền văn minh tối cổ nầy,để gở rối cái hồ nghi về dòng lịch sử tối cổ của người Việt chúng ta.
Trước tiên chúng ta nên tìm hiểu về định nghĩa cụm từ “Văn Hiến” để làm tỏ về nền “văn hiến” của dòng giống Lạc Việt chúng ta.
Trước hết phải làm rõ nghĩa hai từ “Văn hiến” nó có nghĩa là gì?
Mở đầu bài “ Bình Ngô Đại Cáo” ông Nguyễn Trải (1380-1442) đã viết:
Như ngã Đại Việt chi quốc.
Thực duy Văn Hiến chi bang
Sơn xuyên chi phong vực ký thù
Nam Bắc chi phong tục dịch dị.
Được ông Bùi Kỷ dịch ra quốc văn như sau:
*Như nước Việt ta từ trước
Vốn xưng VĂN HIẾN đã lâu
Sơn hà cương vực đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
*Như vậy chữ “Văn Hiến” vốn có từ ngàn xưa trong ngôn ngữ của các dân tộc Á Đông,nhưng ngoài dân tộc Việt nam ta,dường như chưa có một dân tộc nào đề xướng nó như một thứ “Hiến Chương Lập Quốc”. Thật vậy người Việt Nam vốn tự tin ở nền văn hiến lâu đời của dân tộc mình.Niềm tự tin ấy đã biến “Bốn ngàn năm văn hiến” thành tiếng reo vui rạng rỡ nhất, trong sáng nhất và vinh quang nhất của cả một dân tộc.
Vậy “Văn hiến” có nghĩa gì?
Theo nghĩa cổ,một nước văn hiến (Văn hiến chi bang) là một quốc gia có pháp chế,kỷ cương,có thuần phong mỹ tục (Văn) và có những người hiền đức (hiến) chữ Văn-Hiến như vậy bao gồm cả người và nếp sống con người.Nếp sống văn hiến vốn là nếp sống văn minh; nhưng xét kỹ mới thấy nếp văn minh ấy đã được thể hiện cả ở ngoài con người (Pháp chế,kỷ cương,thuần phong mỹ tục…) lẫn ở trong con người (người hiền đức).Nói khác đi,văn hiến bao gồm cả nền văn minh ứng dụng (ngoài con người) lẫn nền văn minh đạo học (trong con người) Thuật ứng dụng thuộc về kỹ thuật,thì ngày một tiến bộ và phát triển nhưng “đạo” thì từ cổ chí kim vốn không khác,cho nên nền văn minh văn hiến không phải chỉ được biểu trưng bằng sự tiến bộ của kỷ thuật,nó còn có những giá trị không bao giờ biến đổi.Hiểu theo nghĩa ấy thì “văn hiến” chính là một nền văn minh tổng hợp và trọn vẹn của loài người xưa cũng như nay,nghĩa là trong mọi thời đại.Trong thời buổi suy vi điên đảo,người ta thường chỉ nhận thức nếp sống văn minh là một nếp sống tiến bộ,vô tình đã lãng quên những giá trị bất biến của cuộc sống
Nhân nói tới hai chữ “Văn Hiến” chúng ta hãy lắng tâm để hòa mình với những âm hưởng xa xưa của nền văn hiến vẻ vang ấy… Huyền sử thuật rằng,khoảng trên dưới năm ngàn năm xưa,vua Đế Minh là cháu ba đời vua Thần nông,nhân đi tuần thú phương Nam,đến núi Ngũ Lĩnh gặp bà Vụ Tiên,hai người kết duyên rồi sinh ra Lộc Tục.Lộc Tục sau làm vua phương Nam tức là về phía nam sông Dương Tử,lấy sông Kinh và sống Dương làm ranh giới với phương Bắc;nhân đó xưng hiệu là Kinh Dương Vương,đặt tên nước là Xích Quỷ (là tên một vì sao trong thập nhị bát tú,đóng ở phương Nam,thuộc hành hỏa, màu đỏ)Vua Kinh Dương Vương kết duyên cùng bà Long Nữ ở Động Đình Hồ,sinh ra Sùng Lãm tức là Đức Lạc Long Quân,ông tổ của Bách Việt.
Lạc Long Quân là con bà Rồng (Bà Long Nữ ở Động Đình Hồ) và là cháu bà Tiên ( bà Vụ Tiên ở núi Ngũ Lĩnh) Thời xưa theo mẫu hệ nên con cháu vua Lạc Long Quân tự nhận mình là con Rồng cháu Tiên để dễ ghi nhớ nguồn gốc.
Lạc Long Quân sáng lập ra Bách Việt ( tức là trăm Việt) Trăm Việt phải liên miên đương đầu với các thế lực du mục võ trị từ phương Bắc tràng xuống xâm lăng,gây cảnh cá lớn nuốt cá bé.Dòng Lạc Việt lập nước ở phương Nam,là phương hướng tác hành của Hỏa đức,lấy họ là Hồng Bàng,đổi mẫu hệ thành phụ hệ (gọi là phụ đạo) để lấy sức nam nhi chống giặc ngoại xâm;nhưng dựng nền văn hiến để giữ gìn đạo Nhân,khởi xướng văn trị.Các vị Lạc Vương dòng Lạc Việt đều xưng vương hiệu là Hùng Vương,truy hiệu Tổ Kinh Dương Vương là Hùng Dương,Tổ Lạc long Quân là Hùng Hiền.Người Việt thờ cúng tổ tiên,tôn xưng mười tám vị thánh vương đời Hùng là tộc tổ và Quốc tổ,lại nhận mình là con hồng cháu Lạc (tức là con họ Hồng Bàng,cháu nội họ Lạc Long. (hết trích).
( Trích một số đoạn trên từ tác giả Vũ thanh Thư, bài viết đề ngày Rằm tháng Bảy năm Giáp Tý ( Tháng 9 năm 1985) là Việt Lịch văn Hiến năm thứ 4864).
Với các đoạn văn đã được trích dẫn bên trên,chúng ta đã khai mỡ thật rõ nghĩa hai từ “Văn Hiến” thuộc dòng lịch sử 5.000 năm văn hiến của dòng Lạc Việt,hay nói một cách khác là dòng lịch sử đã trải qua trong công cuộc dựng nước và giữ nước của ông cha chúng ta từ thời cổ đại cho đến bây giờ đã có đến 5.000 năm.Để làm rõ con số 5.000 năm nầy,chúng ta phải dựa vào sự khai quật các di cảo thuộc vào thời cổ đại mà các nhà khảo cổ đã tìm thấy,để xác định con số thời gian đã được tính,để làm bạch hóa sự hồ nghi mà trước đây mọi người trong chúng ta,kể cả các nhà sử học vẫn cho là con số thuộc về truyền thuyết.
Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu một chút về cuộc chiến tranh đã xảy ra giữa khối người dùng võ trị du mục phương Bắc của Hoàng Đế đánh với nhóm người của Viêm Đế sống bằng nghề trồng lúc nước đang sống tại lưu vực Hoàng Hà. Do nhóm người du mục từ phương Bắc luôn dùng vũ lực để lấn chiếm lãnh thổ với khối người Tam Miêu tức khối người Bách Việt trồng lúa nước của Viêm Đế, khối người nầy trước tiên đang cư trú tại lưu vực Hoàng Hà. Do bị giống người Hoa hạ của Hoàng Đế đánh bại,sau nầy phải thiên di về khu vực Quý Châu tỉnh Hồ Nam và tây nam bộ tỉnh Hồ Bắc bây giờ.
Như vậy vào khoảng thời gian thuộc về thời cổ đại ấy, đã có một cuộc chiến tranh giữa hai khối người phương Bắc (Hoa Hạ) và phương Nam là Tam Miêu (Xi Vưu),đã xảy ra tại Trác Lộc vào năm 2879 tr Công Nguyên. Con số năm đã xảy ra trận chiến giữa hai khối người Bắc - Nam thuộc thời cổ đại, cũng đã góp phần làm sáng tỏ để xác minh con số thuộc nền Văn Hiến năm ngàn năm của dân tộc Việt vậy,bởi dân tộc Việt (Lạc Việt) cũng là một bộ phận trong toàn bộ giống Bách Việt lúc bấy giờ thuộc giống Tam Miêu phương Nam. (theo Hậu Hán Thư- Tây Khương truyện thì Xi Vưu là tổ tiên của người Hmong tức một bộ phận trong Bách Việt do vua Lạc Long Quân trị vì ).
Khẳng định về con số 5.000 năm văn hiến. (Trích bài viết của nhà sử học Hà văn Thùy).
[…] Ở thế kỷ trước ,nước Xích Quỷ,tổ Kinh Dương Vương ….chỉ là ảo ảnh xa vời trong huyền thoại mà người Việt thường tơ tưởng,là như kẻ mơ ước hái sao trên trời. Nhưng sang thế kỷ nầy,khoa học đã mở rộng đường cho ta tìm lại cội nguồn. Nhờ đọc được cuốn thiên thư DNA trong máu huyết của người Việt cũng như người Châu Á. Ta biết rằng khoảng 40.000 năm trước,người Lạc Việt từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa Lục, Khảo cổ học cho thấy tổ tiên ta sáng tạo những nền văn hóa nông nghiệp kỳ vĩ ờ phương Đông. Trong đó nổi bật lên là văn hóa Lương Chử,huyện Dư,thành phố Hàng Châu,tỉnh Chiết Giang,văn hóa Lương chử là nền văn hóa khảo cổ Hậu Kỳ Đá Mới,tồn tại từ 3.300 năm tới 2.200 năm TCN.Văn hóa Lương Chử phân bổ chủ yếu ở Thái Hồ,thuộc lưu vực sông Dương Tử,nơi người Việt cổ định cư, bao gồm huyện Dư Hàng,Nam Gia Hưng,Đông Thượng Hải,Tô Châu,Thường Châu,Nam Kinh. Di chỉ còn được mở rộng ra phía tây đến An Huy,Giang Tây.Phía bắc tới bắc Giang Tô,loan tỏa tới gần Sơn Đông.Văn hóa Lương chử còn ảnh hưởng tới phía nam Sơn Tây.Vào thời điểm đó,sức mạnh của Lương Chử chiếm một nửa Hoa Lục,nếu trình độ và văn hóa không cao,thì không thể thực hiện được.Thành phố cở Lương Chử có diện tích hơn 2.900.000 m2,có bức thành theo hướng đông-tây dài 1500 – 1.700m,chiều Bắc Nam khoảng 1.800 – 1.900 mét,hình chữ nhật hơi tròn. Một số phần của bức thành còn lại cao 4 mét,40 mét bề mặt,đáy là 60 mét. Đây có thể được gọi là “Thành phố Phương Đông đầu tiên”,là “bình minh của nền văn minh” phương Đông,là thánh địa của văn minh phương Đông,được xếp vào “Danh sách di sản thế giới”.
Nghiên cứu khảo cổ học cho ta thấy ở văn hóa Lương Chử,nông nghiệp đã bắt đầu tiến vào thời kỳ cày đất,thủ công mỹ nghệ trở nên chuyên nghiệp hơn,công nghệ chế tác ngọc đặc biệt phát triển.Việc xuất hiện lượng lớn ngọc bích thờ cúng đã mở ra khúc dạo đầu nghi thức xã hội. Sự phân biệt giữa lăng mộ lớn của quý tộc và mộ dân thường cho thấy sự gia tăng của phân tầng xã hội. Có thể nói,gia tộc và Bộ tộc đã nổi lên với các nhà lãnh đạo chính quyền tập trung. Một số lượng lớn sức lao động được tổ chức,hình thành một cấu trúc xã hội quy mô lớn. Từ vị trí,sự bố trí và đặc điểm cấu trúc của thành cổ,các chuyên gia tin rằng có những cung điện, nhà vua và giới quý tộc sống, chính là kinh đô của nhà nước Lương Chử cổ đại.
Như vậy vương quốc Lương Chử là có thực. Trên lãnh thổ của vương quốc,tồn tại dai dẳng duy nhất nhà nước Xích Quỷ huyền thoại. Với nhiều yếu tố trùng hợp giữa thực địa và truyền thuyết,ta có đủ cơ sở để cho rằng,Lương Chử là kinh đô của Xích Quỷ.
Ta hãy xét những tiêu chí sau:
- Về thời điểm.
Khảo cổ học xác định văn hóa Lương Chử xuất hiện từ 3.320 – 3.080 năm TCN.Điều nầy cho thấy sự trùng hợp phải nói là kỳ diệu giữa truyền thuyết và tài liệu khảo cổ . Chu dịch ghi “Bào Hy thị một,Thần nông thị xuất”.Như vậy, Thần Nông không phải là vị vua đầu tiên ở Nam Dương Tử. Nhà nước Thần Nông hình Thành trên cương vực của nhà nước Bào Hy và từ đó phát triển lên,. Việc truyền thuyết ghi Kinh Dương Vương lên ngôi,lập nhà nước Xích Quỷ năm 2879 TCN- hơn 400 năm sau khi nhà nước Lương Chử hình thành- cho thấy,Xích Quỷ ra đời đúng vào thời kỳ sung mãn của Lương Chử.
- Về Cương vực:
Khảo cổ học cho thấy lãnh thổ nhà nước Lương Chử chiếm trọn vẹn lưu vực sông Duong Tử. Phí tây bắc vươn tới Sơn Tây,phía Đông Bắc chạm tới vùng Sơn Đông,có bộ phận vượt sông Dương Tử lên bờ Bắc.Trong khi đó tuyền thuyết nói nước Xích Quỷ;bắc tới Hồ Động Đình,đông tới Biển Đông, tây giáp Ba Thục,nam tới nước Hồ Tôn. Như vậy ranh giới của Xích Quỷ gần như trùng với ranh giớ của nhà nước Lương Chử. Cố nhiên,ta biết,ranh giới quốc gia theo truyền thuyết và ranh giới quốc gia theo khảo cổ chỉ Là tương đối,bởi lẻ thường có sự chồng lấn văn hóa nên ranh giới văn hóa thường không phải là ranh giới quốc gia. Dù có như vậy thì ta cũng thấy một thực tế là về đại thể,ranh giới của nhà nước Lương Chử trong khảo cổ học gần khớp với ranh giới của Xích Quỷ truyền thuyết.
- Kinh Đô:
Trong khi khảo cổ học phát hiện kinh đô Lương Chử thì ở truyền thuyết nước Xích Quỷ hầu như không nói tới Thái Hồ mà chỉ nhắc tới Hồ Động Đình là nơi mà Kinh Dương Vương đi chơi thuyền rồi gặp Long Nữ con gái Động đình Quân.Cũng ở đây còn có sông Tương với cánh đồng Tương.là nơi các người con của Lạc Long Quân gặp lại nhau. Những câu hát ru dân gian nhắc tới trăng Tiền Đường. Sông Tiền Đường là dòng sông lớn nhất của tỉnh Chiết Giang,bắt nguồn từ ranh giới giữa hai tỉnh An Huy và Giang Tây,chảy theo hướng Tây Nam- Đông Bắc. Qua Hàng Châu,thủ phủ tỉnh Chiết Giang,đổ ra vịnh Hàng Châu. Những điều trên phải chăng là chút ánh sáng từ ngôi sao đã tắt gửi tới chúng ta dấu vết hiếm hoi của tổ tiên từng sống bên sông Tiền Đường?
- Người Lương Chử là ai ?
Trước vật chứng ADN,chính xác học giả Trung Quốc thừa nhận,chủ nhân nền văn hóa Lương Chử là người Lạc Việt! Người Lạc Việt thì rõ rồi nhưng cụ thể Là ai ? Từ những hình thao thiết “thần nhân thú diện” khắc trên ngọc thờ,các học giả Trung Quốc xác nhận: Người Lương Chử là “Vũ Nhân” hay “Vũ dân” (…) thờ vật tổ chim và thú. Đấy là một phát hiện. Các tộc người thời cổ đều thờ vật tổ. Vật tổ của người Nga là con gấu, của người Pháp là con gà trống. Còn người Mông Cổ du mục thờ con sói trắng. Vật tổ của người Hoa Hạ là con rồng. Nhìn chung với loài người , vật tổ chỉ đơn nguyên,hoặc Là chim hoặc là thú. Riêng có người Lạc Việt nhận vật tổ kép chim Và thú,được hình tượng hóa là Tiên-Rồng. Ta nhận ra ở đây mối liên hệ sâu thẳm từ trong quá khứ. Đó là hai vạch song song được khắc trên những hòn đá mài ở văn hóa Bắc Sơn,mà khảo cổ học gọi là “dấu Bắc Sơn”.Nhiều học giả giải thích đó là biểu hiệu của quan niệm “song trùng lưỡng hợp” (Hai trong một-dual unit) của người Việt. Quan niệm nầy được phản ứng trong truyền thuyết Hồng Bàng thị. Thời đó do trong tiếng Việt phụ âm chưa phân biệt và thanh điệu chưa xác định nên có thể có những dạng :Krong->hồng->sông->long ->rồng. Vậy Hồng có nghĩa là Rồng. Nhưng chữ Hồng (..)trong Hồng Bàng,Hồng là chim,là biểu trưng của Tiên. Tương tự,chữ Mang (..) có thể là ký âm của mạng,mãng,vàng. Ta quen gọi rắn là mãng xà nhưng với người xưa thì mãng và xà cùng là rắn. Hãy nhớ tích Lưu Bang chém rắn trắng khởi nghiệp để rồi cuối cùng bị con rắn Vương Mãng diệt. Mang cũng là rắn. Rắn cũng là rồng. Trong việc chọn chữ vuông để ký âm tiếng Việt cổ Hồng Bàng sau nầy,người đầu tiên đã dùng chữ Mang (..) với nghĩa mãng. Nếu liên hệ tới những biến dạng khác của chữ Bàng,ý nghĩa rồng,rắn của từ Mang càng rõ hơn. Do vậy, Hồng Bàng là chim và rắn của từ Mang càng rõ hơn. Do vậy,Hồng Bàng là chim và rắn tức là Tiên Rồng. Có thể chữ Hồng Bàng được khắc trên gốm hay giáp cốt ngay từ thời Kinh Dương Vương tại kinh đô Lương Chử. Có` điều đã bị thất lạc nên người sau không tìm được. Từ những liên hệ trên,ta có thể nhận định: Chủ nhân của văn hóa Lương Chử là thị tộc Hồng-Bàng.
Với bốn tiêu chí: Thời điểm,cương vực,kinh đô và dân cư như phân tích trên, ta thấy, có sự tương đồng rõ ràng giữa nhà nước Lương Chử được khảo cổ học phát hiện và nhà nước Xích Quỷ trong truyền thuyết của người Việt Nam. Giữa những vật chứng câm lặng nằm sâu trong lòng đất hàng nghìn năm, và những câu chuyện truyền miệng mong manh suốt 5.000 năm trong dân gian mà có được sự gần gũi,tương đồng như vậy quả là lý tưởng. Điều nầy khiến ta có thể mạnh dạng khẳng định:
Nhà nước Lương Chử được khảo cổ học phát hiện chính là nhà nước Xích Quỷ trong truyền thuyết.Việt Nam là hậu duệ của nhà nước Xích Quỷ nên có 5.000 năm văn hiến.
Việc phát hiện thành phố cổ Lương Chử khiến cho một số người nghĩ rằng: thử thế các triều đại của Trung Quốc nên được viết lại. Hiện nay các triều đại Hạ,Thương,Châu được coi là sớm nhất,nhưng vai trò nầy cần được trả lại cho Lương Chử!. Sau 80 khai quật và khảo cứu văn hóa Lương Chử,giới học giả Trung Quốc thừa nhận: “Văn hóa Lương chử là cội nguồn của văn mính Trung Quốc”.
Trong cuốn sách nổi tiếng Nhiệt Đới buồn, Claude-Le’vi-Strauss cho rằng “Con người chỉ thực sự sáng tạo những công trình vĩ đại vào buổi đầu. Trong bất cứ lĩnh vực nào,chỉ có bước đầu hoàn toàn có giá trị,những giai đoạn kế tiếp chỉ là sự lặp lại những giai đoạn đã qua” “Một trong những giai đoạn nhiều sáng tạo nhất của lịch sử nhân loại xảy ra vào thời đại đá mới,với sự phát minh ra trồng trọt,chăn nuôi…. Muốn đạt đến những thành quả vĩ đại nầy,không phải trong chốc lát là được,mà trái lại,những tập thể loài người bé nhỏ lúc bấy giờ,đã phải trải qua hàng mấy nghìn năm quan sát,thí nghiệm và truyền đạt kinh nghiệm từ đời nầy sang đời khác. Sự nghiệp vĩ đại nầy đã diễn ra một cách tốt đẹp,liên tục và thành công.. “ Tristes tropiques, Paris Plon, 1955,tr 69 ). Đúng như nhận định của tác giả Nhiệt Đới buồn,Văn hóa Lương Chử là đỉnh cao nhất của văn hóa Phương Đông,tích tụ những thành quả của 70.000 năm phấn đấu sáng tạo của người Lạc Việt.
Điều nầy cũng nói lên rằng Xích Quỷ là một nước văn hiến theo cái nghĩa ban đầu của Khổng Tử.Kế thừa từ Xích Quỷ- Lương Chử nên Việt Nam có 5.000 năm văn hiến.
Sài-gòn,tháng 8 năm 2018.
(Trích đoạn cuối trong bài “Việt Nam có mấy ngàn năm văn hiến” của tác giả Hà văn Thùy để giúp người đọc hiểu và làm sáng tỏ về tiểu mục nầy).
PHẦN ĐỌC THÊM ĐỂ BỔ TÚC KIẾN THỨC
PHƯƠNG – PHÁP ĐÀO TẠO NHÂN TÀI ĐỂ GIÚP ÍCH XÃ – HỘI
NỀN GIÁO DỤC Ở MIỀN NAM VIỆT NAM 1954 – 1875 ( trích từ Nguyễn Thanh Liêm)
Học Thế Nào xin trích một phần tài liệu của GSTS Nguyễn Thanh Liêm về giáo dục ở miền nam sau 1954. (GSTS Nguyễn Thanh Liêm nguyên là Hiệu trưởng Petrus Ký – Sài Gòn, Chánh Thanh Tra trưởng ban soạn đề thi của Bộ Giáo Dục trong những năm 1965-67, Thứ Trưởng Bô Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên, Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975).
Trước khi bị Pháp đô hộ, nền giáo dục ở Việt Nam là nền giáo dục cũ của Nho gia, gọi nôm na là “cái học của nhà Nho” như nhiều người thường nói. Nền giáo dục cũ này chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Hoa, từ chương trình, sách vở, lối học đến cách thức thi cử. Tổ chức giáo dục xưa được Đào Duy Anh ghi lại như sau trong quyển Việt Nam Văn Hóa Sử Cương:
“Ở mỗi huyện có quan Huấn đạo, mỗi phủ có quan Giáo thụ, dạy Tứ Thư Ngũ Kinh cho học trò khá. Ở mỗi tỉnh có quan Đốc học dạy các sinh đồ cao đẳng. Ở Kinh đô có trường Quốc tử giám. Các vị học quan kể trên đều ở dưới quyền giám đốc của bộ Lễ hoặc bộ Học. Trong dân gian thì xưa nay việc học vẫn hoàn toàn tự do. Thầy học thì có thầy khóa, thầy đồ, thầy tú dạy trẻ con, cho đến bậc đại khoa không xuất chính, hay các quan trí sĩ, có người dạy đến trăm nghìn học trò.”
Trường học thì phần lớn là nhà riêng của ông thầy, hoặc ở chùa hay ở đình, miểu trong làng. Giáo dục có thể xem như là công việc của nhà nho hơn là của quốc gia, không thuộc một cơ quan công quyền với sự tài trợ và kiểm soát đôn đốc của chính phủ. Không có một hệ thống tổ chức qui mô của một nền giáo dục quốc gia gồm đủ cơ sở và nhân viên giảng huấn và điều hành từ trung ương đến địa phương, từ cấp thấp (như tiểu học) lên cấp cao (như đại học). Chương trình học thì gồm có mấy quyển Tam Tự Kinh, Sơ Học Vấn Tân, Ấu Học Ngũ Ngôn Thi, Dương Tiết và Minh Tâm Bửu Giám ở cấp vở lòng, xong rồi lên trên thì học Bắc sử (tức sử Tàu) và Tứ Thư Ngũ Kinh.
Tất cả những sách này là sách gối đầu giường của Nho gia, chú trọng hầu hết vào triết lý, luân lý, đạo đức chứ không có một ý niệm khoa học kỹ thuật nào chen vào. Phương pháp giảng dạy thì phần lớn như Đào Duy Anh tả: “thầy thì cứ nhắm mắt mà giảng chữ nào nghĩa nấy chỉ sợ sai mất nghĩa của Tống Nho.” Phương pháp học hỏi thì hoàn toàn dựa vào sự học thuộc lòng thu gọn vào trong công thức “sôi kinh nấu sử” tức là học tới học lui mãi cho đến khi nào thuộc nằm lòng Tứ Thư Ngũ Kinh và Bắc sử. Người đi học thực tập nhiều nhất là viết chữ cho thật đẹp như “phụng múa rồng bay”, làm thơ, làm phú, kinh nghĩa, văn sách, chế chiếu, biểu, câu đối, cho thật nhanh, thật khéo và thật chỉnh, dùng được càng nhiều điển tích càng hay để có thể đậu được các kỳ thi do triều đình tổ chức. (Có ba kỳ thi: thi Hương tổ chức ở một số địa phương để lấy Tú Tài; thi Hội và thi Đình tổ chúc ở trung ương để lấy Cử Nhân và Tiến Sĩ). Tất cả các kỳ thi đều là thi tuyển và chỉ nhắm vào một kỷ năng của thí sinh là làm văn làm thơ dưới nhiều dạng như thơ đường luật, kinh nghĩa, văn sách, v v … Thường thì ba năm mới có một khoa thi, và đi thi là cả một vấn đề khổ nhọc cho sĩ tử vì trường thi ở xa, đường giao thông khó khăn, phương tiện giao thông còn rất thiếu kém. Thi đậu được thì có thể ra làm quan, không thì lui về làm thầy đồ thầy khóa, “tiến vi quan, thối vi sư” vậy.
[…]
Giới sĩ phu là giới sát cạnh nhà vua, giúp vua trị nước, thuộc hàng ngũ lãnh đạo quốc gia, là bậc thầy trong xã hội, đóng vai dẫn đầu, điều khiển, hướng dẫn dân chúng trong mọi sinh hoạt bảo vệ và phát triển đất nước. Nước giàu dân mạnh hay suy nhược đói nghèo, trách nhiệm ở giới lãnh đạo, ở Kẻ Sĩ, nhà Nho. Lớp trí thức nho sĩ cũng như cái học cũ của nho gia ngự trị trong xã hội Việt Nam từ thời Lý Trần cho đến khi có sự xăm chiếm và đô hộ của người Pháp hồi cuối thế kỷ XIX trong Nam và đầu thế kỷ XX ở miền Bắc và Miền Trung. Riêng trong Nam thì vì Nam Kỳ Lục Tỉnh chỉ mới được thành hình trọn vẹn từ giữa thế kỷ XVIII cho nên sự giáo dục ở đây chưa được tổ chức rộng rãi, chưa có cội rễ ăn sâu vào lòng đất như ở chốn ngàn năm văn vật của Thăng Long – Hà Nội . Tính ra thì Nho học chỉ có được chừng một thế kỷ ngự trị ở Phương Nam. Mãi đến năm 1826 Miền Nam mới có vị Tiến Sĩ đầu tiên theo lối học xưa là cụ Phan Thanh Giản. Nhưng nền học vấn cổ truyền của nho gia này ở Miền Nam chỉ mới có chừng trăm năm thì bị sụp đỗ hẵn bởi sự thất bại, suy vong của triều Nguyễn trước sức mạnh quân sự và nền văn minh khoa học kỹ thuật Âu Tây. Khi nền cai trị của chính quyền đô hộ Pháp được thiết lập xong thì cái học nhà nho cũng bị xóa bỏ để nhường chỗ cho cái học mới hay Tây Học.
[…]
Cái học mới này (tân học) diễn ra ở Miền Nam trước nhất vào cuối thế kỷ XIX sau khi người Pháp đặt xong nền đô hộ ở đây. Nền giáo dục mới này lấy giáo dục Pháp làm khuôn mẫu, dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Trường học gồm có các trường công do chính phủ xây cất, đài thọ chi phí và kiểm soát, và một số trường tư của Thiên Chúa giáo hoặc của tư nhân. Hệ thống giáo dục mới này được thiết lập nhằm hai mục tiêu: (1) mục tiêu thực tiễn là đào tạo một số người biết tiếng Pháp, chữ Quốc Ngữ, và có chút kiến thức về văn minh Tây phương để làm công chức ở ngạch trật thấp phục vụ cho chính phủ thuộc địa, và (2) mục tiêu lý tưởng là đồng hóa người bản xứ biến họ thành những người Pháp về phương diện văn hóa. Một số nhà trí thức Pháp tự cho họ cái sứ mạng cao cả là đem văn minh khoa học Âu Tây phổ biến khắp nơi. Đó là sứ mạng văn minh hóa (“mission civilisatrice”) tức là đi khai hóa các nước chậm tiến, kém văn minh, kém mở mang.
Người đầu tiên thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa (cultural assimilation) đó ở Miền Nam là Thống Đốc Le Myre de Vilers. Ông là người dân sự đầu tiên được cử sang làm Thống Đốc Nam Kỳ từ năm 1879 đến 1892. Các ông thống đốc trước ông đều là những người bên quân đội, nhất là bên hải quân. Để thực hiện sứ mạng văn minh hóa dân bản xứ, ông cho mở rất nhiều trường ở mỗi làng và mỗi tổng cho cấp sơ và tiểu học. Tuy nhiên vì thiếu hụt ngân sách và không đủ giáo chức cho nên nhiều trường chỉ được mở ra rồi liền sau đó lại đóng cửa thôi. Sang đầu thế kỷ XX chế độ giáo dục mới mới được thiết lập ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ sau một vài sửa đổi theo quyết định của Toàn Quyền Paul Beau hồi 1906-07. Theo quyết định này thì một hội đồng cải tổ giáo dục được thành lập để đem chữ Quốc Ngữ, chữ Pháp và nền tân học vào chương trình học và chế độ khoa cử mới. Các thầy đồ, thầy khóa ở xã thôn, các quan giáo huấn, đốc học ở phủ, huyện, tỉnh, phải dạy thêm chữ Quốc Ngữ cho học trò ngoài việc dạy chữ Hán như trước. Các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình đều có có chút đổi mới từ 1909. Bài luận chữ Quốc Ngữ và bài dịch Pháp văn ra Việt văn được thêm vào các kỳ thi nhưng chỉ là môn phụ và có tính cách tự nguyện chớ không bắt buộc.
Trong kỳ thi Hội và thi Đình năm 1910 có thêm bài thi cách trí, địa dư nước nhà, sử Thái Tây, nhân vật nước nhà và thời sự. Đặc biệt là bài thi được chấm điểm theo lối mới của Pháp với thang điểm từ 0 đến 20. Triều đình dựa trên thang điểm đó mà định làm 6 hạng trúng tuyển: Trạng Nguyên (20 điểm), Bảng Nhỡn (18-19 điểm), Thám Hoa (16-17 điểm), đệ nhị giáp Tiến Sĩ (từ 12 đến 15 điểm), Đồng Tiến Sĩ (từ 10 đến 12 điểm), và Phó Bảng (từ 7 đến 9 điểm). Song song với việc thành lập hội đồng cải cách giáo dục, một trường sư phạm cũng sẽ được thiết lập để đào tạo giáo viên tiểu học người Việt. Ngoài ra, trong mục đích tuyên truyền, Toàn Quyền Paul Beau cũng cho mở một trường đại học hồi năm 1907 ở Hà Nội để thu phục nhân tâm (sau khi chính quyền cho đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục và bắt giam một số nhà cách mạng). Nhưng đại học chỉ được mở ra mà không hoạt động, phải đến năm 1918, dưới thời Toàn Quyền Albert Sarraut, trường mới thật sự mở cửa. Trước đó một năm, năm 1917, chánh quyền thuộc địa đã cho ban hành một hệ thống giáo dục mới có qui cũ, thống nhất trên toàn quốc, về tất cả các phương diện tổ chức hành chánh, chương trình học, qui chế giáo chưc, và tổ chức thi cử. Đến đây cái học cũ trên toàn quốc hoàn toàn lui vào bóng tối nhường chổ cho giáo dục mới.
Người sốt sắng thực hiện mục tiêu văn minh hóa người Việt Nam là Le Myre de Vilers. Để thực hiện sứ mạng văn minh hóa người Việt ông cho mở rất nhiều trường học, từ trường sơ cấp ở làng đến trường tiểu học ở quận và tỉnh, và đặc biệt nhất là một trường trung học (collège) ở Nam Kỳ. Đây là trường trung học đầu tiên và vào cuối thế kỷ XIX đây là trường trung học duy nhất cho cả Miền Nam. Trường chỉ có hai năm học và mang tên là Collège de MỹTho. Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1885-1958) đã từng học ở trường này. Sang thế kỷ XX trường có đủ bốn năm học và được đổi tên là Collège Le Myre de Vilers, do một số giáo sư của trường đề nghị để ghi nhớ ông Thống Đốc dân sự đầu tiên đã mở ra trường này và cũng để ghi nhớ công lao của ông đối với việc phát triển nền giáo dục mới ở Nam Kỳ. Đến giữa thập niên 1950 trường được phát triển thêm, có các lớp đệ nhị cấp đủ để trở thành trường trung học đệ nhị cấp. Trường được đổi thành Lycée và mang tên một danh nhân Miền Nam Việt Nam: cụ Đồ Chiểu. Danh xưng Lycée Nguyễn Đình Chiểu rồi Trung Học Nguyễn Đình Chiểu ra đời từ đó và còn mãi đến bây giờ.
[…]
Giáo dục, hiểu theo nghĩa xã hội, là cách thức xã hội hóa (socializing) con người. Giáo dục có nhiệm vụ dạy cho con người biết cách sống trong xã hội, biết nền văn hóa mà con người được sinh ra trong đó để sống cho thích hợp. Cách ăn uống, lễ phép, cách đối xử, các nghề nghiệp sinh sống, phong tục tập quán, v v … tất cả đều có trong xã hội đương thời và nhiệm vụ của giáo dục (từ giáo dục trong gia đình đến giáo dục ngoài xã hội) là tập luyện cho con người thích nghi vào trong xã hội văn hóa đó. Tuy nhiên trong ba bậc học (tiểu học, trung học, và đại học) ở học đường, mỗi bậc có cách xã hội hóa khác nhau. Ở tiểu học giáo dục nhằm xã hội hóa con người ở mức độ cơ bản, nghĩa là người ta chỉ dạy những cái cần thiết căn bản của xã hội. Ở bậc trung học sự xã hội hóa nhắm vào việc thích nghi con người vào tình trạng văn hóa mà người ta muốn có. Thường khi người ta (các nhà làm chính trị, những nhà lãnh đạo) muốn có xã hội thế nào thì người ta nhắm vào lớp người vào trung học để đào luyện họ trỡ thành những công dân kiểu mẫu cho xã hội người ta muốn có. Những người này sẽ được xã hội hóa để bảo tồn những gì đã có. Ở bậc đại học sự xã hội hóa bớt đi rất nhiều tính cách uốn nắn mà thường có tính cách khơi động nhiều hơn. Người lên đại học phải mở rộng sự hiểu biết của mình để đón nhận những mới lạ để có thể hướng xã hội đến những sửa đổi, tiến triển, hiện đại nhiều hơn là bảo tồn những gì đã có sẵn từ trước. Các trường trung học của chúng ta cũng đóng vai trò xã hội hóa học sinh giống như bao nhiêu trường trung học khác trên thế giới. Việc xã hội hóa ở đây là thích nghi con người vào trong xã hội Miền Nam nước Việt vào giữa thế kỷ XX.
Vào cuối thế kỷ XIX Nam Kỳ có khoảng một triệu rưởi dân số, nhưng chỉ có khoảng 5 ngàn học sinh cho tất cả từ sơ cấp đến tiểu học. Tỷ lệ người đi học tuy thấp so với sĩ số mà ta có sau này dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nhưng so với thời đại các nhà Nho thì đây là con số khá lớn. Số đông này là số được hấp thụ giáo dục mới. Họ sẽ là lớp người dùng chữ Quốc Ngữ thay chữ Nôm và chữ Hán, họ cũng là những người biết chút ít tiếng Pháp và một số kiến thức khoa học phổ thông có thể xem như là giới trí thức tân học ở thời kỳ chuyển tiếp này. Đó là tình trạng giáo dục ở Miền Nam. Và đến năm 1917 chính quyền thuộc địa mới có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc.
Hệ thống giáo dục mới này – gọi là Giáo Dục thời Pháp thuộc – gồm có ba bậc: Tiểu học, Trung học, và Đại học. Bậc Tiểu học được chia làm hai cấp:
(1) cấp Sơ học gồm các lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin) hay lớp Năm hoặc lớp Chót, lớp Dự Bị (Cours Preparatoire) hay lớp Tư, và lớp Sơ Đẳng (Cours Elementaire) hay lớp Ba,
(2) cấp Tiểu học gồm có lớp Nhì Một Năm (Cours Moyen Première Année), lớp Nhì Hai Năm (Cours Moyen Deusième Année) và Lớp Nhất (Cours Supérieur). Mỗi làng có một trường sơ cấp. Ở tổng lớn hay ở quận (đông dân) có thể có trường tiểu học nếu có đông học sinh.
Tại mỗi tỉnh lỵ có một trường tiểu học lớn (có nhiều lớp cho mỗi cấp lớp), như trường Nam Tiểu học Mỹ Tho chẳng hạn có được 5 lớp Nhất, 1 lớp Tiếp Liên (Cours des Certifiés) hồi thập niên 1940. Học xong lớp Ba, tức là hết Sơ cấp, học sinh phải thi tuyển vào lớp Nhì Một Năm để học tiếp bậc Tiểu học, và khi xong lớp Nhất (hết bậc Tiểu học) học sinh lại phải thi lấy bằng Sơ Tiểu tiếng Pháp viết tắt là bằng CEPCI (tức là Certificat d’Études Primaire Complémentaire Indochinoise). Đậu xong bằng này học sinh mới được dự kỳ thi tuyển vào năm Thứ Nhất trường Trung học.
Bậc Trung học cũng chia làm hai cấp. Cấp thứ nhất gọi là Cao Đẳng Tiểu Học (Enseignement Primaire Superieur, cũng như trung học đệ nhất cấp sau này) gồm có bốn lớp: Năm Thứ Nhất (Première Année), Năm Thứ Nhì (Deuxième Année), Năm Thứ Ba (Troisième Année) và Năm Thứ Tư (Quatrième Année). Học xong Năm Thứ Tư học sinh thi lấy bằng Thành Chung hay DEPSI (Diplôme d’Études Primaire Superieur Indochinois).
Những ai muốn thi lấy bằng cấp Pháp thì có thể thi bằng Brevet Premier Cycle hay Brevet Elementaire. Cấp thứ hai là ban Tú Tài gồm các lớp Second (như Đệ Tam hay lớp 10 sau này), Première (như Đệ Nhị hay lớp 11) và lớp Terminale (như Đệ Nhất hay lớp 12).
Xong lớp Première (Đệ Nhị hay lớp 11) học sinh phải thi Tú Tài I (Baccalauréat Première Partie), đậu được Tú Tài I mới được vào học lớp Đệ Nhất hay lớp 12. Học hết lớp 12 học sinh phải thi lấy bằng Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie). Khi lên lớp Terminale (lớp 12) học sinh phải chọn một trong ba ban chính sau đây:
(1) ban Triết (Philosophie),
(2) ban Khoa Học Thực Nghiệm (Sciences Expérimentales), và (3) ban Toán (Mathématiques Élémentaires)…
Học hết lớp 12 học sinh phải thi lấy bằng Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie) về một trong các ban nói trên. Bằng Tú Tài II thường được gọi tắt là Bac. Philo. (Tú Tài II ban Triết), Bac. Math. (Tú Tài II ban Toán) v v … Xong Tú Tài học sinh mới được vào Đại học, và dưới thời Pháp thuộc chỉ có một đại học duy nhất ở Hà Nội cho toàn cõi Đông Dương. Một số không nhỏ học sinh Việt Nam, nhất là ở Miền Nam, sau khi xong Tú Tài thường qua Pháp học tiếp bậc đại học thay vì ra Hà Nội học.
Chương trình học trên đây chịu ảnh hưởng nặng nề của chương trình Pháp, dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Tiếng Việt chỉ được xem như một sinh ngữ phụ. Đúng ra đây chỉ là chương trình Pháp thật sự nhưng có chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các trường Việt Nam. Chương trình này kéo dài đến hết Thế Giới Đại Chiến Thứ Hai trên toàn cỏi Việt Nam. Sau năm 1945, sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, chương trình Việt được ban hành. Chương trình này – chương trình Hoàng Xuân Hản – được đem ra áp dụng trước ở Bắc Việt và Trung Việt, nhưng riêng ở Miền Nam thì vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục. Dưới thời Pháp đô hộ giáo dục phát triển rất chậm chạp. Quyền quyết định về giáo dục cũng như chính sách giáo dục hoàn toàn nằm trong tay người Pháp. Phải đến giữa thập niên 1950, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chương trình Việt mới bắt đầu được áp dụng ở trong Nam để thay thế chương trình Pháp. Cũng từ khoảng thời gian đó, thời Đệ Nhất Cộng Hòa, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo quan trọng của họ. Những đóng góp của họ thật lớn lao đưa đến sự bành trướng và phát triển vô cùng mạnh mẽ của nền giáo dục quốc gia dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.
[…]
Triết lý giáo dục VNCH nằm trong những Nguyên Tắc Căn Bản do Bộ Giáo Dục ấn hành năm 1959 và sau đó được ghi lại trong hiến pháp 1967. Những nguyên tắc căn bản này được tóm lược như sau:
Thứ nhất: Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản (humanistic education). Nhân là người hay con người, bản là gốc là căn bản. Trong lãnh vực triết lý, thuyết nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong đời sống trên thế gian này. Thuyết nhân bản lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản chớ không nhắm đến linh hồn hay một cuộc đời nào khác ngoài thế giới mà loài người hiện đang sống trong đó. Theo thuyết này, con người có giá trị đặc biệt của con người, cao cả hơn tất cả các giống sinh vật khác trên đời này. Chỉ có con người mới có văn hóa, có những hoạt động có suy tư, có sáng tạo, làm cho cuộc sống của con người tiến hóa luôn từ xưa đến giờ. Nhân bản cũng chỉ tính cách linh thiêng của con người, khác hơn mọi loài vật, “nhân linh ư vạn vật”, và con người phải được tôn trọng bởi tính linh thiêng đó. Con người tự nó là một cứu cánh chớ không phải là một phương tiện. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt đó để đánh giácon người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, con người có giá trị của con người như nhau, và mọi người đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
Thứ hai: Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc (nationalistic education). Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh anh hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc Việt Nam có mặt trên thế giới này từ bao nhiêu ngàn năm trước. Dân tộc đó có tiếng nói riêng, có lịch sử riêng, có một nền văn hóa riêng của nó từ bao đời. Dân tộc tính đó trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị tan biến hay tiêu trầm trong những nền văn hóa khác.
Thứ ba: Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng kín cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
[…]
Từ những nguyên tắc căn bản trên đây, quan niệm về giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa bao gồm những tư tưởng nền tảng sau đây liên hệ tới những mục tiêu chính của giáo dục:
Phát triển toàn diện mỗi cá nhân. Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những định luật phát triển tự nhiên về vật lý và tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của mỗi cá nhân học sinh phải được lưu ý đúng mức. Cung ứng cho học sinh đầy đủ tin tức, dữ kiện, để học sinh phán đoán, lựa chọn, không che dấu tin tức hay chỉ cung cấp những tin tức chọn lọc thiếu trung thực để nhồi sọ học sinh theo một chủ trương, một hướng đi định sẵn nào.
Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sinh sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xăm bảo vệ tổ quốc, yêu thương giúp đở nhau trong tình đồng bào; giúp học sinh học tiếng Việt và xử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết cái đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.
Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm tự trị với sự phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp phát triển sự phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp đón nhận những giá trị văn hóa rộng rãi.
Tóm lại, mục đích của giáo dục quốc gia là giúp mỗi cá nhân phát triển toàn diện để trở thành những người có kỹ năng thực tiễn, có khả năng tư duy, để làm việc, sinh sống, có đạo đức, có tình người, để gây dựng hạnh phúc gia đình và hội nhập vào xã hội góp phần vào việc bảo vệ và phát triển quốc gia. Người được đi học sẽ trở thành người tốt và có ích cho chính mình, cho gia đình, và cho quốc gia dân tộc. Giáo dục Việt Nam không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt giai cấp xã hội, không phân biệt tôn giáo, địa phương, chủng tộc. Giáo dục Việt Nam cố tạo những cơ hội đồng đều cho mọi người được đi học tuy nhiên không phải ai cũng có thể học được đến hết bậc đại học, hay ai cũng học đến bác sĩ, kỷ sư hoặc các ngành cao đẳng chuyên nghiệp khác. Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo khả năng và sở thích, có người chỉ học được hết Tiểu Học, có người học hết Trung Học Đệ Nhất Cấp, hay Trung Học Đệ Nhị Cấp, có những người khác thì học đến hết bậc đại học. Nhưng dù bất cứ học đến bậc học nào, mục đích của giáo dục vẫn phải là giúp tất cả mọi người trở thành người tốt, người đã được phát triển về khả năng cũng như đạo đức, dù khả năng đó ở mức đô nào. Nếu có những người chỉ có cơ hội học hết Tiểu Học thôi, thì giáo dục vẫn có bổn phận giúp họ phát triển đến hết mức đó, và vẫn làm thế nào giúp họ trở thành người tốt với mức học Tiểu Học của họ.
[…]
Tựa trên mục đích của giáo dục đã nêu trên, hệ thống giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa trong những năm sau cùng trước biến cố 1975, được thiết lập trong tinh thần tiếp cận hệ thống giáo dục của các quốc gia tiền tiến trên thế giới. Hệ thống này gồm ba cấp bậc: Tiểu học, Trung học, và Đại học. Tiểu học và Trung Học Đệ Nhất Cấp là cái học Phổ Thông (gồm 9 năm học). Trung Học Đệ Nhị Cấp bắt đầu chia ngành chuyên môn. Đây là những năm chuyển tiếp để vào các ngành chuyên môn hơn ở Đại Học, hoặc ra đời làm việc sinh sống. Riêng ở hai bậc Tiểu và Trung học, hệ thống giáo dục Việt Nam là hệ thống 5-4-3, với 12 năm liên tục, từ Lớp 1 đến Lớp 12, phân bố như sau:
Tiểu học (chỉ có Phổ Thông):
Lớp Một (Lớp Năm cũ)
Lớp Hai (Lớp Tư cũ)
Lớp Ba (Lớp Ba cũ)
Lớp Bốn (Lớp Nhì cũ)
Lớp Năm (Lớp Nhứt cũ)
Trung học Đệ Nhất Cấp (chỉ có Phổ Thông):
Lớp Sáu (Đệ Thất cũ)
Lớp Bảy (Đệ Lục cũ)
Lớp Tám (Đệ Ngũ cũ)
Lớp Chín (Đệ Tứ cũ)
Trung học Đệ Nhị Cấp (Phổ Thông và Chuyên Nghiệp):
Lớp Mười (Đệ Tam cũ)
Lớp Mười Một (Đệ Nhị cũ)
Lớp Mười Hai (Đệ Nhất cũ)
Bắt đầu Trung học Đệ Nhị Cấp, từ Lớp Mười, học sinh phải chọn Ban chuyên môn, và ngành chuyên môn như sau (từ 1973):
Ngành Phổ Thông:
Ban A (hay Ban Khoa Học Thực Nghiệm)
Ban B (hay Ban Toán)
Ban C (hay Ban Sinh Ngữ)
Ban D (hay Ban Cổ Ngữ)
Ngành chuyên nghiệp Nông Lâm Súc (Trung học Nông Lâm Súc)
Ngành chuyên nghiệp Kỹ Thuật (Trung Học Kỹ Thuật)
Bậc Đại học bao gồm:
Đại Học Cộng Đồng (hai năm)•
Đại Học (chương trình Cử Nhân trở lên)•
5. ĐIỀU KIỆN NHẬP HỌC:
Vào Lớp Một, bậc Tiểu Học:
Tất cả trẻ em từ 6 tuổi là nhận vào Lớp Một để bắt đầu bậc Tiểu Học. Tuy không có luật bắt buộc phải đi học, nhưng hầu hết trẻ em đều được đi học hết bậc Tiểu Học miễn phí ở các trường Tiểu Học công lập. Học sinh có thể học trường Tiểu Học tư thục nếu phụ huynh muốn.
Vào Lớp Sáu, bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp
Muốn vào học Lớp Sáu, Trung Học Đệ Nhất Cấp, học sinh phải học xong Tiểu Học và phải qua một kỳ Thi Tuyển Vào Lớp Sáu. Đây là kỳ thi gay go vì số chỗ ở Lớp Sáu Trung Học công lập có giới hạn. Chỉ khoảng 62% học sinh xong Tiểu Học được tuyển chọn vào Lớp Sáu trường công. Học trường công thì không phải trả học phí. Học sinh thi rớt vào Lớp Sáu trường công có thể lên học bậc trung học đệ nhất cấp ở các trường tư thục (có học phí).
Vào Lớp Mười Trung Học Đệ Nhị Cấp
Học sinh học xong Lớp Chín, có đủ điểm lên lớp, được vào Lớp Mười, ngành Phổ Thông, không phải qua một kỳ thi nào. Vào trường công thì không phải đóng học phí. Tuy nhiên, khi vào Lớp Mười học sinh phải lựa chọn Ban. Việc chọn Ban có tính cách tự nguyện, do tự học sinh muốn chọn Ban nào cũng được tùy theo sở thích của mình chớ không qua một sự hướng dẫn, hay chỉ bảo nào của nhà trường. Vào lớp Mười các ngành chuyên môn như Nông Lâm Súc hay Kỹ Thuật thì học sinh phải qua một kỳ thi tuyển vì số chỗ giới hạn hơn ngành Phổ Thông.
Vào Năm Thứ Nhất Đại Học
Học sinh đậu xong Tú Tài, kể như tốt nghiệp bậc Trung Học, có đủ điều kiện để vào học Năm Thứ Nhất bậc Đại Học. Tuy nhiên vì có một số đại học có số chỗ rất giới hạn nên đòi hỏi học sinh phải dự một kỳ thi tuyển như các đại học Y, Dược, Nha, Kỷ Thuật, Sư Phạm. Sự tuyển chọn hoàn toàn tựa trên khả năng của thí sinh , không có vấn đề lý lịch gia đình chen vào. Các đại học khác như Luật, Khoa Học, Văn Khoa không có thi tuyển, chỉ nhận thẳng những học sinh đã có bằng Tú Tài, không có một sự phân biệt, kỳ thị nào. Trường công thì không phải đóng học phí dù là bậc đại học. Chỉ có đóng tiền đi thi cuối năm ở một số trường hay phân khoa. Có những chương trình có học bổng cho sinh viên như trường sư phạm chẳng hạn.
6. CHƯƠNG TRÌNH HỌC
Chương trình học ở các bậc Tiểu và Trung học do Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên ban hành. Chương trình học này tựa trên triết lý giáo dục, mục đích và hệ thống giáo dục đã nêu trên. Chương trình do Ủy Ban Soạn Thảo Chương Trình, gồm một số thanh tra và giáo sư các môn liên hệ soạn thảo và đề nghị. Chương trình này được áp dụng đồng nhất cho cả trường công lẫn trường tư trên toàn quốc.
• Bậc Tiểu Học:
Chương trình Tiểu Học cung ứng cho học sinh những kiến thức cần thiết để ra đời hay lên học ở bậc Trung Học, cùng với những kỷ năng cơ bản (basic skills), những kỹ năng thực tiển (practical skills) và những cách thế phát triển cá nhân hầu có thể thích ứng dễ dàng với môi trường sinh sống.
Chương trình học chú trọng nhiều vào ba môn chính là Quốc Văn (tiếng Việt), Toán, Khoa Học Thường Thức. Bên cạnh ba môn chính trên đây phần Luân Lý với Công Dân Giáo Dục cũng được đặc biệt lưu ý. Số giờ và môn học được phân bố như sau:
1) Quốc Văn từ 7 tiếng 1/2 đến 9 tiếng 1/2 mỗi tuần tùy theo lớp, và bao gồm tập đọc, ngữ vựng, tập viết, chính tả, văn phạm, tập làm luận văn (tả vật, tả cảnh, tả người, thuật sự, viết thơ).
2) Công Dân Giáo Dục dạy về quyền và bổn phận của một công dân: từ 2 tiếng12 phút đến 2 tiếng ½ mỗi tuần tùy theo lớp.
3) Toán: từ 2 tiếng ½ đến 4 tiếng mỗi tuần tuỳ theo lớp, gồm có bốn phép toán, phân số, số học và hình học
4) Khoa Học Thường Thức: 2 tiếng ½ mỗi tuần bao gồm vạn vật, vệ sinh, các chứng bệnh, phép đo lường,
5) Sử Địa: SửViệt Nam và thế giới: 1 tiếng mỗi tuần, chỉ có từ lớp Ba trở lên; Địa Lý Việt Nam và thế giới: 1 tiếng mỗi tuần từ lớp Ba trở lên.
6) Nhiệm Ý: Thể Dục: 1 tiếng ½ đến 2 tiếng mỗi tuần tùy theo lớp; Hội Họa: 1 tiếng mỗi tuần; Nữ Công Gia Chánh: 2 tiếng mỗi tuần riêng cho nữ sinh từ lớp Ba trở lên.
Sinh Ngữ không có trong chương trình Tiểu Học. Các trường Tiểu học công lập không có sinh ngữ trừ trường hợp đặc biệt của các Trung Tâm Giáo Dục do người Pháp chuyển giao cho Bộ GD năm 1969. Có 5 trung tâm tất cả( Trung Tâm Lê Quí Đôn ở Sài Gòn, Trung Tâm Hồng Bàng ở Chợ Lớn, Trung Tâm Yersin ở Đà Lạt, Trung Tâm Pascal ở Nha Trang, và Trung Tâm Nguyễn Hiền ở Đà Nẵng). Ở các trung tâm này có thêm giờ Pháp Văn ở bậc Tiểu Học do giáo sư Pháp đảm trách và do cơ quan Văn Hóa Pháp đài thọ. Một số trường Tiểu học tư thục có thêm giờ sinh ngữ, ngoài số giờ ấn định của chương trình Tiểu học công lập.
• Bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp:
Chương trình Trung Học Đệ Nhất Cấp cung ứng cho học sinh những kiến thức tổng quát, có phần sâu rộng hơn bậc tiểu học nhưng chưa đi vào chuyên môn như ở Trung Học Đệ Nhị Cấp. Chương trình này một mặt bổ túc cho những kiến thức đã gặt hái được ở bậc Tiểu Học, và mặt khác chuẩn bị cho học sinh đón nhận những kiến thức sâu rộng hơn ở bậc Trung Học Đệ Nhị Cấp.
Chương trình bao gồm:
1) Quốc văn: văn phạm, chính tả, giảng văn (văn xuôi và văn vần), luận văn (luận đề luân lý), 6 giờ mỗi tuần.
2) Sinh ngữ: học sinh chọn một trong hai sinh ngữ Anh hoặc Pháp. (sinh ngữ Anh, dùng English for Today, từ Book I đến Book III ; sinh ngữ Pháp dùng Civilisation Francaise, tome I: Le Francais Elementaire). 6 giờ mỗi tuần ở các lớp 6 và 7; 5 giờ mỗi tuần ở các lớp 8 và 9.
3) Lý Hóa: 2 giờ mỗi tuần ở các lớp 6 và 7; 2 giờ ½ ở các lớp 8 và 9. Gồm các bài học về (1) Vật Lý: cân, nguyên lý Archimèdes, nhiệt độ, điện, quang; (2) Hóa Học: H2O, Oxy và oxy hóa, Hyt ro và không khí, acid và bases, kim khí, hóa học hữu cơ.
4) Vạn Vật: 1 giờ ½ mỗi tuần cho các lớp 6, 7, 8, 9. Gồm sinh vật, cây cỏ, thú vật, đất đá, con người.
5) Toán: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 6 và 7; 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 8 và 9. Gồm các bài học về: số học, phân số, đại số, phương trình bậc nhất, hàm số (y = ax và y = ax + b); phương trình bậc hai, hàm số (y = x2 ; y = ax2 ; y = 1/x ; y = a/x). Về hình học: đường thẳng, đoạn thẳng, gốc vuông, tam giác đồng dạng, đa giác ; hình học không gian: mặt phẳng song song, hình nón, hình cầu.
6) Sử Địa: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 6, 7, 8, và 9. Gồm: (1) Sử Ký: Việt Nam từ khởi thủy đến 1945; sử thế giới (sự phát triển kỹ nghệ Âu Châu và sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân; các nước Á Châu trước chủ nghĩa thực dân – Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản; Đại Chiến Thế Giới Thứ Nhất; thế giới giữa hai thế chiến); (2) Địa lý: trái đất, Âu Châu, Phi Châu, Mỹ Châu, Á Châu (trừ Việt Nam), Úc Châu, và Việt Nam.
7) Công Dân: 1 giờ mỗi tuần cho các lớp 6 và 7, 2 giờ mỗi tuần cho các lớp 8 và 9. Gồm những bài học về: cá nhân và gia đình, tổ chức ở học đường, bổn phận của học sinh, đời sống xã hội và tôn giáo, quyền và bổn phận một công dân.
Nhiệm Ý: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 6, 7, 8, 9. Gồm: hội họa, âm nhạc, thể thao cho nam sinh; nữ công gia chánh, âm nhạc, thể thao cho nữ sinh.
• Bậc Trung học Đệ Nhị Cấp:
Chương trình học ở bậc trung học đệ nhị cấp một mặt giúp học sinh hoàn tất nền học vấn bậc trung học và mặt khác sửa soạn cho học sinh bước vào ngưỡng cửa đại học. Ở những năm học này học sinh được lựa chọn những môn học thích hợp với khả năng và sở thích của mình. Chương trình học do đó, không đồng nhất, mà được thay đổi tùy theo ngành và tùy theo ban.
Về ngành thì có ngành Phổ Thông, ngành Nông Lâm Súc và ngành Kỹ Thuật. Mỗi ngành lại chia làm nhiều ban. Ngành Kỹ Thuật có các ban Cơ Khí (mechnics), Điện (electricity), Điện Tử (electronics), Rèn (forging), Hàn (welding) v v …Ngành Nông Lâm Súc có ban Canh Nông (agriculture) , Lâm (forestry), và Súc (animal husbandry).
Ngành Phổ Thông có các Ban A, Ban B, Ban C và Ban D. Riêng ngành phổ thông, ngành có nhiều học sinh nhất, số giờ học theo từng môn và theo từng ban được ghi rõ trong bản phân phối đính kèm.
Nhìn chung ta thấy Ban A (tức ban Khoa Học Thực Nghiệm) chú trọng vào Vạn Vật, và Vật Lý – Hóa Học, Ban B (hay ban Toán) chú trọng vào Toán học và Vật Lý – Hóa Học, Ban C chú trọng vào Triết học (Tâm Lý, Luận Lý, Đạo Đức và Siêu Hình học) và Sinh Ngữ, và Ban D chuyên về Triết học và Cổ Ngữ. Về Sinh Ngữ, có sinh ngữ chính và sinh ngữ phụ. Sinh ngữ chính có thể là Anh Ngữ hay Pháp Ngữ; sinh ngữ phụ có thể là Anh, Pháp, Đức, Nhật, Y Pha Nho, Ý. Cổ Ngữ có thể là Hán hay La Tinh. Thường thì hai Ban C và D được gọi chung là Ban Văn Chương. Các môn học trong chương trình Phổ Thông được tóm ghi như sau:
1) Quốc Văn: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 10 và 11 A và B; 5 giờ mỗi tuần cho các lớp 10 và 11 ban C và D. Gồm văn học sử từ khởi thủy đến 1945 (văn học bình dân truyền khẩu, văn chương chữ Nôm và văn học chữ Quốc Ngữ), giảng văn (15 tác giả và tác phẩm cho ban A và B, và 20 tác giả và tác phẩm cho ban C và D), luận văn (luận đề văn chương và luân lý).
2) Triết học: 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 12 Ban A, 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 12 Ban B, và 9 giờ mỗi tuần cho các lớp 12 Ban C và D. Gồm Luận Lý học và Đạo Đức học cho cả 4 Ban; Tâm Lý Học và Siêu Hình Học cho các Ban C và D, một phần Tâm Lý Học cho Ban A.
3) Công Dân: 2 giờ mỗi tuần cho các lớp 10 và 11 A, B, C, D; và 1 giờ mỗi tuần cho lớp 12 tất cả các Ban. Gồm: Quốc Gia (dân tộc, lãnh thổ, chánh phủ, hiến pháp, lập pháp, hành pháp, tư pháp), Liên Hiệp Quốc (tổ chức, UNESCO, các tổ chức khác), Phong Tục, Kinh Tế (các lý thuyết, sản xuất, thương mại, tiền tệ, ngân hàng), Chính Trị (dân chủ, chính đảng, chính thể, độc tài, phát xít, cộng sản).
4) Sử Địa: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, và 12 các Ban A, B, C, D. Gồm: Sử Việt Nam từ 1407 đến 1945, Sử Thế Giới từ cuối thế kỷ XVIII đến 1945 (Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật, Trung Hoa, Ấn Độ, Đại Chiến Thế Giới I, Đại Chiến Thế Giới II), Địa Lý Địa Cầu, Địa Lý Việt Nam, Địa Lý Thế Giới (Hoa Kỳ, Tây Đức, Anh, Nhật, Nga Sô, Trung Hoa Lục Địa, Ấn Độ).
5) Sinh Ngữ I: 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, và 11 A, B; 3 giờ mỗi tuần cho lớp 12 A, B, 6 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12 C và D. Anh Văn (English for Today, books III và IV cho Ban A và B, books IV và V cho Ban C và D), hay Pháp Văn (Cours de Langue et de Civilisation Francaise, Tome II cho Ban A và B, Tome II thêm các tác giả La Fontaine, A. Daudet, A. France, St. Exupéry, G. Duhamel cho Ban C và D).
6) Sinh Ngữ II: 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, và 11 A và B, 6 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12 C. Anh Văn (English for Today, Books I và II cho Ban A và B, Books I, II, và III cho Ban C), hay Pháp Văn (Cours de Langue et de Civilisation Francaise, Tome I cho Ban A và B, Tome I và II cho Ban C). Ban D thì học Cổ Ngữ (chữ Hán hay tiếng La Tinh).
7) Toán: 1 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12 C, D, 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11 A, 5 giờ mỗi tuần cho lớp 12 A, 6 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11 B, và 9 giờ mỗi tuần cho lớp 12B. Nhiều chi tiết và nhiều phần khó cho Ban B, tổng quát hơn cho Ban A và rất hạn chế cho Ban C và D. Gồm Đại Số (phương trình bậc hai và bất bình đẳng, lô ga rít, đạo hàm và hàm số), Hình Học (hình học giải tích), Chuyển Động(véc to, vận tốc, chuyển động thẳng), Lượng Giác, Thống Kê và xác xuất.
Vạn Vật: 1 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12, Ban B, C, và D, 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11 Ban A, và 4 giờ mỗi tuần cho lớp 12 Ban A. Nhiều chi tiết và thí nghiệm cho Ban A, nhưng nhiều giới hạn cho các Ban B, C, và D. Gồm địa chất (geology), thực vật (botany), và động vật (animals).
9) Lý Hóa: 1 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12 Ban C và D, 4 giờ ½ mỗi tuần cho các lớp 10, 11 Ban A và B, 7 giờ mỗi tuần cho lớp 12 Ban A và B. Nhiều chi tiết và nhiều phần khó cho các Ban A và B. Rất giới hạn cho các Ban C và D. Gồm Vật Lý (lực, tĩnh, nhiệt,…), Hóa Học (nguyên tử, …).
• Chương Trình Trung Học Tổng Hợp (comprehensive secondary school curriculum)
7. TÀI LIỆU, DỤNG CỤ GIÁO KHOA
Phần lớn các sách giáo khoa, và một số các dụng cụ khoa học đều do Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục sản xuất và cung cấp với sự giúp dỡ và viện trợ của các cơ quan ngoại quốc như USAID. Ban tu thư dịch thuật với các giáo chức và các họa sĩ với chuyên môn và kỹ thuật cao đã soạn thảo trọn bộ sách bậc tiểu học tốt về nội dung cũng như hình thức. Nhiều sách dịch và tham khảo đã được duyệt và ấn loát để các học sinh và sinh viên cótài liệu tham khảo.
Ngoài ra trung tâm còn hợp tác với cơ quan quốc tế UNESCO để viết và dịch các sách nhi đồng để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa quanh ta và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo Dục cũng dành riêng ngân sách để ấn loát sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc khác nhau.
Để thống nhất các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo Dục đã thiết lập Ủy Ban Quốc Gia soạn thảo danh từ chuyên môn. Nhiều giáo sư đại học đã tham gia vào việc soạn thảo và Trung Tâm Học Liệu đã bắt đầu ấn hành những tập đầu tiên danh từ văn học và khoa học.
Trường Sư Phạm: trường đào tạo giáo chức
Sư phạm là khuôn mẫu dạy dỗ (sư là thầy dạy, phạm là cái khuôn), hay nói nôm na ra là phương pháp, cách thức dạy học. Trường sư phạm là trường đào tạo giáo chức, là nơi người ta dạy cách thức hay phương pháp dạy học cho những người muốn làm nghề dạy học. Có kiến thức chuyên môn sâu rộng là một việc còn biết cách dạy cho có hiệu quả là một chuyện khác. Kiến thức chuyên môn chỉ mới là điều kiện cần, phải có kiến thức sư phạm nữa mới là điều kiện đủ để trở nên nhà giáo đúng nghĩa. Người có cử nhân toán học là người có đủ kiến thức về toán để dạy học sinh ban Tú Tài, kể cả Tú Tài Toán (Ban B) chẳng hạn, nhưng nếu người đó có thêm kiến thức hay kinh nghiệm sư phạm nữa thì sự truyền đạt những kiến thức toán của mình cho học sinh càng có nhiều hy vọng có kết quả hữu hiệu hơn. Vai trò của trường sư phạm là giúp những người muốn làm thầy thu thập được những kiến thức và kinh nghiệm dạy học đó.
Trường sư phạm (école normale, hay école de pédagogy) do người Pháp du nhập vào Việt Nam hồi tiền bán thế kỷ XX, như trường sư phạm Nam Việt, trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội chẳng hạn. Thời Việt Nam Cộng Hòa, có nhiều trường sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học và giáo học bổ túc như Quốc Gia Sư Phạm (Sài Gòn), Sư Phạm Long An, Sư Phạm Vĩnh Long, Sư Phạm Qui Nhơn, Sư Phạm Bam Mê Thuộc, v v …, hoặc các trường sư phạm đào tạo giáo sư trung học đệ nhất cấp hoặc đệ nhị cấp như Cao Đẳng Sư Phạm sau đổi thành Đại Học Sư Phạm (Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Sư Phạm Huế, Đại Học Sư Phạm Đà Lạt). Đại Học Sư Phạm một năm đào tạo giáo sư Trung Học Đệ Nhất Cấp. Đại Học Sư Phạm ba năm đào tạo giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp. Đại Học Sư Phạm gồm nhiều ban như Việt Văn, Triết, Pháp Văn, Anh Văn, Toán, Lý Hóa, Vạn Vật, Sử Địa. Trường Sư Phạm một mặt giúp các giáo sinh mở rộng kiến thức chuyên môn (học về nội dung các môn mình sẽ dạy), mặt khác giúp các giáo chức tương lai trau dồi về sư phạm (cả lý thuyết lẫn thực hành).
• Tu Nghiệp Giáo Chức
Tu nghiệp là cách tốt nhất để các giáo chức có cơ hội hiện đại hóa những kiến thức chuyên môn cũng như những kiến thức/kinh nghiệm sư phạm của mình. Thật ra với đà tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật ngày nay, những hiểu biết của con người ở bất cứ lãnh vực nào cũng có thể rất dễ bị lỗi thời chỉ trong một thời gian ngắn, nếu không có dịp học hỏi, cập nhật hóa những hiểu biết chuyên môn của mình. Ở địa hạt giáo dục cũng vậy, nhà giáo cần phải để thì giờ và cơ hội học hỏi thêm, cập nhất hóa những kiến thức chuyên môn của mình để không bị rơi vào tình trạng hủ hóa. Trong chiều hướng đó, Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên thường xuyên tổ chức các chương trình và lớp tu nghiệp cho các giáo chức. Với sự viện trợ của các quốc gia tiền tiến trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Đức, Bộ VHGDTN thường gởi giáo chức đi tu nghiệp ở ngoại quốc. Trong nước thỉnh thoảng vẫn có những lớp tu nghiệp hay những buổi hội thảo về giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi, thăng tiến trong nghề nghiệp. Nha Sư Phạm và các trường sư phạm đảm trách công việc tu nghiệp ở trong nước cho các giáo chức.
• Đời sống và tinh thần giáo chức
Chỉ số lương của nhà giáo tuy có khá hơn một số các ngành khác, nhưng so với mực sống của những công tư chức nói chung thì đồng lương và đời sống của nhà giáo có tính cách rất khiêm nhường. Chỉ số lương mới ra trường sư phạm của giáo viên tiểu học là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470. So với các sĩ quan trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, lương giáo sư vẫn khá hơn, vì khi bị động viên vào quân ngũ, các sĩ quan giáo sư tuy đã mất phần phụ cấp sư phạm , vẫn còn được lãnh tiền sai biệt giữa lương căn bản giáo chức và lương sĩ quan. Với số lương căn bản ấn định, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở tỉnh thời Đệ Nhất Cộng Hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người làm. Sang Đệ Nhị Cộng Hòa, đời sống bắt đầu mắt mỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng. Tuy vậy lúc nào nhà giáo cũng vẫn giữ vững tinh thần, và tư cách nhà mô phạm, từ cách ăn mặc thật đứng đắn, đến cách ăn nói giao tiếp với phụ huynh học sinh, và cả với giới chức chính quyền địa phương. Dù gặp hoàn cảnh khó khăn đến đâu, nhà giáo cũng hết lòng với sứ mạng, vẫn làm đúng lương tâm chức nghiệp của mình.
[…]
9. LƯỢNG GIÁ VÀ THI CỬ
Có hai lối thi để lượng giá học sinh ở bậc trung học ngoài kỳ thi tuyển vào lớp Sáu. Một là thi lục cá nguyệt ở trong lớp học và hai là dự thi lấy văn bằng ở cấp quốc gia. Thi lục cá nguyệt là kỳ thi do giáo sư dạy lớp ra đề thi, cho thi trong lớp, và chấm điểm, sắp hạng học sinh về môn của mình. Mỗi niên học có hai lần thi lục cá nguyệt. Cả bài thi và số điểm sẽ được đệ nạp trên văn phòng giám học. Trường sẽ cọng điểm các môn, dùng điểm trung bình để định việc lên lớp cho học sinh.
Thi lục cá nguyệt từ xưa đến giờ không được chú ý đúng mức. Ở trong trường cũng như ở ngoài xã hội, kể cả phụ huynh học sinh, ít người đặt nặng tầm quan trọng vào các kỳ thi lục cá nguyệt. Đây là một quan niệm sai lầm đáng tiếc. Người ta chỉ chú trọng vào các kỳ thi lấy văn bằng ở cấp quốc gia (national examinations). Và càng về xưa càng nhiều kỳ thi, càng nhiều kỳ thi càng nhiều gạn lọc, loại bỏ dọc đường, không cho phép học sinh có cơ hội được học lên cao. Thi theo xưa là một cách chọn lọc quá khắt khe, chỉ chọn lấy toàn là người thật giỏi, thật ưu tú (elites).
Trước 1960 số thí sinh còn ít và Bộ Giáo Dục còn tổ chức được rất nhiều kỳ thi như thời Pháp thuộc: thi Tiểu Học, thi vào Đệ Thất, thi Trung Học Đệ Nhất Cấp với cả hai phần thi viết vấn đáp, thi Tú Tài I (viết và vấn đáp), thi Tú Tài II (viết và vấn đáp). Tú Tài I và II lại có hai kỳ, kỳ I và II cho mỗi năm. Sang thập niên 1950 kỳ thi Tiểu Học được bãi bỏ, Trung Học Đệ Nhất Cấp chỉ có thi viết thôi, không còn vấn đáp, và sau đó, trong thập niên 1960, cũng bỏ luôn Trung Học Đệ Nhất Cấp nhưng lại tổ chức kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp Tráng Niên cho một ít người lớn tuổi. Đến năm 1973 kỳ thi Tú Tài I cũng được bãi bỏ chỉ còn giữ kỳ thi Tú Tài II xem như kỳ thi tốt nghiệp bậc Trung Học.
Cách thức làm đề thi khi xưa là đánh máy một ít đề thi rồi giao cho giám thị phòng chép tay trên bảng. Sang đầu thập niên 1960 đề thi mới được in ronéo ra nhiều bản để phát cho mỗi thí sinh một bản đề thi. Đề thi làm theo lối luận đề (essay type), đặt câu hỏi để thí sinh phải viết câu trả lời dài dòng. Lối ra đề thi này rất chủ quan, giới hạn các câu hỏi trong một số rất ít chủ điểm, đòi hỏi học sinh phải học thuộc lòng rất nhiều để có thể viết lại kịp thời những gì đã học trong sách vở. Với lối ra đề thi như vậy người ta không thể nào khảo sát được một cách khách quan và tổng thể sự thu nhận và hiểu biết của học sinh về những môn quan trọng trong chương trình học.
Đề thi và cách chấm thi theo lối này dễ đưa tới việc học sinh học tủ, đánh bùa, chép bài, và giám khảo chấm bừa (thủ vĩ ngâm), tìm bài và nâng điểm. Hồ sơ thi cử như ghi danh, làm phiếu báo danh, sổ điểm, ghi điểm, cọng điểm, v v… tất cả đều làm bằng tay và khi thí sinh quá đông thì không tránh được những sơ sót, và đúng ra cũng không còn cách nào làm nỗi nếu theo cách làm cổ điển này. Các kỳ thi kéo dài hết cả mùa hè và các giáo sư dạy lớp thi phải đi gác thi, chấm thi luôn, không còn thì giờ nghỉ ngơi hay làm việc gì khác. Cái hại nhất của các kỳ thi là giới hạn rất nhiều số người thi đậu, gạn lọc quá nhiều học sinh không để cho có nhiều học sinh tiến lên các cấp cao ở trên. Một trăm học sinh khi xong Tiểu học chỉ còn không đầy 50 em được vào Trung học công lập, một số khác phải vào tư thục nếu gia đình có tiền.
Trong số 50 em này sau khi xong Trung Học Đệ Nhất Cấp chỉ còn khoảng 20 em vào Đệ Tam rồi Đệ Nhị và dự thi Tú Tài I. Xong Tú Tài I còn không đầy 10 người lên học thi Tú Tài II. Thường thì hầu hết những người đậu xong Tú Tài I đều sẽ đậu Tú Tài II sau đó. Thành ra tính trung bình không hơn 10% học sinh vào trung học được tốt nghiệp trung học. Thật là phi lý khi rất nhiều học sinh phải mất thì giờ học bao nhiêu năm, chính phủ phải tốn bao nhiêu tiền bạc để lo cho họ đi học rồi rốt lại chỉ một hai ngày thi cử họ đã phải vứt bỏ hết bao nhiêu công lao, tiền bạc của công cũng như của tư. Cần phải có sự cải tổ về thi cử để cải tiến hệ thống lượng giá và đo lường trình độ học vấn của học sinh và để đương đầu với áp lực của sĩ số mỗi ngày một gia tăng nhanh chóng. Thi lấy văn bằng ở cấp quốc gia quan trọng nhất là thi Tú Tài I và Tú Tài II. Nam sinh thi rớt Tú Tài I là phải nhập ngũ, đi lính. Nếu có Tú Tài I mà nhập ngũ thì được đi khóa sĩ quan. Từ đầu thập niên con số thí sinh dự thi Tú Tài gia tăng rất nhiều, việc tổ chức thi cử theo lối cũ (theo lối của Pháp) không giải quyết nổi vấn đề làm hồ sơ khảo thí, đánh mật mã, cắt phách, chấm thi, cọng điểm, sắp hạng, làm chứng chỉ trúng tuyển, vv . .tất cả những công việc đó không còn làm bằng tay theo lối cổ điển được nữa. Nhất là khi bãi bỏ kỳ thi Tú Tài I thì số thí sinh dự thi Tú Tài II sẽ gia tăng gần gắp đôi trong năm 1974.
Vả lại thi theo lối cũ, lối luận đề (essay type) có tính cách chủ quan và một số những khuyết điểm của nó trong vấn đề lượng giá. Thi trắc nghiệm khách quan theo lối Mỹ tuy không phải là toàn mỹ nhưng vẫn có nhiều ưu điểm hơn trong vấn đề lượng giá một cách khách quan, khoa học, và có thể tránh được những gian lận thi cử. Để kịp thời đối phó với tình trạng gia tăng quá nhanh, và để cải tiến vấn đề lượng giá cho đúng mức, một hội đồng cải tổ thi cử được thành hình từ tháng 11 năm 1972, và ráo riết làm việc để hoàn tất công cuộc đổi mới áp dụng trong kỳ thi Tú Tài năm 1974 (khóa I thi ngày 26 và 27 tháng 6, và khóa II ngày 28 và 29 tháng . Đây là kỳ thi Tú Tài theo lối trắc nghiệm khách quan lần đầu tiên và cũng là lần sau cùng ở Nam Việt Nam.
Về giấy tờ thủ tục, đầu thập niên 1970 Nha Khảo thí đã ký khế ước với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vu, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển, đến các con số thống kê cấn thiết. Đề thi trắc nghiệm khách quan thì cũng đã được đem vào các kỳ thi Tú Tài I và II cho môn Công Dân – Sử Địa từ niên khóa 1965-66. Nhưng phải đến năm 1974 thì toàn bộ các môn thi trong kỳ thi Tú Tài mới gồm toàn những câu trắc nghiệm khách quan có nhiều lựa chọn (multiple choice).
Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều có đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1,800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời (làm item analysis) của học sinh để định độ khó (difficulty index; độ khó ở đây là .60) của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu trắc nghiệm cho thích hợp. Tín độ (reliability; hệ số tín độ của các bài trắc nghiệm ở đây là từ .91 đến .94) và hiệu độ (validity; hệ số hiệu độ của các bài trắc nghiệm ở đây là từ .60 đến .73 ) của bài trắc nghiệm được tính theo đúng phương pháp thống kê khoa học. Bảng trả lời được đặt từ Mỹ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230; điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy 534 (punching machine) để đục lổ. Những phiếu đục lỗ này (punched cards) được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cọng điểm, tính điểm trung bình (mean), độ lệch tiêu chuẩn (standard deviation), chuyển điểm thô (raw score) ra điểm tiêu chuẩn (standard score), tính percentile và thứ hạng trúng tuyển. Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (Norm group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp khoa học của thống kê học, để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.
Tổng số thí sinh ghi tên trong khóa I, 1974 là 142, 356, nhưng thật sự dự thi chỉ có 129, 406. Trong số này có 53, 868 thi đậu (41.6%) và 75, 538 thí sinh không đâu (58.4%). Tổng số thí sinh ghi tên dự thi khóa II là 94,606, nhưng thật sự dự thi chỉ có 76,494. Trong số này có 8,607 thi đậu (11.3%) và 67,887 không đâu (88.7%). Số người thi đậu Tú Tài (tốt nghiệp Trung học) nhiều hơn xưa nhiều lắm (hơn 45% cho cả hai khóa, so với khoảng 10% trong những thập niên trước). Kỳ thi quốc gia không còn có mục đích gạn lọc, loại bỏ như xưa nữa. Từ đó sẽ có nhiều người có cơ hội được học đại học, và nước nhà sẽ có nhiều người ở trong thành phần trí thức, trình đô dân trí sẽ được nâng cao hơn.
Trích tài liệu Nam Sơn Trần Văn Chi
Những năm đầu sau khi Pháp rút về nước, giáo dục Việt Nam tiếp tục cái gì có trước. Cho đến Ðại Hội Giáo Dục Toàn quốc năm 1958, VNCH mới xây dựng nền giáo dục độc lập dựa trên 3 nguyên tắc: Nhân Bản-Dân Tộc và Khai Phóng.
[…]
Thời Tây 1930, toàn Ðông Dương có 406,669 học trò gồm sơ và tiểu học trong đó có 20% là học trò Lào và Miên.
Thời Ðệ I Cộng Hòa, năm học 1960 miền Nam có 1 triệu 214,621 học sinh tiểu học, 112, 129 học sinh trung học. Tăng 200% so với niên học 54-55, lúc mới thâu hồi độc lập từ tay Pháp.
[…]
Giáo viên tiểu học trước năm 1975 có chỉ số 250, giáo học bổ túc là 320, giáo sư Ðệ I cấp chỉ số 400, Ðệ II cấp lên 470. Lương giáo viên, giáo sư như thế so với ngạch công chức và quân đội, tương đối cao, nên đời sống cũng tương đối sung mãn.
___________________________________________________________________________________
QUÁ TRÌNH NGƯỜI PHƯƠNG BẮC XÂM LĂNG NƯỚC TA.
(Nhân kỷ niệm mồng 5 Tết, vua Quang Trung đại phá quân Thanh) Theo Việt sử, từ buổi đầu thời đại đồng thau, có khoảng 15 bộ lạc Lạc Việt dưới đây đã định cư ở Bắc bộ và bắc Trung bộ:
1- Văn lang (Bạch hạc, tỉnh Vĩnh yên)
2- Châu Diên (Sơn tây)
3- Phúc lộc (Sơn tây)
4- Tân hưng (Hưng hóa-Tuyên quang)
5- Vũ định (Thái nguyên-Cao bằng)
6- Vũ ninh (Bắc ninh)
7- Lục hải (Lạng sơn)
8- Ninh hải (Quảng yên)
9- Dương tuyền (Hải dương)
10-Giao chỉ (Hà nội, Hưng yên, Nam định, Ninh bình)
11-Cửu chân (Thanh hóa)
12-Hoài an (Nghệ an)
13-Cửu đức (Hà tĩnh)
14-Việt thường (Quảng bình, Quảng trị)
15-Bình văn
Trong số các bộ lạc Lạc Việt, bộ lạc Văn lang hùng mạnh hơn cả. Lãnh thổ
của bộ lạc nầy trải rộng từ chân núi Ba vì đến sườn Tam đảo, có sông
Hồng chảy xuyên giữa.
Thủ lãnh bộ lạc Văn lang đứng ra thống nhất tất cả bộ lạc Lạc Việt, dựng
lên nước Văn lang. Ông xưng vua, sử gọi là Hùng vương, đóng đô ở Văn
lang, hiệu nước là Văn lang truyền được 18 đời Hùng vương, cai trị một
nước có núi rừng trùng điệp, biển rộng sông dài, ruộng đồng bát ngát,
cây cối bốn mùa xanh tươi, sinh vật phong phú.
Triều đại Hùng vương 18, vị vua cuối cùng, chấm dứt vào khoảng năm quí
mão (258 trước TL), lúc đó cục diện ở Phương Bắc đang biến chuyển. Thời
Chiến quốc (481-221 trước TL) kết thúc, nhà Tần thống nhất Trung quốc,
Tần Doanh Chính xưng hoàng đế (Tần Thủy Hoàng) với ý tưởng “Bình Thiên
Hạ”, tham vọng bành trướng bắt đầu với ý đồ xâm lược phương nam.
Nhà Tần đã phát 50 vạn quân tràn xuống phía nam, chiếm một số đất đai ở
phía nam sông Trường giang như Phúc kiến, Quảng đông, Quế lâm, Quảng
tây. Nhưng khi đi vào đất Việt, quân Tần bị người Việt anh dũng chống
lại, ban đêm phục kích quân Tần. Người Việt kiên trì chiến đấu cả chục
năm, hàng vạn quân Tần với chủ tướng là Đồ Thư bị giết.
Theo truyền thuyết thì chính Thục Phán dựng nước Âu Lạc, tự xưng là An
Dương Vương, đã lãnh đạo cuộc kháng chiến mười năm chống quân xâm lược
Tần
Năm 207 (trước TL), Triệu Đà, một quan lại của Tần đánh thắng An Dương
Vương rồi tự xưng vua, tức Vũ Vương, sáp nhập nước Âu lạc vào quận Nam
hải, lập thành một nước gọi là Nam Việt, chia Âu lạc thành hai quận:
Giao chỉ (Bắc bộ), Cửu chân (bắc Trung bộ), cử quan lại cai trị và cho
quân lính đóng đồn lũy tại hai quận.
Năm 111 (trước TL), sau khi xưng vương được ít lâu, họ Triệu qui phục
Bắc triều. Lúc bấy giờ triều Hán đã thay triều Tần, quân Hán đánh chiếm
Nam Việt, tiêu diệt nhà Triệu, bọn sứ giả nhà Triệu đem hàng trăm trâu
bò, hàng ngàn hũ rượu và sổ hộ khẩu của hai quận Giao chỉ và Cửu chân
nộp cho tướng tá nhà Hán và xin hàng. Nước Nam Việt bị diệt. Đất Âu lạc
được nhà Hán lập thành bộ Giao chỉ, bổ nhiệm một viên thứ sử trông coi
chín quận: -Giao chỉ (Bắc bộ), -Cửu chân (bắc Trung bộ), -Nhật nam
(trung Trung bộ). Dân số ba quận gồm 143.643 hộ với 981.735 nhân khẩu.
Sáu quận còn lại ngoài phạm vi nước ta là Đạm nhĩ, Chu nhai (đảo Hải
nam), Nam hải, Hợp phố (Quảng đông), Uất lâm, Thương ngô (Quảng tây).
Đứng đầu mỗi quận là một viên thái thú coi việc hành chánh và một viên
đô úy chỉ huy quân đội. Từ đây nước ta khởi đầu bị Bắc thuộc lần thứ
nhất (111TTL-39 STL).
Việc cai trị rất hà khắc với Tích Quang, thái thú Giao chỉ và Nhâm
Diên,thái thú Cửu chân. Nhân dân ta phải cống nạp của quý vật lạ như
sừng tê giác, ngà voi, đồi mồi, vàng bạc……
Bọn thống trị còn chiếm đất tư nhân để lập trang trại, độc quyền sản
xuất và mua bán muối ăn, đánh thuế nông nghiệp rất nặng nề. Thái thú Tô
Định, thay Tích Quang, là kẻ tham lam tàn bạo khủng khiếp, người Giao
chỉ rất oán giận. Vì thế,toàn dân cả nước nổi dậy chống bọn cai trị Bắc
Phương với cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.
Theo truyền thuyết thì mẹ Hai Bà là cháu chắt bên ngoại Hùng Vương. Hai
Bà là con gái Lạc tướng huyện Mê linh (miền Sơn tây-Vĩnh phú), chồng
Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên (Hà tây-Nam
hà). Hai gia đình Lạc tướng đang mưu toan khởi nghĩa chống bọn xâm lược
Phương Bắc thì Thi Sách bị thái thú Tô Định giết. Trưng Trắc và em là
Trưng Nhị quyết tâm tiến hành cuộc khởi nghĩa tiêu diệt bọn xâm lăng tàn
bạo và giành độc lập cho đất nước.
Tháng 3 năm 40 (sau TL), Hai Bà phát động cuộc khởi nghĩa ở sông Hát, tụ
nghĩa ở Mê linh. Nhiều cuộc hưởng ứng khởi nghĩa nhất tề nổ ra khắp bốn
quận Giao chỉ (Bắc bộ), Cửu chân (bắc Trung bộ), Nhật nam (trung Trung
bộ) và Hợp phố (nay thuộc Quảng đông).
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng dấy lên phong trào cứu nước, chống
ngoại xâm, giành độc lập. Việc Trưng Trắc xưng vương xóa bỏ ý tưởng
“Bình Thiên Hạ” của nhà Hán.
Tháng 4 năm 42 (sau TL), vua Hán sai Mã Viện đem đại binh thuỷ bộ, tập
trung ở Hợp phố (Quảng đông) rồi tiến vào miền Lãng bạc (Tiên sơn, Hà
bắc).
Trưng vương phát quân từ Mê linh tiến xuống Lãng bạc đánh địch. Quân
Trưng vương chiến đấu rất anh dũng nhưng vì thế yếu nên rút về Cẩm khê
(Vĩnh phú). Sau gần một năm cự địch, quân ta tan vỡ, Hai Bà về Hát Môn
gieo mình xuống Hát giang tự tận vào tháng 5 năm 43.
Sau ba năm kháng chiến gian khổ giành độc lập, nhân dân ta lại phải lầm
than bởi chính sách nô dịch, bóc lột và đồng hóa của nhà Đông Hán Phương
Bắc đô hộ.
Sau khi Đông Hán sụp đổ, cục diện Tam Quốc tranh quyền giữa Ngụy, Thục,
Ngô (220-280), Lưu Bị xưng đế, thành lập nước Thục Hán, Tôn Quyền xưng
đế thành lập nước Ngô. Nhà Ngô tách châu Giao cũ làm hai: Nam hải, Uất
lâm và Thương ngô lập thành Quảng châu; Giao chỉ, Cửu chân và Nhật nam
(Bắc và trung Trung bộ Việt nam) lập thành Giao châu. Các thế lực thời
Tam Quốc gây chiến tranh triền miên làm cho dân Việt khốn khổ vô cùng
với nạn bắt lính, chết trận, dân công, sưu cao thuế nặng, bóc lột, hà
hiếp, tham lam, tàn bạo.
Năm 248, nước ta bùng nổ cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, tên là Triệu thị
Trinh, người con gái 19 tuổi có chí lớn, giàu mưu trí, đầy khí phách,
quê ở núi Nưa huyện Triệu sơn tỉnh Thanh hóa, đã cùng anh là Triệu quốc
Đạt, tập hợp nghĩa quân, mài gươm luyện võ, lãnh đạo nhân dân nổi dậy
khởi nghĩa tiến công bọn quan lại nhà Ngô. Nghĩa quân đánh thắng quân
Ngô, giết viên thứ sử châu Giao. Khắp hai quận Giao chỉ và Cửu chân đều
nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu.
Nhà Ngô phái danh tướng Lục Dận dẫn tám vạn quân sang nước ta đàn áp
phong trào khởi nghĩa. Bị bao vây ráo riết, Bà Triệu đã hy sinh trên núi
Tùng (Thanh hóa)
Sau khi Bà Triệu mất, nhà Ngô tăng cường áp bức và bóc lột, bắt hàng
ngàn thợ thủ công giỏi người Việt đi xây dựng kinh đô Kiến nghiệp (Nam
kinh), bắt trói thanh niên ta đem sang Ngô đi lính đánh giặc, bắt nhân
dân ta nộp ba ngàn chim cuông và nhiều heo thịt. Nhân dân ta lại nổi dậy
khởi nghĩa giết Tôn Tư và Đặng Tuân là hai viên thái thú nổi tiếng tham
lam tàn bạo. Cuộc chống xâm lược tiếp tục, lúc công khai, lúc ngấm ngầm,
âm ỉ, kiên nhẫn và bền bỉ lan tràn khắp ba châu Giao chỉ, Cửu chân và
Nhật nam suốt thời kỳ thống trị của nhà Tấn (265-420), nhà Tống và nhà
Tề (420-588). Cuối đời Tề tiếp đến nhà Lương, Tiêu Tư làm thứ sử Giao
châu là một người tàn bạo, lòng người ai cũng oán giận. Bởi vậy Lý Bôn
có cơ hội nổi lên lập ra nhà Tiền Lý.
Lý Bôn cũng gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người Tàu, lánh nạn chạy sang
Giao chỉ đã bảy đời thành người bản xứ ở Long hưng (huyện Thái bình tỉnh
Sơn tây) lãnh chức giám quận ở Châu đức (Hà tĩnh), thương dân, căm ghét
bọn đô hộ, ông từ quan về quê chiêu tập hiền tài, tụ họp nghĩa binh. Mùa
xuân năm 542, đại khởi nghĩa toàn dân do Lý Bôn lãnh đạo với khí thế
tiến công khắp nơi quét sạch bọn đô hộ nhà Lương.
Tháng giêng năm 544, Lý Bôn tuyên bố dựng nước, đặt quốc hiệu là Vạn
Xuân, lên ngôi hoàng đế, tự xưng là Nam Đế (Lý Nam Đế), niên hiệu là
Thiên Đức, ban sắc thần phong cho Bà Triệu để nhớ ơn vị nữ anh hùng tiền
bối.
Đầu năm 545, nhà Lương cho quân sang xâm lược nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế
lãnh đạo cuộc kháng chiến chống giặc. Năm 548, Lý Nam Đế qua đời, các
quan văn võ vẫn tiếp tục cuộc chống xâm lăng. Năm 571, Lý Phật Tử, thuộc
hàng thân tộc Lý Nam Đế, xưng đế hiệu, đóng đô ở Phong châu (tỉnh Vĩnh
yên). Năm 602, vua nhà Tùy sai tướng Lưu Phương sang đánh nước ta, vây
thành Cổ loa, bức Lý Phật Tử đầu hàng và bắt giải về Tàu. Từ đây đất
nước ta lại rơi vào ách thống trị của nhà Tùy, nước Tàu thêm 336 năm Bắc
thuộc nữa.
Nhà Tùy cải đơn vị hành chánh thành quận: quận Giao chỉ (Bắc bộ), quận
Cửu chân (Thanh hóa), quận Nhật nam (Nghệ an-Hà tĩnh) với 56.106 hộ và
thêm đất mới chiếm được của Chiêm thành (Quảng bình, Quảng trị, Thừa
thiên) gồm 4.135 hộ, bổ nhiệm Khâu Hoa làm thái thú Giao chỉ, một tên
bóc lột dữ dội và khét tiếng.
Năm 618 vua Tùy chết, nhà Đường kế nghiệp làm vua nước Tàu. Nền cai trị
của vua quan nhà Đường trên đất nước ta vô cùng xảo quyệt và thâm độc,
nên thái thú Cửu chân (Thanh hóa) là Lê Ngọc, vợ là người Việt, cùng các
con chia binh lập đồn lũy chống cự nhà Đường, sau bị quân Đường đánh
bại.
Năm 679, nhà Đường chia nước ta thành 12 châu gồm 56 huyện, dưới huyện
là hương và xã, đặt An Nam Đô Hộ Phủ. Nước ta gọi là An Nam khởi đầu
từ đây.
Trong gần ba thế kỷ (289 năm) bị nhà Đường (618-907) thống trị, nhân dân
ta đã nhiều lần nổi lên chống áp bức bóc lột, sự cai trị khắt khe và tàn
bạo của vua quan nhà Đường:
*Lý Tự Tiên phát động khởi nghĩa năm 687, nghĩa quân vây thành Tống
bình (Hà nội) giết viên đô hộ Lưu Diên Hựu, nhưng bị viện binh nhà Đường
đánh bại.
*Mai Thúc Loan, quê ở Mai phụ (Hà tĩnh), như mọi người dân Việt, Mai
thúc Loan phải đi phu, quanh năm phục dịch vất vả cho bọn quan lại nhà
Đường. Năm 722, Mai thúc Loan kêu gọi dân phu nổi dậy khởi nghĩa, nhân
tài và quần chúng hưởng ứng rất đông, lập căn cứ ở vùng núi rừng hiểm
trở cạnh sông Lam. Mai Thúc Loan xưng đế, đóng đô ở Vạn an (vùng rú Đụn
cạnh sông Lam). Vì mặt mũi đen sì nên còn gọi là Mai Hắc Đế. Ít lâu sau,
nhà Đường cử Dương tư Húc đem 10 vạn quân đàn áp cuộc khởi nghĩa, Mai
hắc Đế thua, ít lâu sau thì mất, nghĩa quân tan vỡ.
*Phùng Hưng ở Sơn tây nổi lên chống sưu thuế quá nặng, năm 766 đem quân
về vây phá phủ đô hộ ở Tống bình, phát động cuộc khởi nghĩa chống Tàu.
Sau 7 năm, Phùng Hưng mất, con là Phùng An nối ngôi, suy tôn cha làm Bố
Cái Đại Vương. Phùng An làm chủ đất nước được hai năm thì nhà Đường cho
Triệu Xương sang làm đô hộ An Nam, dụ Phùng An ra hàng. Năm 791, Phùng
An đầu hàng nhà Đường.
*Năm 803, một tướng lãnh người Việt là Vương quý Nguyên nổi dậy, nhưng
cuộc binh biến bị Triệu Xương dập tắt.
*Dương Thanh, một thủ lãnh người Việt căm phẫn vì sự khắc nghiệt và
hung bạo của bọn phong kiến Phương Bắc, đã cùng con là Chí Liệt lãnh đạo
binh lính dưới quyền tập kích thành đô hộ giết Lý tương Cổ thuộc tôn
thất nhà Đường giữ chức đô hộ. Sau đó nhà Đường cất đại quân tiến công
thành Tống bình, Dương Thanh bị giết, con là Chí Liệt rút về mạn Yên
mô-Ninh bình cầm cự đến tháng 7 năm 820 thì thất bại.
*Nhân cơ hội triều đình nhà Đường đổ nát, Khúc Thừa Dụ, quê ở Hải
dương, được nhân dân ủng hộ, tự xưng là tiết độ sứ, tuy mang tước hiệu
quan chức của nhà Đường, nhưng Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền
tự chủ, loại trừ được bọn quan lại phong kiến thống trị nước ta. Ông qua
đời năm 907, con là Khúc Hạo nối nghiệp cha, tiếp tục sự nghiệp xây dựng
nền độc lập của dân tộc, Ông mất năm 917, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay.
Năm 930, nhà Nam Hán sai tướng Lương khắc Trinh đem quân sang đánh nước
ta, Khúc thừa Mỹ bị bắt giải về Quảng châu, quan quân của Nam Hán chiếm
đóng Tống bình (Hà nội) nhưng không dám ra khỏi thành bởi các tướng cũ
của họ Khúc và các hào trưởng địa phương giữ quyền cai trị nhân dân
mình.
Một trong các tướng cũ của họ Khúc là Dương đình Nghệ, người châu Ái
(Thanh hóa) quyết chí giành độc lập cho dân tộc. Ông tự xưng là tiết độ
sứ, nuôi và luyện tập ba ngàn quân rồi mở cuộc tiến quân ra châu Giao
đánh bọn Lý Tiến, quan quân nhà Hán tháo chạy về nước. Năm 931, đất nước
ta lại giành được quyền tự chủ. Năm 937, Dương đình Nghệ bị viên tướng
của mình là Kiều công Tiển giết chết để đoạt chức tiết độ sứ.
Tháng 11 năm 938, Ngô Quyền, viên tướng giỏi và là con rể của Dương đình
Nghệ hay tin nhạc phụ bị giết, liền kéo quân từ châu Ái ra trị tội tên
phản bội. Cùng thời điểm nầy (năm 938) vua Nam Hán phong con là Hoàng
Thao làm Giao Vương, đem thủy quân sang xâm lược nước ta. Ngô Quyền
(899-944) cùng con là Ngô Mân, được quân sĩ và nhân dân ủng hộ đã hạ
thành Đại la, giết tên phản bội Kiều công Tiển để trừ nội gián, nội ứng,
rồi gấp rút tổ chức kháng chiến chống quân xâm lược.
Nắm vững đường tiến quân của địch từ biển vào, Ngô Quyền lệnh cho quân
dân chặt cây đẽo cọc, đầu bịt sắt nhọn, cắm ngầm xuống lòng sông Bạch
đằng rồi cho quân mai phục sẵn sàng chờ giặc. Đang lúc thủy triều lên,
Ngô Quyền cho quân ra khiêu chiến,quân Nam Hán đuổi theo, lúc thủy triều
vừa xuống, Ngô Quyền hồi quân đánh quật lại, thuyền giặc bị cọc nhọn đâm
thủng bị vỡ và đắm rất nhiều. Hoằng Thao, viên chỉ huy thủy binh của
địch cũng bị giết tại đây.
Chiến thắng oanh liệt tại sông Bạch đằng cuối năm 938, dưới sự lãnh đạo
của Ngô Quyền đã kết thúc hoàn toàn thời kỳ Bắc thuộc hơn một ngàn năm
(111 TTL-938 STL), mở đầu thời kỳ độc lập lâu dài qua các triều đại Ngô,
Đinh, Lê, Lý, Trần. ..
Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền xưng vương. Cổ loa là kinh đô cũ của nước Âu
lạc thời An dương vương được Ngô Quyền chọn làm kinh đô của vương quốc
độc lập. Ông mất năm 944 nhưng đến năm 965 chính quyền trung ương mới bị
tan rã bởi loạn 12 sứ quân tranh giành nhau quyền hành và lãnh thổ, mỗi
sứ quân chiếm cứ một vùng, xây thành đắp lũy đánh giết nhau làm cho nhân
dân khổ sở vô cùng.
Sự sống còn của dân tộc và nền độc lập của đất nước là bức thiết nhất,
đòi hỏi chấm dứt nội loạn 12 sứ quân để đem lại đoàn kết nhân dân và
thống nhất nước nhà, người nêu cao ngọn cờ chính nghĩa trong giai đoạn
lịch sử nầy là ông Đinh Bộ Lĩnh.
Đinh Bộ Lĩnh người ở động Hoa lư (Ninh bình), được sứ quân Trần minh
Công cho giữ quyền bính. Khi Trần minh Công chết, Đinh Bộ Lĩnh đem quân
về giữ Hoa lư, chiêu mộ anh hùng hào kiệt, hùng cứ một phương, lần lượt
đánh bại các sứ quân khác, đến năm 967, loạn 12 sứ quân bị dẹp tan, đất
nước được thống nhất. Năm 968 Ông lên ngôi hoàng đế gọi là Đinh Tiên
Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, chọn Hoa lư nơi núi non hiểm trở để
đóng đô với công trình phòng ngự rất kiên cố. Năm 979, Đinh Tiên Hoàng
bị Đổ Thích ám hại. Triều đình trị tội Đổ Thích và tôn Vệ Vương mới 6
tuổi lên làm vua, quyền chính do thập đạo tướng quân Lê Hoàn nắm giữ.
Trong lúc đó ở Phương Bắc, nhà Tống tự coi mình là «thiên triều» thống
trị các nước lân bang, nghe tin Đinh Tiên Hoàng bị ám hại, tự quân còn
nhỏ dại, nước ta bị nội loạn, bèn hội đại binh gần biên giới chuẩn bị
xâm chiếm nước ta.
Trước vận nước sắp bị ngoại xâm, quân sĩ và quan lại suy tôn Lê Hoàn lên
làm vua, hiệu Lê Đại Hành, sử gọi là nhà Tiền Lê, gấp rút tổ chức kháng
chiến chống quân xâm lược Tống. Ông áp dụng chiến thuật của Ngô Quyền
hơn 40 năm trước, sai quân sĩ đóng cọc nhọn ở sông Bạch đằng để chống
chiến thuyền địch và phục kích sẵn tại các địa điểm trên đường tiến quân
của địch.
Đầu năm 981, quân Tống theo hai đường thủy bộ ào ạt tấn công nước ta. Lê
Hoàn trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến, đánh bại quân xâm lược Tống
trên sông Bạch đằng rồi thừa thắng truy kích tiêu diệt quân Tống, khiến
cho nhà Tống phải ra lệnh bãi binh, thừa nhận sự thất bại của đạo quân
viễn chinh. Tuy vậy nhà Tống vẫn không từ bỏ tham vọng xâm lăng nước
ta.
Nhà Tiền Lê làm vua được ba đời, khi Long Đĩnh mất rồi, con còn bé, đình
thần tôn Lý Công Uẩn lên làm vua vào năm 1010, lập nên triều Lý, dời đô
từ Hoa lư về Đại la, đổi tên là Thăng long (Hà nội), đổi tên nước là Đại
Việt.
Năm 1072, vua Lý thánh Tông từ trần, Lý nhân Tông lên nối ngôi mới 7
tuổi. Nhà Tống coi đó là một cơ hội để tái xâm lược nước ta, quân Tống
tập trung ở thành Ung châu gần biên giới nước ta. Lý thường Kiệt tổ chức
một cuộc tập kích sang đất Tống nhằm tiêu diệt căn cứ của quân xâm lược
Tống. Sau 42 ngày công phá, quân ta chiếm được thành Ung châu, phá
thành, tiêu hủy kho tàng,..v.v…. rồi rút về nước.
Năm 1075, quân Tống phục hồi lại doanh trại Ung châu và cuối năm 1076,
bộ binh và kỵ mã Tống vượt biên giới tiến về phía Thăng long bị quân ta
đập tan với các trận đánh ác liệt, địch bị thảm bại. Sau hơn ba tháng
tiến quân vào nước ta, số lính Tàu và phu vận chuyển đã bị chết hơn phân
nửa, quan lính mệt mỏi, tinh thần sa sút, tiến thì không đủ sức, lui thì
mất mặt thiên triều, đóng quân lại thì có nguy cơ bị tiêu diệt. Lý
Thường Kiệt bèn đặt vấn đề điều đình để mở lối thoát cho địch mà ta khỏi
tốn xương máu. Tháng 3 năm 1077, quân Tống rút chạy về nước trong hỗn
loạn, đạp lên nhau. Mộng xâm lược của Tống đến đây bị tiêu tan.
Trong khí thế chiến thắng quân Phương Bắc xâm lược, Lý Thường Kiệt đã
sáng tác một bài thơ bất hủ để cổ võ quân sĩ, khiến ai nấy đều nức lòng
đánh giặc:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bài thơ tuy ngắn, nhưng có giá trị như một bản tuyên ngôn độc lập, đã
nói lên khí phách anh hùng và nghiêm khắc cảnh cáo quân xâm lược.
Chống xâm lược Mông cổ (1258):
Trong khi nhà Lý mất ngôi về tay nhà Trần, thì bên Tàu, nhà Tống bị
người Mông cổ đánh phá. Người Mông cổ hung hăng, hiếu chiến, cưỡi ngựa
giỏi, bắn cung hay, binh lính đều là quân kỵ, là đoàn quân viễn chinh
khét tiếng tàn bạo của Thành Cát Tư Hãn (hiệu là Nguyên Thái Tổ), từng
hoành hành trên lục địa Á-Âu, lập thành một đế quốc rộng lớn từ bờ Thái
bình dương đến bờ biển Hắc hải. Năm 1252, Hốt thất Liệt đánh chiếm Vân
nam (Trung quốc). Năm 1257, Hốt thất Liệt cho sứ sang dụ vua Trần Thái
Tông đầu hàng. Nhà vua không ngần ngại tống giam sứ giả Mông cổ rồi sai
Trần quốc Tuấn đem binh lên giữ biên cương phía bắc. Cả nước được lệnh
sẵn sàng chống giặc. Tháng 1 năm 1258, quân địch theo lưu vực sông Hồng
tiến đến Vĩnh phú. Quân thủy bộ do vua Trần Thái Tông trực tiếp chỉ huy,
sau nhiều trận chiến ác liệt phải rút về Thăng long. Địch tiếp tục tiến
công ào ạt, triều đình bỏ kinh thành Thăng long rút về vùng Hải hưng.
Trước tình thế nguy ngập, vua Trần Thái Tông hỏi thái sư Trần Thủ Độ,
được ông Độ đáp: «Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo». Nghe
lời đanh thép ấy, nhà vua cảm thấy an tâm.
Ngày 29-1-1258, quân ta ngược dòng sông Hồng, mở cuộc tiến công quyết
liệt, quân địch bị đánh bật khỏi kinh thành, theo dòng sông Hồng tháo
chạy về Vân nam. Âm mưu xâm lược Đại Việt của Mông cổ đã bị thất bại,
cuộc kháng chiến lần thứ nhất, quân dân ta đã dành được thắng lợi.
Sau thời gian hòa hoãn (1258-1284), năm 1282 nhà Nguyên sai Thoát Hoan,
Toa Đô và Ô Mã Nhi dẫn 50 vạn quân, lấy cớ mượn đường đi qua nước ta để
đánh Chiêm thành. Vua Trần Nhân Tông hội bách quan bàn kế chống giữ.
Phần đông đồng ý cho quân Nguyên mượn đường, duy chỉ có Trần Quốc Tuấn
và Trần Khánh Dư không đồng ý và quyết xin đem quân phòng giữ. Nhà vua
chấp thuận, phong cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thống lĩnh mọi quân
đi chống quân Nguyên, đồng thời cho sứ sang Tàu thương lượng xin hoãn
binh.
Việc thương lượng không thành, biết rõ ý đồ xâm lăng của địch, vua Trần
Nhân Tông triệu tập các bô lão dân gian tại điện Diên Hồng để bàn xem
nên hòa hay nên đánh. Các bô lão đều đồng thanh «Xin Đánh». Thấy dân
gian đoàn kết một lòng, vua cũng quyết chí chống giặc cứu nước. Theo
lệnh của Trần Quốc Tuấn: «Tất cả quận huyện trong nước, nếu có giặc đến,
phải liều chết mà đánh, nếu không địch nổi thì cho phép lẫn tránh vào
rừng núi, không được đầu hàng. ..»
Cuối tháng giêng năm 1285, quân Nguyên vượt biên giới với một lực lượng
viễn chinh rất lớn, từ ba mặt đánh vào nước ta. Đạo quân Toa Đô đóng ở
vùng Việt lý, Ô lý (Quảng trị,Thừa thiên) phía bắc Chiêm thành tiến công
lên phía nam nước ta, đạo quân Thoát Hoan từ Quảng tây tiến vào Lạng
sơn, đạo quân Nạp Tốc Lạt Binh từ Vân nam tiến sang nước ta theo lưu vực
sông Chảy. Quân ta tạm thời rút lui. Vua Trần Nhân Tông tỏ ý lo sợ mới
bảo Hưng Đạo Vương rằng: «Thế giặc to như vậy mà chống nó thì dân sự tàn
hại hay là trẫm hãy chịu hàng để cứu muôn dân ». Hưng Đạo Vương tâu
rằng: « Xin bệ hạ hãy chém đầu tôi rồi sau sẽ hàng ». Vua nghe lời trung
liệt như vậy mới an tâm. Trên chiến trường, một số chiến sĩ bị giặc
bắt,trong đó có tướng Trần Bình Trọng bị nộp cho Thoát Hoan. Thoát Hoan
nói rằng: «Nếu đầu hàng, ta sẽ cho ngươi làm vua đất Bắc». Trần Bình
Trọng quát lên: «Ta thà làm quỉ nước Nam chứ không thèm làm vương đất
Bắc. Ta đã bị bắt thì chỉ có chết mà thôi, can gì mà hỏi lôi thôi!».
Thoát Hoan thấy không dụ được, sai quân đem chém.
Quân địch truy kích, triều đình phải rút về Thiên Trường (Nam hà),Trường
yên (Ninh bình). Từ Thăng long, Thoát Hoan đánh xuống Thiên trường, từ
Thanh hóa, Toa Đô đánh thốc lên Trường yên. Quân địch tiến công thế gọng
kềm bao vây quân ta. Trong khi đạo quân Toa Đô vượt qua Thanh hóa tiến
ra Trường yên thí quân của Trần Quốc Tuấn từ Hải phòng quay vào chiếm
Thanh hóa làm căn cứ. Quân Toa Đô vừa đến Trường yên lại phải quay ngược
lại để đánh vào Thanh hóa.
Tháng 5 năm 1285, Trần quốc Tuấn tiến quân ra Bắc, đánh mạnh vào các căn
cứ của địch ở phía nam Thăng long. Hệ thống phòng thủ của địch trên sông
Hồng bị vỡ, quân ta thừa thắng xông lên tiến công dữ dội vào thành Thăng
long. Thoát Hoan rút quân ra khỏi thành Thăng long và trên đường thoát
chạy về nước, bị quân ta truy kích ráo riết, quân Thoát Hoan chạy đến
Vạn kiếp bị quân ta mai phục tiêu diệt vô số quân giặc, Thoát Hoan phải
chui vào ống đồng để quân lính khiêng mới thoát chết và về đến biên giới
Tàu. Còn đạo quân Toa Đô từ Thanh hóa định tiến lên Thăng long, khi đến
Tây kết bị tiêu diệt, Toa Đô bị chém đầu tại trận.
Cuộc kháng chiến lần thứ hai rất gay go và ác liệt, đã quét sạch quân
xâm lược ra khỏi bờ cõi, quân địch thất bại nhục nhã làm Hốt Tất Liệt
mất mặt tức tối và nuôi ý chí phục thù rửa nhục cho nhà Nguyên.
Tháng 12 năm 1287, quân Nguyên từ ba mặt tiến đánh nước ta. Đạo quân
Thoát Hoan tiến vào Lạng sơn, đạo quân Ái Lỗ từ Vân nam tiến theo sông
Hồng, đạo thủy binh của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp vượt biển tiến vào sông
Bạch đằng. Thủy binh địch do Ô mã Nhi và Phàn Tiếp bị thủy binh ta do
tướng Trần Khánh Dư chỉ huy mai phục ở Văn đồn chận đánh tiêu diệt toàn
bộ thuyền tải lương của địch. Tháng 2 năm 1288, quân Nguyên vượt sông
Hồng đánh vào thành Thăng long. Triều đình rút về hạ lưu sông Hồng rồi
phối hợp dân quân khắp nơi tập kích các căn cứ và chận đánh các cuộc
hành quân của địch, làm cho địch ngày đêm lo sợ. Tháng 3 năm 1288, Thoát
Hoan ra lệnh đốt kinh thành Thăng long rồi rút về Vạn kiếp và chia quân
thành hai đạo theo đường thủy bộ rút về nước. Quân ta bám riết quân thù
và chôn vùi đạo thủy quân của Ô mã Nhi tại sông Bạch đằng, Ô mã Nhi và
Phàn Tiếp bị bắt sống. Đạo quân bộ của Thoát Hoan rút qua vùng Lạng sơn
bị quân ta chận đánh liên tục, truy kích, tập kích liên tiếp, Thoát Hoan
phải mở đường máu chạy thoát về nước.
Trong vòng 30 năm (1258-1288) dân tộc ta đã chiến đấu anh dũng kiên
cường chiến thắng quân xâm lược Mông cổ, một đế quốc đã từng chiến thắng
khắp vùng Âu-Á, nhưng đã bị thảm bại trước sức phản công đầy mưu lược và
anh dũng của quân dân ta với những chiến công oanh liệt làm cho kẻ thù
không dám tái xâm phạm nước ta.
Hai vua cuối đời Trần, Dụ Tông thì ham chơi, Nghệ Tông thì không biết
phân biệt hiền, gian nên bị Lê quý Ly mưu sự thoán đoạt rồi lập ra nhà
Hồ (Hồ quý Ly). Tại Trung quốc, năm 1368, triều Nguyên bị đánh đổ; triều
Minh, một triều đại của dân tộc Hán, được thiết lập với tham vọng «thu
phục cả thiên hạ» dưới quyền nhà Minh.
Ngày 19-11-1406, quân Minh vượt biên giới vào nước ta với một lực lượng
215.000 lính bộ binh, chưa kể hàng vạn phu phục dịch. Ngày 22-01-1407,
quân Minh tràn xuống chiếm kinh thành Thăng long. Quân nhà Hồ phản công
thất bại rồi rút xuống mạn hạ lưu sông Hồng, quân địch truy kích tiếp,
quân Hồ rút vào Thanh hóa và đến tháng 6 năm 1407 thì Hồ quý Ly bị giặc
bắt. Nguyễn Trải, từng làm quan với nhà Hồ, đã phê phán chính sách của
vương triều nầy như sau: « Họ Hồ. .. lấy gian trí để hiếp dân chúng…
kẻ thân yêu được tôn hiển, người xu nịnh được tin dùng…người trung
trực phải khóa miệng, kẻ lương thiện đều ngậm oan »
Sau khi đánh bại triều Hồ, quân Minh xóa bỏ nền độc lập của dân tộc ta.
Tháng 4 năm 1407, nhà Minh đổi nước ta thành quận Giao chỉ và bổ nhiệm
các quan lại người Tàu sang cai trị nước ta từ cấp quận đến các phủ,
châu, huyện. Vùng địch chiếm đóng thì nhân dân ngấm ngầm chống lại chính
quyền đô hộ và chính sách bóc lột. Thỉnh thoảng có các cuộc bạo động lẻ
tẻ xuất hiện.
Đến năm 1416, tại núi Lam sơn tỉnh Thanh hóa, Lê Lợi cùng 18 bạn chiến
đấu tuyên thệ tại Lam sơn, thề sống chết vì sự nghiệp đuổi giặc cứu
nước. Các anh hùng hào kiệt và những người yêu nước ở Thanh hóa và khắp
nơi lần lượt về Lam sơn để tụ nghĩa. Nguyễn Trải bị quân Minh giam lỏng
ở Đông quan cũng tìm cách về Lam sơn để cùng với Lê Lợi tổ chức cuộc
khởi nghĩa.
Ngày 7-2-1418 (mồng 2 Tết Mậu Tuất), trong bầu khí Tết Nguyên đán, Lê
Lợi và nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa ở Lam sơn. Lê Lợi tự xưng là Bình
Định Vương, truyền hịch kêu gọi toàn dân nhất tề vùng lên đuổi giặc cứu
nước, dùng vùng núi Lam sơn làm căn cứ địa.
Nhà Minh huy động 10 vạn quân bao vây núi Chí linh (Thanh hóa) và Khôi
nguyên (Ninh bình). Nghĩa quân cạn lương thực, Lê Lai xin cải trang làm
Lê Lợi, dẫn 500 quân ra đánh, làm lạc hướng quân địch để Lê Lợi trốn
thoát. Sau đó Lê Lợi và nghĩa quân bỏ Thanh hóa và Ninh bình tiến vào
giải phóng Nghệ an.
Tháng 6 năm 1425, nghĩa quân giải phóng phủ Diễn châu (bắc Nghệ an) rồi
tiến công ra Thanh hóa, quân địch phải rút vào thành Tây đô cố thủ, bị
nghĩa quân bao vây. Tháng 8 năm 1425, một bộ phận nghĩa quân giải phóng
vùng Quảng bình, Quảng trị vá bắc Thừa thiên. Từ đây binh thế của Bình
Định Vương Lê Lợi ngày càng mạnh.
Tháng 10 năm 1427, viện binh địch chia làm hai đạo tiến sang nước ta,
Liễu Thăng dẫn 10 vạn quân từ Quảng tây sang, Mộc Thạch 5 vạn từ Vân nam
vào. Ngày 10 tháng 10, đội quân tiên phong của địch lọt vào trận địa bị
quân ta tiêu diệt gọn, Liễu Thăng bị chém tại trận, phó tướng Lương Minh
lên nắm quyền chỉ huy cũng bị giết với hàng vạn quân địch. Nghe tin Liễu
Thăng chết, đạo quân Mộc Thạch đang cầm cự ở vùng biên giới cũng tháo
chạy.Tướng quân Vương Thông của nhà Minh thấy viện binh bị diệt, trong
hoàn cảnh tuyệt vọng, phải điều đình để rút quân về nước. Lê Lợi và
Nguyễn Trải thuận cho địch rút về nước an toàn và cấp cho quân địch
lương thực, hàng trăm thuyền và ngựa để đi đường. Ngày 3-1-1428, tên
địch cuối cùng ra khỏi bờ cõi nước ta.
Bình Định Vương Lê Lợi dẹp xong giặc Minh, sai ông Nguyễn Trải làm tờ bá
cáo cho thiên hạ biết, gọi là « Bình Ngô Đại Cáo », được xem như bản
Tuyên Ngôn Độc Lập lần thứ hai của dân tộc ta.
Bình Ngô Đại Cáo (Trích đoạn mở đầu)
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Cõi bờ sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc – Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Mà hào kiệt không bao giờ thiếu.
. ……………………………………….
Quân xâm lược Mãn Thanh (1788-1789)
Lê Mẫn Đế, hiệu Chiêu Thống bị quân Tây sơn đánh thua đã cùng bà Hoàng
thái hậu chạy sang Tàu cầu cứu. Nước Tàu lúc nầy triều Minh đã sụp đổ,
triều Thanh đang thống trị Trung quốc. Với danh nghĩa cứu vua Lê, nhà
Thanh, dưới triều vua Càn Long, sai Tôn sĩ Nghị dẫn 20 vạn quân tiến vào
nước ta vào tháng 11 năm 1788. Quân Thanh chia làm 4 đạo: đạo quân Tôn
sĩ Nghị qua Lạng sơn tiến xuống Thăng long (Hà nội); đạo quân Sầm nghi
Đống từ Cao bằng tiến xuống; đạo quân Ô đại Kinh qua Tuyên quang; đạo
quân thứ tư theo đường Quảng ninh tiến vào. Quân Tây sơn từ Thăng long
rút về Thanh hóa và Ninh bình. Ngày 17 tháng 12, quân Thanh tiến đến Bắc
ninh, vua Lê Chiêu Thống ra chào mừng rồi đem quân Tàu về Thăng long.
Tôn sĩ Nghị ngạo nghễ tự đắc, xử sự với vua rất khinh bạc, đôi khi ông
ta không cho vua vào « yết kiến ». Thời bấy giờ bàn tán rằng: « Nước Nam
ta từ khi có đế vương tới bây giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế…,
việc gì cũng bẩm lên quan tổng đốc (TSNghị), thế thì có khác gì đã bị
nội thuộc rồi không ? ».
Trong lúc quân Thanh tự đắc tự mãn với những thắng lợi, thì tại Phú xuân
(Huế), ngày 21 tháng 12 năm 1788, Nguyễn Huệ nhận được tin báo khẩn cấp.
Ngày hôm sau Nguyễn Huệ làm lễ lên ngôi hoàng đế, hiệu Quang Trung, rồi
lập tức thống lĩnh đại quân tiến ra Bắc. Quân Tây sơn dừng lại ở Nghệ an
10 ngày để bổ sung lực lượng, quân số được tăng lên 10 vạn. Quang Trung
tổ chức một cuộc duyệt binh lớn và đọc lời hiệu triệu quân sĩ:
« Quân Thanh sang xâm lăng nước ta, hiện ở Thăng long, các người đã biết
chưa? Trong khoảng vũ trụ, trời nào sao nấy, đều đã phân biệt rõ ràng,
phương Nam phương Bắc chia nhau mà cai trị…Từ đời Hán đến nay, chúng
đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người
mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng nữ
vương, đời Tống có Đinh Tiên hoàng, Lê Đại hành, đời Nguyên có Trần Hưng
đạo, đời Minh có Lê Thái tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều
tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa binh, đều chỉ đánh một trận
là thắng và đuổi chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc Nam riêng phận,
bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Minh đến đây,
dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi hại,
được mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay
người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không
biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo
quân ra đánh đuổi chúng… »
Trước khi xuất phát, Quang Trung mở tiệc khao quân và tuyên bố: « Nay ta
hãy ăn Tết Nguyên đán trước, đợi đến sang xuân, ngày 7 vào thành Thăng
long sẽ mở tiệc lớn… ».
Đêm 25-1-1789 (tức đêm 30 tết) đạo quân chủ lực của Nguyễn Huệ vượt sông
Đáy, vây đồn Hà hồi, mở đầu cuộc tiến công đại phá quân Thanh. Sáng ngày
30-1, tức mồng 5 Tết, quân ta bước vào trận quyết chiến với địch, đồn
Ngọc hồi bị san bằng, tiêu diệt toàn bộ quân Thanh ở đó. Cùng thời điểm
nầy, quân ta tiêu diệt đồn Khương Thương (Đống đa, Hà nội), Sầm nghi
Đống khiếp sợ, thắt cổ tự tử. Tôn sĩ Nghị không kịp mặc áo giáp và đóng
yên ngựa, bỏ cả ấn tín, vội vàng cùng toán hầu cận vượt cầu phao tháo
chạy. Vua Chiêu Thống và bà Hoàng thái hậu cũng chạy theo. Khi đã qua
cầu, Tôn sĩ Nghị ra lệnh cắt cầu phao để cản đường truy kích của quân
Tây sơn, do hành động tàn nhẫn nầy, hàng vạn quân Thanh bỏ xác dưới sông
Hồng.
Chiến công rực rỡ Xuân Kỷ Dậu 1789, quét sạch 20 vạn quân Thanh, giải
phóng kinh đô Thăng long, giữ vững nền độc lập của nước nhà, Quang Trung
Nguyễn Huệ đã trở thành anh hùng vĩ đại của dân tộc ta.
*****
Trung hoa là một quốc gia rộng lớn, đông dân, từ xưa đã đô hộ nước ta.
Khi dân tộc ta tranh thủ được độc lập thì người Tàu lại mang mộng bá
chủ, ý tưởng bành trướng lãnh thổ, uy hiếp nước yếu. Nước ta tuy đã độc
lập nhưng các triều đại muốn cầu hòa, nể nang nước lớn, nên hể ông nào
lên làm vua cũng sai sứ sang Tàu xin cầu phong và giữ lệ triều cống mỗi
ba năm.
Nhưng đến năm 1840, tình thế nước Tàu suy sụp. Việc cấm thuốc phiện ở
Quảng đông (Trung hoa) dẫn đến chiến tranh với Anh, nhường Hương cảng
cho nước nầy. Sau đó quân Anh, Pháp đánh chiếm hải khẩu rồi kéo lên đánh
Bắc kinh. Trong các cuộc chiến tranh Trung-Pháp, chiến tranh Trung-Nhật
và chiến tranh liên quân 8 nước xâm lược Trung hoa, Từ Hy Thái Hậu đã ký
kết hàng loạt điều ước mất quyền nhục nước, nhượng nhiều đất đai vào tay
ngoại bang. Năm 1911, cách mạng Tân Hợi lật đổ vương triều Thanh, chấm
dứt chế độ phong kiến quân chủ hàng ngàn năm cai trị Trung hoa.
Tuy vậy Trung hoa không từ bỏ chủ trương bành trướng mỗi khi đất nước họ
phục hồi sức mạnh. Nạn nhân mãn ở Trung quốc với trên một tỉ ba trăm
triệu người phát triển nhanh hơn các thức nuôi sống dân họ, đã thúc đẩy
họ tìm đất sống bằng cách bành trướng xâm lấn đất đai các nước láng
giềng. Họ không thể bành trướng lên phía bắc bởi bị Liên bang Nga lớn
mạnh; phía tây gặp Ấn độ, một nước cũng đất rộng người đông và có vũ khí
nguyên tử; phía đông gặp hai nước Nam Bắc Triều tiên, xưa kia là An Đông
Đô Hộ Phủ của nhà Đường, nhưng nay đã có quân đội Hoa kỳ án ngữ và Nhật
bản hổ trợ; chỉ còn Việt nam ở phía nam, đã từng bị thống trị dưới các
triều Hán, Tống, Nguyên, Minh… Chính sách bành trướng xuống phía nam
tạm ngưng một thời gian khi Trung hoa lâm cảnh suy yếu, nay họ là cường
quốc kinh tế, có vũ khí hạt nhân và đang hiện đại hóa quân đội, chính
sách bành trướng được tái thể hiện khởi đầu với vụ hải chiến năm 1974
giữa Hải quân Việt nam Cộng hòa giữ đảo Trường sa Hoàng sa và Hải quân
Trung cộng chiếm đảo. Thời gian gần đây, báo đảng Cộng sản Trung quốc
đòi giải quyết vấn đề biển Đông bằng vũ lực.
Trung quốc là một nước lớn mạnh, tham lam và có nhiều mưu lược, quỉ kế.
Từ xưa họ đã có tam thập lục kế hay thất thập nhị kế, ngày nay họ có
hàng trăm kế sách xảo quyệt, nham hiểm, thâm độc, gián điệp của họ đang
trở nên ráo riết và tinh vi hơn, cái vòi bạch tuộc của họ đang vươn dài
ra thế giới. Trong ý đồ xâm lược nước ta, cách thức lấn đất, giành biển,
chiếm đảo, xâm nhập vào guồng máy quản lý và nền kinh tế nước ta hàm ẩn
nhiều thủ đoạn, phương pháp, mánh khóe lừa lọc. Đối với Trung quốc, nhà
cầm quyền Việt Nam cần cảnh giác cao độ về vấn đề an ninh, nền độc lập
và sự toàn vẹn lãnh thổ của nước nhà.
(Phô tô toàn văn bài viết của tác giả Dương Bình bên trên dùng để giải mã tiêu đề : “Quá trình Phương Bắc xâm lược nước ta,để giúp cho người Việt mình nhìn thấu về cái âm mưu của những người du mục Hoa Hạ”.
Đất nước đang trong tình trạng rất bi đát,biển,đảo kể cả đất liền vùng biên giới Hoa Việt giữa hai nước,cũng bị người phương Bắc dùng kế sách “tằm ăn dâu” mà lấn chiếm, việc đó tất cả mọi người dân Việt Nam đều nhìn thấy.
Cái buồn của dân tộc ta là ngay từ đầu, người tự nhận lãnh là vai trò lãnh đạo tối cao của đất nước,cũng như những người đồng đảng về sau,cũng tự nhận trách nhiệm là cai quản đất nước.Nhưng tất cả bọn họ đều không học thuộc được “bài học lịch sử” về nạn xâm lăng của người phương Bắc,nạn ấy đã có ngay từ thời mà người Lạc Việt mới lập quốc cho đến nay.
Không phải một vài người,hay một vài nhóm người, mà hầu như hầu hết người Việt hiện tại đều nhìn thấy thật rõ, nên hầu như tất cả đều rất buồn!! Hiện tại thì họ mới chỉ biết buồn thôi!! Chỉ vì cửa nhà tù đang mở rộng quá!!
Copy bài viết nầy vì tác giả viết rất công phu, rất đúng,nội dung bài viết đã đã vạch trần được cái manh tâm của người bắc Phương về âm mưu luôn muốn thôn tính các nước láng giềng,nhất là nước ta: Việt Nam bằng dưới nhiều hình thức. Âm mưu ấy có thể phải kể từ trận chiến Trác Lộc (2879 tr CN) giữa Hoàng Đế là thủ lãnh người Hoa Hạ với Xi Vưu thủ lãnh các bộ tộc thuộc Viêm Đế Thần nông cho đến nay, qua nhiều giai đoạn,dưới nhiều hình thức.
Và cũng mượn bài viết về phần nầy của tác giả Dương Bình để kết phần bài viết về tiểu để “ Tìm hiểu ý nghĩa về môn học lịch sử” nêu trên.
Viết xong ,ngày 19 tháng 7 năm 2025
Phan công Thạnh.